Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Lời Chúa Cho Quê Hương

 

 

   

 

     

 

 

 

“Kẻ nào gieo giống mà giọt lệ, sẽ gặt hái cách vui mừng.” Thi thiên 126:5

 

Lời Tòa Soạn -

Thông Công hân hạnh giới thiệu phần cuối tập Hồi Ký “Lời Chúa Cho Quê Hương” của ông Nguyễn Gia Tản.  Tập Hồi ký này giúp quý độc giả biết một phần hoạt động của Thánh Kinh Hội, đã được Ðức Chúa Trời sử dụng trong một giai đoạn đặc biệt của Hội Thánh trên quê hương chúng ta. Vì khuôn khổ tờ báo, chúng tôi đã đăng tập Hồi Ký này trong ba kỳ, từ Thông Công 157.

... 

6.  Sài Gòn và Buổi Ðoàn Tụ Với Gia Ðình

Máy bay chúng tôi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào trưa thứ Hai, 20 tháng 4. Sau gần 20 năm xa cách, tôi thấy phi trường không có gì thay đổi. Tôi vẫn nhận ra những hình ảnh cũ của trạm đi, trạm đến. Vẫn ống gió đứng chơ vơ. Vẫn trạm kiểm soát không lưu cũ kỹ. Vẫn phi đạo quen thuộc ngày nào. Vẫn những ụ an toàn của máy bay quân sự nằm rải rác quanh phi đạo. Tất cả đều còn đó như những người bạn thâm niên đang chờ đón chúng tôi về...

Chiều đó chúng tôi đã gặp lại phụ thân tôi tại Gò Vấp. Ðường về xóm cũ không có gì thay đổi. Cũng vẫn ngõ hẻm nghèo nàn với những hàng quán èo uột hai bên. Cũng vẫn vài ba ngôi chùa nhỏ quen thuộc.  Vẫn hàng tre xanh nghiêng bóng mặt trời.  Vẫn điệu hát vọng cổ quen thuộc pha lẫn với tân nhạc thi nhau từ các máy hát tư nhân phát ra.  Vẫn ngôi nhà bị trúng hỏa tiễn vào dịp Tết Mậu Thân chơ vơ đầu ngõ.

Nhìn lại cảnh tượng giống hệt ngày nào, tôi thầm nghĩ tới tâm trạng của Kim Trọng trong câu “Ði về này những lối này năm xưa” (Kiều).  Hàng xóm có người nhận ra chúng tôi chạy ra xúm lại chào hỏi.  Những người khác tò mò ra xem mặt “Việt kiều.”  Họ coi chúng tôi như những người khách lạ từ phương xa mới tới.  Chúng tôi vừa mừng, vừa buồn, vừa cảm động, chỉ biết tươi cười thân mật với tất cả mọi người. 

Cuối cùng thì chúng tôi cũng nhận ra ngôi nhà quen thuộc. Phụ thân tôi vẫn sống đạm bạc trong căn nhà cũ kỹ đó. Mười bẩy năm trôi qua mà căn nhà và những dụng cụ phía trong vẫn còn nguyên. Tôi vẫn thấy được hàng trăm thứ đồ gia dụng chúng tôi đã mua hồi nào.  Cháu Joseph lần đầu được gặp mặt ông nội thật đáng thương.  Những giọt nước mắt của cha tôi nhỏ xuống đầu cháu khi cụ ghì cháu trong đôi bàn tay gân guốc. Tiếc là cháu không nói được tiếng Việt để trò chuyện cùng ông nội.  Cụ lúc đó đã 90 song còn khỏe, lưng còng, người nhỏ nhắn hơn, tóc bạc và răng đã rụng gần hết, nhưng vẩn còn rất tỉnh táo.  Việc đầu tiên là tôi ra thăm mộ mẹ tôi ở vườn sau.  Chúng tôi đã họp nhau cầu nguyện tại đó.  Tôi đã khóc nức nở như một đứa trẻ thơ, vô cùng xúc động khi đứng trước mộ của người mẹ thân yêu, hiền hòa, người đã từng to nhỏ dạy dỗ tôi từ lúc còn thơ cho tới lúc trưởng thành. Nhà tôi cũng khóc không thành tiếng; từng sống với cụ 12 năm từ khi lấy tôi, nhà tôi lúc nào cũng coi cụ như mẹ ruột. Chỉ tiếc rằng vì tình trạng ly tán khiến con cháu không được ở bên mẹ hiền cho đến lúc mãn phần.  Chiều đó phụ thân tôi nhắc lại câu Kinh Thánh tôi gởi tặng cụ khi thân mẫu tôi qua đời.  Cụ dâng lời tạ ơn Chúa vì đã thấy mặt con cháu trước những ngày cụ sửa soạn bước vào hướng hoàng hôn của cuộc đời. Cụ cũng nhắc nhở chúng tôi rằng nhiều khi chúng ta không thể hiểu được ý Chúa vì thái độ bi quan và sự thiếu đức tin của chúng ta.  Trong lúc trò chuyện, cụ đã nhắc nhở tôi về sự thanh sạch và lòng trung tín trong bước đường hầu việc Chúa.  Trước đây và sau này tôi đã nghe không biết bao nhiêu lần những lời nhắc nhở đó.  Tạ ơn Chúa là tôi đã nghe và làm theo tất cả những điều cụ dạy.

