Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

90 NĂM TIN LÀNH ÐẾN VIỆT NAM

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Lời Tòa Soạn:

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm Tin Lành Ðến Việt Nam, Thông Công xin trích đăng một tài liệu tóm lược lịch sử giáo hội theo từng thời kỳ giúp độc giả có cái nhìn khái lược về việc hình thành, phát triển Hội Thánh Tin Lành Việt Nam tại quê nhà.

 

Những Bước Ðầu Tiên

Năm 1884, Hội Truyền Giáo Tin Lành Pháp gửi một mục sư đầu tiên đến Hải Phòng nhưng chỉ để lo cho người Pháp.  Lúc đó tuy cũng có sự đóng góp của Thánh Kinh Hội, nhưng còn rất giới hạn.

Sau những cuộc phục hưng lớn giữa vòng các Hội Thánh Âu Châu,  phong trào truyền giáo dâng cao, nhiều Hội Truyền Giáo được thành lập, trong đó có Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Liên Minh Tín Hữu và Giáo Sĩ – The Christian and Missionary Alliance) do Mục sư A.B. Simpson  thành lập tại Bắc Mỹ.

-  Năm 1887: Tiến sĩ A.B. Simpson bắt đầu lưu tâm và kêu gọi truyền bá Tin lành cho Việt Nam, bảo rằng “bán đảo Ðông Nam Á đã bị lãng quên” và “vương quốc An-nam rộng lớn cùng nước Tây Tạng phải đuợc coi là cánh đồng truyền giáo tương lai của Hội Liên Hiệp”

-  Năm 1893: Tiến sĩ Simpson cử Mục sư David Lelacheur lúc đó là chủ nhiệm đặc trách truyền giáo Á Châu đến Sài-gòn

-  Năm 1897:  Mục sư C.H. Reeves từ bản doanh truyền giáo mới thành lập ở Quảng tây, Trung Hoa, vượt biên giới qua Lạng sơn

-  Năm 1899: Giáo sĩ R.A. Jaffray thuôc khu Truyền Giáo Nam Trung Hoa xuôi sông Hồng đến Hà-nội nhưng chưa thiếp lập được một cơ sở nào.

-  Năm 1902: Mục sư Sylvian Dayan đến Hải Phòng nhưng cũng không thành công

-  Năm 1911 Các giáo sĩ R.A. Jaffray, P.M. Horler và Hughes đến Ðà Nẵng mua đất lập trụ sở truyền giáo

 

Giai Ðoạn 1911-1918

Sau một thơì gian học tiếng, các giáo sĩ đã có thể giảng Tin lành bằng tiếng Việt, nhưng hoạt động của họ gặp nhiều khó khăn vì bị người Pháp nghi ngờ, do đó một số giáo sĩ đã bị trục xuất.  Tuy nhiên quyền năng của Tin lành đã khiến đức tin của những tín hữu đầu tiên tăng trưởng mạnh mẽ, có ảnh hưởng đến nhiều thành phần dân chúng và một số các hội thánh địa phương lần hồi được thành lập.

-     Năm 1915: Các chi hội sau đây lần lượt được thành lập: Ðà Nẵng, Hội An, Ðại An, Trường An, Quế Sơn, Cẩm Long, Nam Ô, Vinh, Nha Trang, Ninh Hoà, Qui Nhơn, Quảng Ngãi…

-     Năm 1916: Tin Lành đến Hải Phòng.  Sau đó các chi hội ở Hà Ðông, Thái Bình, Ninh Bình, Sơn tây, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Nam Ðịnh, Lạng Sơn, Hoà Bình, Hưng Yên… được thành lập.

-    Năm 1918: Tin Lành truyền đến Sàigòn và các chi hội sau đây được thành lập: Mỹ Tho, Bến Tre, Mỏ Cầy, Sóc Sải, Tân Thạch, Sa Ðéc, Cần Thơ, Châu Ðốc, Long Xuyên, Rạch giá, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Thủ Dầu Một, Biên Hòa

 

Giai Ðoạn 1918-1927

Giai đoạn khởi sự đào tạo các Mục Sư, Truyền đạo Việt Nam:

-     Năm 1919: Lớp học Kinh Thánh đầu tiên dạy tại nhà để xe ngựa, và ít lâu sau đó cất được ngôi nhà thờ bằng tranh đầu tiên tại Ðà Nẵng

-     Năm 1921 Trường Kinh Thánh Ðà Nẵng được thành lập.

