![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành
Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Nương Cậy Chúa |
|
|
|
Một
bức tranh
thật đẹp vẽ hình
các thuyền
buồm đủ màu sắc đang thả neo trong vịnh bên cạnh
bờ biển. Bờ bên kia là những chiếc thuyền khác cũng
đã cập bến. Quan
sát bức tranh kỹ hơn, người ta thấy một điều
rất lạ là tất cả đều yên lặng. Cỏ cây im lìm.
Mặt biển không một gợn sóng. Mọi thuyền buồm đều
lặng yên. Người
và vật dường như đang bất động trong giấc ngủ
của một buổi trưa hè oi ả!
Bên dưới bức tranh có dòng chữ: Where is the
wind? Gió ở đâu?
Không có gió thì các thuyền buồm kia dù đẹp
đến đâu cũng không sử dụng được. Ngày
nay nhìn vào Hội Thánh của Ðức Chúa Trời, chúng ta
nhiều lúc cũng tự hỏi Thánh Linh của Chúa ở đâu? Trong
sách Xa-cha-ri chương thứ tư, Ðức Chúa Trời cho tôi
tớ Chúa thấy một khải tượng về tính chất kỳ
diệu của Hội Thánh, để thấy không thể cậy
quyền thế hay năng lực loài người để xây dựng
Hội Thánh nhưng phải nương cậy vào Chúa. Tại sao không được nương cậy loài
người? Vì
loài người vốn yếu đuối và bất toàn. Ngay
cả sự khôn ngoan của loài người chỉ là rồ dại
đối với Ðức Chúa Trời (I Cô-rinh-tô 1:20) và sự
công bình của loài người như cái áo dơ bẩn trước
mặt Chúa mà thôi (Ê-sai 64: 6.)
Hơn nữa, quyền thế của loài người không
bền vững. Năng lực loài người giới hạn. Lòng người
thay đổi. Ðời
sống ngắn ngủi, vô thường. Lịch sử cho thấy
quyền thế loài người dù mạnh đến đâu cũng đến
lúc phải suy tàn, như thời vàng son của Ai-cập hay các
Ðế quốc Ba-by-lôn, A-si-ri, Hy-lạp, La-mã. Hết
triều đại này đến triều đại khác. Hết chế độ
nọ đến chế độ kia, cho thấy thế lực và khả năng
loài người không bền vững. Lời
Chúa đến với Xôâ-rô-ba-bên mang một ý nghĩa đặc
biệt vì ông lúc bấy giờ là một vị Thống Ðốc
được huấn luyện từ Ba-by-lôn trở về cai trị Giê-ru-sa-lem
sau khi lưu đày vào năm 538TC. Một người có thế
lực dự phần vào việc xây dựng lại đền thờ,
một người có địa vị cao với lòng hầu việc Chúa
dường như rất lý tưởng cho công việc Chúa. Tuy nhiên:
Ðây là lời của Ðức Giê-hô-va phán cho Xô-rô-ba-bên,
rằng: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng
chẳng phải là năng lực bèn là bởi Thần Ta,”
cho thấy không nên nương cậy vào các phương tiện
đó vì quyền thế và năng lực theo quan điểm con người
dường như thuận lợi, nhưng đó không phải là ý
muốn Chúa. Kinh
nghiệm cho thấy người có quyền thế dễ sinh lòng
kiêu ngạo và dễ có hành động bất chính để
củng cố quyền hành của mình.
Người có năng lực thường cậy tài năng hay
kiến thức dẫn đến tính khoe khoang, tạo thành giai
cấp và gây chia rẽ. Người
có quyền thế thường làm hại cho công việc Chúa như
vua Giê-rô-bô-am, lợi dụng quyền hành xen vào việc
xông hương là việc chỉ dành cho thầy tế lễ.
Khi bị tiên tri của Ðức Chúa Trời quở trách
ông đã giơ tay ra trên bàn thờ truyền lệnh: “Hãy
bắt nó đi. Nhưng cánh tay vua giơ ra đối cùng tiên
tri bèn trở nên khô, không thể co lại vào mình được.”
cho đến khi “Người của Ðức Chúa Trời cầu
khẩn Ðức Giê-hô-va thì tay vua bèn co vào được”
(1 Các Vua 13). Phao-lô
đã từng nhận định: “Hỡi anh em, hãy suy xét
rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có
nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều
kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng” (1
Cô-rinh-tô: 26-28). Vậy,
ý Chúa muốn chúng ta phải nương cậy ai trong sự
hầu việc Ngài? Lời
Chúa phán với Xô-rô-ba-bên ngày xưa cũng là lời Chúa
muốn phán với chúng ta ngày nay.
Chúa muốn chúng ta hãy nương cậy Chúa: “Bởi
Thần Ta.” Tại
sao phải nương cậy nơi Chúa? Vì
người nương cậy Chúa sẽ có khải tượng.
Người không có khải tượng chỉ thấy quanh mình,
tâm trí hẹp hòi và ích kỷ.