Phải nói rằng phụ thân tôi sẽ là một người rất nguy hiểm cho xã hội nếu cụ không được ơn Chúa gọi. Cụ đã trải qua tất cả những gì gọi là tứ đổ tường. Cụ biết chánh trị, ngoại giao và chiến thuật.  Lúc còn trẻ, cụ làm Ðốc Công cho Air France.  Sau đó, cụ đứng lên cầm vũ khí chỉ huy quân đội chống lại người Pháp. Cụ đã từng đi ăn cướp nơi những người giầu có, thân Pháp để gây quỹ mua khí giới. Sau cùng, cụ đã đầu phục Chúa khi được cụ Nguyễn Văn Tường, tức là nhạc phụ tôi sau này, kiên nhẫn làm chứng về Chúa cho cụ trong suốt 10 năm liên tục.  Tạ ơn Chúa, cụ đã hoàn toàn được đổi mới. Cụ mua đất trên Xuân Bách, làm nghề cầy ruộng và quên đi quá khứ. Khi hồi cư về Hà Nội, cụ ham muốn đi rao Lời Chúa và được Mục Sư Trần Văn Ðệ giới thiệu làm việc với Thánh Kinh Hội từ năm 1953 tới khi về hưu năm 1963.  Tôi không thể nào quên được những ngày tháng cụ can đảm đi từng chợ, từng làng, từng khu vực và có khi từng nhà để giới thiệu Lời Chúa. Cụ nói lớn tiếng cho mọi người nghe.  Có khi cụ bị bắt bớ; có khi gặp lúc hiểm nguy nhưng không hề sợ hãi hoặc nản lòng.  Tôi cũng không thể nào quên được hình ảnh của cụ trên chiếc Mobilette, là phương tiện di chuyển, đã đưa cụ đi không biết bao nơi từ Trung tới Nam, ngủ đường, ngủ chợ để phố biến Lời Chúa. Có lần cụ đã bị té rất nặng nhưng những cơn đau đớn không cản được bước cụ.  Cụ cũng chính là động lực đã thúc đẩy tôi hầu việc Chúa với Thánh Kinh Hội sau ngày cụ về hưu. Ý nguyện của cụ là có người nối gót cụ trong cơ quan này. Cám ơn Chúa, tôi đã đi theo bước chân của cụ.... Tôi rất ngợi khen Chúa vì đã được gặp cụ nhiều lần trước ngày cụ nhắm mắt. Chắc chắn cụ đã thỏa lòng về nước Chúa và không có gì luyến tiếc ở đời này.

 

7.  Cuộc Họp Sống Ðộng với Mục Sư Ðoàn Văn Miêng

Sáng thứ Ba 21/4 chúng tôi được cụ Mục Sư Phó Hội Trưởng Ðoàn Văn Miêng đón tiếp tại tư gia. Cụ lúc đó đã 80 nhưng còn rất tỉnh táo. Cụ nhận ra tôi ngay từ giây phút đầu, cũng nhận ra David là người đã đến gặp cụ từ năm 1989. Vì cụ hơi nặng tai nên chúng tôi phải nói lớn tiếng, có khi cụ bà phải làm nhiệm vụ “thông dịch” - kề sát tai cụ lập lại những điều chúng tôi nói.  Cụ đã thay mặt Hội Thánh Tin Lành Việt Nam chuyển lời cám ơn đến Liên Hiệp Thánh Kinh Hội.  Cụ rất quan tâm đến tình trạng thiếu hụt Kinh Thánh hiện tại, đặc biệt là đối với các tín hữu vùng ngoại thành. Cụ cũng cho chúng tôi biết là các cựu chiến binh Mỹ trong hiệp hội “Vets with A Mission” có gởi tới Sài Gòn 5,000 cuốn Kinh Thánh, nhưng chỉ được phổ biến trong phạm vi Sài Gòn. Chúng tôi được biết thêm là các cựu chiến binh Mỹ mua số Kinh Thánh này của Thánh Kinh Hội và gởi về Sài Gòn. Mục Sư Trần Bá Thành đã mất rất nhiều công làm thủ tục thông quan. Ðược ít lâu chính quyền cho chở số Kinh Thánh này về niêm phong tại Hội Thánh Sài Gòn chờ quyết định.  Những lần về thăm nhà sau này tôi đã không cầm được nước mắt khi thấy Kinh Thánh bị để trong kho, khi hàng ngàn con cái Chúa đang khao khát Lời Ngài...