-     Năm 1926: Kinh Thánh toàn bộ được xuất bản tại Hà Nội.

-     Năm 1927: Hội Thánh có 4326 tín hữu với 74 chi hội

 

Giai Ðoạn 1927-1942

Từ đây Hội Thánh được tự lập và độc lập về hành chánh

-     Năm 1924-1926 Hội Ðồng Tổng Liên Hội lần I, II, III được tổ chức tại Ðà Nẵng đều là những Hội Ðồng Bồi Linh.

-     Năm 1927: Hội Ðồng hành chánh đầu tiên (lần IV) họp tại Ðà nẵng cử Ban Trị Sự Tổng Liên Hội khóa đầu tiên.

-     Năm 1928: Bản Ðiều Lệ Hội Tin lành (gồm 3 thứ tiếng Việt, Pháp, Hoa) được phổ biến và áp dụng. Cũng trong năm này, hình thành tổ chức địa hạt, gồm Trung Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

-     Năm 1930: Nhà in Tin Lành được thành lập tại hà Nội. Năm 1943 thiên di lên Ðà lạt và năm 1950 dời vào Sàigòn.

-     Năm 1931: Hạt Trung Bắc Kỳ được chia làm hai: Bắc hạt và Trung hạt

-     Năm 1932:  Khởi sự công cuộc truyền giáo cho đồng bào sắc tộc ờ miền cao

-     Năm 1939: Ðiều lệ của Hội Thánh được Toàn Quyền Ðông Dương công nhận

-  Năm 1942: Hội Ðồng Quản Trị Tài sản của Hội Thánh được công nhận

Giai Ðoạn 1942-1954

-  Trong suốt hai cuộc chiến tranh Ðông Dương và chiến tranh Việt Pháp, Hội thánh trải qua nhiều khó khăn chung cũng như riêng:

-  Giao thông bế tắc, miền Bắc bị đói kém, các giáo sĩ bị giam cầm, tín hữu tản lạc, nhà thờ bị đóng cửa.  Thêm vào đó tà thuyết “Chúa tái lâm” nổi lên làm xiêu đổ đức tin nhiều người, nền tự trị tự lập của Hội Thánh bị ảnh hưởng nghiêm trọng.  Tuy nhiên hầu hết các Mục sư, Truyền đạo vẫn trung kiên trong thánh chức, tự túc hầu việc Chúa, và các tín hữu vẫn giữ vững đức tin.

-  Năm 1948-1954: Dù còn ảnh hưởng chiến tranh, số tín hữu vẫn gia tăng, một số nhà thờ được tái thiết.

-  Quyển Thánh Ca có lời nhuận chánh được xuất bản

-  Năm 1952: Hội Ðồng Tổng Liên Hội lần thứ 22 họp tại Chợ Lớn biều quyết thành lập Cô Nhi Viện Tin lành.  Ngoài Cô Nhi Viện Tin lành Nha Trang sau này Hội thánh còn mở tại Mỹ Tho, Bến Cát, Phú Phong, Bến Gỗ.

 

Giai Ðoạn 1954-1975

-  Năm 1954:  Hiệp Ðịnh Genève chia đôi đất nước nên Hội Thánh cũng chia thành Tổng Hội miền Bắc và Tổng Hội miền Nam.  Trước năm 1954, Hội Thánh chung có 3 Hạt: Bắc hạt, Trung Hạt và nam Hạt.

-  Từ năm 1960: Hội Thánh có thêm Thượng Hạt.

-  Năm 1960: Trường Kinh Thánh dời vào Nha Trang, trở thành Thánh Kinh Thần Học Viện.

-  Năm 1961: Các Chẩn Y Viện được thành lập.  Ngoài Chẩn Y Viện Nha Trang, Hội Thánh thành lập Chẩn Y Viện Buôn Mê Thuột (1961), Chẩn Y Viện Plei-ku (1969).