Người không có khải tượng chỉ nghĩ đến mình,
gia đình mình hay ngay cả Hội Thánh mình mà không
thấy bức tranh lớn của công việc Chúa.
Chúa
đã từng cho sứ đồ Phi-e-rơ thấy khải tượng
cửa trời mở ra, có những con thú sạch và không
sạch trong một cái khăn lớn níu bốn chéo lên, nói
đến Tin Lành cứu rỗi cũng cần truyền cho dân
ngoại (Công 10:10ff.) Còn Phao-lô thì “tâu vua Aïc-ríp-ba, từ đó tôi
chẳng hề dám chống cự với sự hiện thấy trên
trời tức là rao truyền ánh sáng ra cho dân sự và người
ngoại” (Công Vụ 26:19-23.)
Mục Sư A. B. Simpson đặt tay chỗ bản đồ
Việt Nam trên hình quả địa cầu, cảm động cầu
nguyện và thấy được nhu cầu tâm linh, ông đã sai
phái giáo sĩ đến truyền giáo cho dân tộc Việt Nam
chúng ta. Ðó là
những người có khải tượng. Người
nương cậy Chúa sẽ biết được chương trình của
Ðức Chúa Trời. Trong sự hiện thấy của tiên tri Xa-cha-ri, ông thấy một
chân đèn bằng vàng ròng, nói đến giá trị cao quý
của Hội Thánh, và trên chân đèn đó có một cái
chậu chứa dầu chỉ về sức sống tiềm tàng của
Hội Thánh. Có
bảy ngọn đèn, theo sách Khải Thị, đó là bản
chất toàn vẹn của hội thánh.
Bảy ống cho bảy ngọn đèn chỉ về cách cung
cấp dầu cho mỗi Hội Thánh.
Cuối cùng là hai cây ô-li-ve bên hữu và bên
tả chỉ về hai tác nhân được Chúa dùng để cung
cấp nguồn năng lực cho Hội Thánh. Hội
Thánh của Ðức Chúa Trời không phải là một tổ
chức dù có sự tổ chức, không phải là một tập
thể xã hội dù có dự phần vào việc xã hội, cũng
không theo một khuynh hướng chính trị dù phải tuân
phục nhà cầm quyền.
Hội Thánh chính là một thực thể sinh động,
nhiệm mầu, có mục đích thiên thượng dưới sự hướng
dẫn của Chúa Thánh Linh dù được thiết lập trong
trần gian này.
Do đó, nếu tôi con Chúa không thấy được đặc
điểm cao trọng và hiểu được giá trị này sẽ
dễ nản lòng và sinh ra thao túng. Ðức
Thánh Linh làm việc trong Hội Thánh qua biểu tượng
tiêu biểu là dầu và lửa. Khi nhìn bề ngoài chúng
ta không thấy dầu, nhưng nếu không có dầu thì cũng
không có lửa. Và nếu không có lửa thì đèn không
cháy sáng. Chức năng của đèn là phải sáng và nếu không sáng
thì không ích chi cả. Kinh
nghiệm cho thấy có những Hội Thánh không có ánh sáng
vì không có dầu và lửa Thánh Linh, như Hội Thánh
Sạt-đe ngày xưa “có tiếng là sống, nhưng mà là
chết.” (Khải thị 3:1) Một
vị Mục sư kia được hỏi Hội Thánh ông có bao nhiêu
tín hữu sốt sắng. Ông
trả lời 100%! Ðể
người hỏi không phải ngạc nhiên lâu, Mục Sư
tiếp: 50% người sốt sắng làm theo ý riêng và 50% người
sốt sắng làm theo đời!
Ðó là hội thánh có tiếng là sống mà là
chết! Khi
Whitefield, nhà truyền đạo người Anh nổi tiếng chuyên
giảng lộ thiên, đến thăm các công nhân tại một
hầm mỏ kia. Ông gặp hỏi một người: Anh tin Chúa
chưa? – Anh này đáp: Dạ có. Vậy anh tin gì? –
Dạ, tôi tin giống như Hội Thánh tôi tin.
Vậy, Hội Thánh anh tin gì? – Dạ, Hội Thánh tôi
tin giống như tôi tin.
Ông Whitefield kiên nhẫn hỏi tiếp: Vậy anh và
Hội Thánh anh tin gì? – Dạ, tôi và Hội Thánh tôi
tin giống nhau! Ðây
là tiêu biểu cho tín đồ của một Hội Thánh có
tiếng là sống mà là chết. Người
nương cậy Chúa sẽ bảo đảm được thành công.
Xa-cha-ri 4: 9,10 chép: “Tay Xô-rô-ba-bên đã
lập nền nhà nầy thì tay đó cũng sẽ làm xong...và
dây chuẩn mực ở trong tay Xô-rô-ba-bên.” Ai làm việc gì cũng muốn thành công. Theo lịch
sử, Xô-rô-ba-bên hoàn tất xây dựng nhà thờ cho Ðức
Chúa Trời vào năm thứ sáu đời vua Ða-ri-út, sau
gần 15 năm dài gặp bao khó khăn và thách thức.