Trong phần thảo luận sau đó, Cụ Phó Hội Trưởng đã đặt vào lòng tôi khải tượng in ấn Kinh Thánh tại Việt Nam để tạo thêm việc làm cho nhân công trong nước và tránh khỏi thủ tục nhập cảng phức tạp.  Tôi rất cám ơn Chúa và cám ơn cụ. Cụ là người đầu tiên đã gieo ý niệm này trong lòng tôi. Tôi cũng có thể nói được rằng việc in ấn Kinh Thánh sau này được thành công là nhờ những lời dạy dỗ quý báu của cụ trong phiên họp sơ khởi. Những lần thăm nhà kế tiếp, tôi đã đến với cụ thường xuyên.  Cụ thật đã cho tôi những lời khuyên chính đáng. Tuy cụ đã ngủ yên trong Chúa, những buổi tâm sự với cụ còn để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khó quên.  Cụ chính là động lực thúc đẩy tôi tìm hiểu và tiến hành thủ tục in Kinh Thánh tại quê nhà.  Gặp gỡ cụ lần đầu tôi cảm thấy một luồng gió sống động thổi vào đáy lòng tôi.  Chúng tôi cũng thảo luận về phương thức tốt nhất để cung cấp Kinh Thánh cho tín hữu.  Cụ cũng đề cập tới một ủy ban quản trị ngân quỹ cung ứng Thánh Kinh do Thánh Kinh Hội bảo trợ để dùng cho việc in ấn Kinh Thánh tại quê nhà.  Cụ quả là người đầu tiên đã hướng dẫn chúng tôi trong chiều hướng này...

Chuyến đi của chúng tôi chấm dứt ngày 26/4.  David, Ruth và Stephen Thorne trở lại Hong Kong.  Nhà tôi và Joseph ở lại với phụ thân tôi thêm vài ngày.  Còn tôi tiếp tục cuộc hành trình 33 ngày qua Indonesia, Nepal, India và Pakistan.  Tạ ơn Chúa, Ngài đã cùng đi và ban phước nhiều cho chúng tôi.  Chúng tôi chẳng bao giờ dám quên chuyến đi này. Thật Ngài đã làm sự có nên không và sự không nên có trên đời sống chúng tôi.

 

V. Những Lần Nhập Cảng Kinh Thánh Kế Tiếp

Tạ ơn Chúa đã đoái xem tình trạng thiếu hụt Kinh Thánh của Hội Thánh Ngài. Trong những năm kế tiếp Hội Thánh miền Bắc đã được phép nhận thêm 5,000 Kinh Thánh và vì nhu cầu đã tạm đủ, số Kinh Thánh này đã được chuyển vào các tỉnh miền Nam để chia xẻ cho quý anh chị em tín hữu trong khi Mục Sư Quí ở Ðà nẵng cũng xin được giấy phép với số lượng Kinh Thánh tương tự và 5,000 Thánh Ca.  Sau này được tin Mục Sư Nguyễn Văn Phương ở Cần Thơ và Mục Sư Ðinh Thống ở Tuy Hòa cũng được Chính Phủ cho phép nhập Kinh Thánh.  Cầm những lá thư và những tờ giấy phép trong tay, tôi chỉ biết nhỏ lệ tạ ơn quyền năng cao cả của Chúa.

Tôi không thể ngờ được rằng chỉ trong vòng hai năm Chúa đã cho phép Liên Hiệp Thánh Kinh Hội cung ứng 33,000 Kinh Thánh và hiệp tác với Giáo Hạt cung ứng 17,000 Thánh Ca cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam. Thật là một cơn mưa lớn trên mảnh đất khô hạn như điều tôi đã kêu van Chúa. Dẫu Kinh Thánh và Thánh Ca được phép nhập khẩu trong những thời điểm khác nhau, địa điểm khác nhau và số lượng khác nhau, nhưng tất cả đều được phân phối cho Hội Thánh trong cả nước. Tôi đã được tận mắt thấy và nghe niềm vui của tín hữu từ Bắc tới Nam khi Kinh Thánh đến tay họ.