-  Năm 1961:  Lễ Kỷ Niệm 50 năm Tin Lành đến Việt Nam.

-  Năm 1962:  Trung Hạt chia thành hai:  Bắc Trung Hạt và Nam Trung Hạt.  Mở đầu công cuộc truyền giáo qua Ai-lao.

-  Năm 1966:  Ðại chiến dịch Truyền Giảng Tin Lành tại Vận Ðộng Trường Cộng Hòa ở Sài gòn.  Từ đây, các phương tiện truyền giảng khác nhau được áp dụng như Chương Trình Phát Thanh, xe Lưu Hành, Cứu Tế Xã Hội v.v...

-  Năm 1967:  Chương Trình Truyền Ðạo Sâu Rộng được phát động với mục tiêu: “Tất cả cho người chưa được cứu.”

-  Năm 1969:  Nam Hạt chia thành hai Hạt: Ðông Nam Hạt và Tây Nam Hạt.  Cũng trong năm 1969, Thượng Hạt chia hai:  Nam Thượng Hạt và Trung Thượng Hạt.

-  Năm 1969:  Trung Tâm Truyền Ðạo Thiếu Nhi được xây dựng tại Nha Trang.

-  Năm 1970:  Kiến thiết Văn Phòng Tổng Liên Hội số 155 Trần Hưng Ðạo, Sài gòn và thành lập Nhà In Tin Lành ở Sàigon.

-  Năm 1971:  Lễ Kỷ Niệm 60 năm Tin Lành đến Việt Nam.

-  Năm 1975:  Ðất nước thống nhất, Hội Thánh bước sang giai đoạn mới.

 

Giai Ðoạn 1975-2001

-  Từ sau 1975:  Hội Thánh chung hướng về việc truyền giảng trong các chương trình nhóm tại nhà thờ.  Số người tin Chúa gia tăng.

-  Năm1976:  Hội Ðồng Tổng Liên Hội lần thứ 42 được tổ chức tại Tp. Hồ Chí Minh.  Cụ Mục Sư Ông Văn Huyên đắc cử Hội Trưởng.

-  Từ thập niên 1980 trở đi:  Hội Thánh phát triển mạnh, tinh thần học lời Chúa nơi các tín hữu được củng cố vững mạnh hơn.

-  Thập niên 1990:  Nhiều nhà thờ được trùng tu xây mới.

-  Năm 1992-1994:  Chương trình xuất bản Kinh Thánh Việt Nam được chính quyền cho phép nhập 33.000 Kinh Thánh và 20.000 Thánh Ca.

-  Năm 1994-2000:  Chính quyền cho phép in 85.000 Kinh Thánh Tân Cựu, 65.000 Tân Ước, 25.000 Thánh Ca, 80.000 sách Tin Lành và 120.000 chuyện tích Kinh Thánh...

-  Năm 2000:  Ban Vận Ðộng và Ban Soạn Thảo Hiến Chương được thành lập để chuẩn bị cho Hội Thánh những bước tiến mới.

-  Ngày 7-9/2/2001:  Ðại Hội Ðồng Tổng Liên Hội lần thứ I (lần 43 theo lịch sử Giáo Hội) được tổ chức tại Thánh đường 155 Trần Hưng Ðạo, Quận I, TP Hồ Chí Minh.  Hiến Chương được thông qua và tân Ban Trị Sự Tổng Liên được bầu chọn cho nhiệm kỳ 2001-2004.  Ngày 16/3/2000:  Theo Quyết định số 15-QÐ/TGCP của Ban Tôn Giáo Chính Phủ, đã quyết định công nhận Tư Cách Pháp Nhân của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) được hoạt động theo HiếnChương đã được thông qua tại Ðại Hội Ðồng Tổng Liên Hội lần I/2000 (lần 43 theo lịch sử Giáo Hội), đã chấp thuận nhân sự Ban Trị Sự Tổng Liên Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), gồm 23 vị được đắc cử tại Ðại Hội Ðồng.

 

Trích từ “Kỷ Niệm 90 năm Tin Lành đến Việt Nam”

(của TLH/HTTLMNVN)