Tại Hải Phòng chúng tôi đã gặp lại cụ bà Nguyễn Thiện Mân, lúc đó đã quá cao tuổi và yếu ớt. Từ ngày cụ ông an nghỉ trong Chúa, cụ đã lãnh trách nhiệm chủ tọa Hội Thánh.  Hai cụ coi vợ chồng tôi như con ruột từ khi còn thơ ấu.  Tôi không thể quên những ngày được gần gũi hai cụ, từ những lúc chạy loạn lên nông trại cho tới những ngày các cụ hầu việc Chúa tại Hội Thánh Bạch Mai vùng ngoại ô Hà Nội.  Sau quá nhiều năm xa cách, chúng tôi đã phải mất khá lâu để giới thiệu cùng cụ, phải kể lại những chuyện cũ có liên hệ đến những người thân cũ. Dần dần cụ nhận ra chúng tôi với những hàng nước mắt cảm động. Chúng tôi cầu nguyện cho cụ trước khi chia tay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trong những chuyến viếng thăm kế tiếp tôi đã đến Cao Lãnh thăm Mục Sư Ngô Văn Bửu, Cần Thơ thăm Mục Sư Nguyễn Văn Phương và ngồi thuyền qua những con rạch vùng Bến Tre dự lễ cưới con trai người bạn cũ là anh Phấn, cánh tay phải của cụ Mục Sư Lưu Văn Mão ở Phòng Sách Tin Lành An Ðông ngày nào.  Tại đám cưới này tôi cũng đã được gặp Mục Sư Tăng văn Hy là người tôi đã nghe danh từ lâu. Tôi đã chứng kiến cảnh nước lụt khủng khiếp trên đồng bằng Cửu Long. Tôi đã rơi nước mắt khi được biết các tín hữu phải rời nhà từ hai giờ sáng Chúa Nhật để chèo thuyền đi Nhà Thờ. Nhóm xong lại phải quay thuyền về sớm để kịp tới nhà trước nửa đêm.  Họ đã để gần 24 tiếng đi thờ phượng Chúa. Thật tôi đã thua họ quá xa. Tôi cảm thấy xấu hổ mỗi khi nghĩ tới những con cái Chúa trung tín này.  Ði tới đâu tôi cũng thấy tín hữu hãnh diện cầm Kinh Thánh và Thánh Ca mới đi Nhà Thờ.  Niềm vui không thể nào che giấu trên khuôn mặt họ.

VI. Việc Xuất Bản Kinh Thánh ở Việt Nam

Chúng tôi thật vui mừng ngợi khen Chúa khi hay tin ngày 27/7/1993 Chính Phủ ban hành một đạo luật cho phép xuất bản các ấn phẩm tôn giáo.  Thật là đúng dịp để chúng tôi có thể biến khải tượng cụ Mục Sư Phó Hội Trưởng đã đặt vào tâm tư tôi thành sự thật.  Ðây cũng là dịp tiện bằng vàng để Hội Thánh tránh khỏi những thủ tục rườm rà của việc nhập cảng.

Chúng tôi đã xúc tiến thủ tục in ấn, đi thăm dò các nhà in ở Sài Gòn.  Lúc đó các nhà in đều không có kinh nghiệm in trên giấy mỏng đặc biệt cho Kinh Thánh.  Hơn nữa máy in của họ quá thô sơ và cũ kỹ.  Tôi đã chứng kiến những người thợ in phải cầm từng tờ giấy đẩy vào máy in. Năng xuất và kỹ thuật rất kém. Trong khi chờ đợi giấy phép, anh David Thorne đã bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ để chỉ dẫn cho nhà in những phương cách in ấn Kinh Thánh theo kinh nghiệm phong phú của anh.  Họ đã học nơi anh cách lựa giấy, cách đóng, cách may, cách làm bìa, cách pha trộn kim nhũ và nhiều kỹ thuật khác.  Dần dần, họ đã sắm máy móc tối tân hơn để tăng năng suất và kỹ thuật.

Tạ ơn Chúa, sau một thời gian chờ đợi và làm việc cực nhọc với các cấp chính quyền, Mục Sư Quý đã có được phép in Kinh Thánh và việc in ấn bắt đầu tiến hành.  Sau gần một năm, đợt Kinh Thánh đầu tiên với số lượng in thử là 5,000 quyển toàn bộ và 5,000 Tân Ước đã hoàn tất vào đầu tháng 8, 1995.  Ngoài ra, cũng trong dịp này, Mục Sư Quý đã in 5,000 Thánh Ca do Giáo Hạt đài thọ trực tiếp.  Ðể đánh dấu biến cố quan trọng này, một buổi lễ tạ ơn đơn sơ đã được lập tức tổ chức tại Hội Thánh Tân An vào Chúa Nhật ngày 6.

Tôi rất mừng và hãnh diện được thay mặt Liên Hiệp Thánh Kinh Hội đến dự buổi lễ lịch sử này, một buổi lễ mang tích cách đặc biệt vì đây là lần đầu tiên sau 90 năm kể từ khi Anh Quốc và Hải Ngoại Thánh Kinh Hội đến Việt Nam, quyển Kinh Thánh của chúng ta đã được xuất bản tại trong nước.  Tay tôi đã rung động theo với niềm cảm xúc của tâm thần khi tôi cầm cuốn Kinh Thánh mới in.  Thật tôi không thể ngờ được rằng Chúa đã thể hiện trong đời tôi những điều tôi hằng cầu xin và mơ ước.  Chúa cũng đã thực hành những việc trước đây rất ít người dám nghĩ tới.  Kinh Thánh tuy lần đầu tiên in ở quê nhà, song kỹ thuật cũng đã đạt tới mức tương đối khả quan.

Buổi lễ cung hiến do Mục Sư Lê Cao Quý chủ tọa Nhà Thờ Tân An hôm đó đầy chật tín hữu cả trong lẫn ngoài.  Niềm vui mừng hiện rõ trên nét mặt của tất cả mọi người.  Tôi đã được đọc một bài diễn văn ngắn, thay mặt Liên Hiệp Thánh Kinh Hội, chuyển tới Hội Thánh Tin Lành Việt Nam lời chúc mừng và chào thăm từ tất cả tín hữu trên thế giới, cũng bầy tỏ lời cảm ơn Chính Quyền đã cấp giấy phép và tạo điều kiện thuận lợi cho việc in ấn Thánh Kinh được trọn vẹn. Tôi cũng đoan chắc với Hội Thánh rằng Liên Hiệp Thánh Kinh Hội sẽ tiếp tục cung ứng Kinh Thánh hầu thỏa mãn nhu cầu thuộc linh của tất cả tín hữu.

Sau đó, là những lời cầu nguyện đầy nước mắt và niềm vui của các tôi tớ Chúa. Trong phần kết luận, Mục Sư Lê Cao Quý đã công khai tuyên bố Kinh Thánh, Tân Ước và Thánh Ca sẽ được phổ biến cho tất cả các Hội Thánh không phân biệt hệ phái.  Sau buổi lễ tôi đã nghẹn ngào trong niềm vui khi được chứng kiến việc ký hợp đồng in lần thứ hai với 20,000 Kinh Thánh toàn bộ và 30,000 Tân Ước.  Trong những đợt kế tiếp, có lần chúng tôi đã được phép in 40,000 Kinh Thánh.

Cho tới nay, Liên Hiệp Thánh Kinh Hội đã in tại quê nhà 85,000 Kinh Thánh và 65,000 Tân Ước. Ngoài ra, chúng tôi còn được phép in 120,000 tuyển tập Kinh Thánh bằng hình cho thiếu nhi và 80,000 sách Tin Lành cho người chưa biết Chúa.  Như vậy, cộng thêm số 33,000 Kinh Thánh nhập cảng, từ năm 1992 Hội Thánh ở quê nhà đã nhận được 118,000 Kinh Thánh toàn bộ.

Giờ đây nhìn lại những con số trên đây, tôi chỉ biết dâng lên cho Chúa những lời tạ ơn tự đáy lòng.  Giấy, mực, bút và lời nói không thể tả hết được những ơn phước lạ lùng của Ngài. Ngài đã khiến cho Hội Thánh tại quê nhà từ tình trạng thiếu hụt Kinh Thánh trầm trọng tới tình trạng tạm đủ Kinh Thánh. Ước mong trong một ngày gần đây, Chúa sẽ cho mỗi tín hữu có một quyển Kinh Thánh.  Tôi cũng đang kiên tâm cầu nguyện để Chúa sớm mở đường cho các tín hữu vùng cao nguyên được đọc Lời Ngài bằng chính ngôn ngữ của mình. Ðiều này tuy hiện tại rất là khó.  Song tôi vẫn tin rằng sự cầu nguyện của các con cái Chúa có thể dẹp được những trở ngại hiện hữu.  Tôi đã chứng kiến Lời Ngài có quyền năng thay đổi mọi sự và đập tan những nỗi khó khăn của đời này.

Nguyễn Gia Tản

Tháng 3/2001