Có lúc phải đình trệ vì kẻ thù bên trong cũng
như bên ngoài cố tình ngăn trở. Dầu vậy, cuối cùng
chương trình xây sửa lại đền thờ Giê-ru-sa-lem đã
hoàn tất. Sự hoàn tất này tiêu biểu một phần
việc xây dựng Hội Thánh của Ðấng Christ lớn lao và
toàn vẹn hơn, đó là một “Hội Thánh đầy vinh
hiển, không vết không nhăn, không chi giống như
vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước
mặt Ngài.” (Ê-phê-sô 5:27)
Khi đem so việc xây sửa này với công trình vua
Sa-lô-môn xây cất đền thờ Giê-ru-sa-lem trong sách I
Các Vua đoạn 5 chúng ta thấy có tới 70,000 người
khiêng gánh, 80,000
thợ đẽo đá, 3,300 đốc công làm việc liên tục
trong 7 năm thì công trình của Xô-rô-ba-bên vẫn còn
khiêm nhường lắm. Do
đó, được dự phần hầu việc Chúa ngày nay là chúng
ta chỉ góp một phần nhỏ vào một công trình vĩ đại
mà chính Ðấng Christ đã khởi xướng, các sứ đồ,
môn đồ Chúa cùng các giáo phụ và các bậc tiền
bối đi trước chúng ta đã xây dựng.
Quả là một đặc ân vô giá mà giá trị đó
được Tiến sĩ Tống Thượng Tiết dệt thành bài
ca: “Ðông hư không, tây hư không, nam hư không bắc
hư không. Thay thảy luống hư không.
Chỉ linh công còn hoài.” Cuối
cùng, người nương cậy Chúa sẽ được Chúa sử
dụng.
Sự phát triển Hội Thánh ngày nay nói chung
nhờ hai yếu tố: 1) Vị Mục sư hay người hầu
việc Chúa và 2) Hội chúng hay tiêu biểu là các
chức viên của Hội Thánh.
Khi Hội Thánh có Mục sư và các chức viên
hợp tác vui vẻ thì hội thánh phát triển. Nếu gặp
trở ngại thì Hội Thánh bị nghẹt ngòi.
Khi dân Y-sơ-ra-ên trở về từ chốn lưu đày,
có hai người lãnh đạo: Giê-hô-sua là thầy lế lễ
và Xô-rô-ba-bên là một giáo dân.
Ðức Chúa Trời dùng cả hai để xây dựng nhà
Chúa qua tiêu biểu hai cây ô-li-ve hay hai nhánh ô-li-ve.
“Ấy là hai người chịu xức dầu, đứng bên Chúa
của cả đất.” (4:14) Trong
sự hiện thấy chân đèn bằng vàng quý giá này, chúng
ta thấy có một yếu tố khác rất quan trọng, đó là
sự sống. Một sự sống phải có, bằng không, chân
đèn sẽ vô dụng. Sự
sống đó đến từ hai cây ô-li-ve “Ấy là hai người
chịu xức dầu, đứng bên Chúa của cả đất.” Tại vườn Ghết-sa-ma-nê ngày nay vẫn còn những cây
ô-li-ve rất già nhưng vẫn còn sống, bên cạnh ngôi
nhà thờ “Church of the Nations.”
Hễ còn sống bao lâu, nó cung cấp dầu bấy lâu.
Trong Hội Thánh của Ðức Chúa Trời trải qua mọi
thời đại, Chúa dùng các tôi con Chúa để truyền
sức sống cho Hội Thánh Ngài.
Thánh Linh hành động qua tác nhân loài người
để làm nên những cơn Thức Tỉnh hay các cuộc
phục hưng. Họ
là những cây ô-li-ve sống cung cấp dầu cho Hội Thánh
Chúa. Sự sống của Hội Thánh mạnh hay yếu là do
thầy tế lễ và giáo dân. Một hình ảnh khác nhưng
cùng một ý nghĩa được chép trong sách Khải Thị
11: 4-6 “Hai người làm chứng ấy tức là hai cây
ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa
của thế gian. Hai người có quyền đóng trời lại,
để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên
tri, hai người lại có quyền biến nước thành
huyết và khiến các tai nạn làm hại trên đất, lúc
nào muốn làm cũng được cả.” Các
nhà giải kinh đồng ý hai người này là tiên tri Ê-li
(1Các Vua 17) và Môi-se, vì khi Ê-li cầu nguyện thì ba
năm rưỡi trời không mưa. Và khi Môi-se lấy gậy đập
dưới sông nước biến thành huyết (Xuất Ê-díp-tô
ký 7:17.) Chúng
ta không biết chắc Môi se và Ê-li sẽ sống lại
trong ngày cuối cùng, sẽ bị giết và sống lại theo
như sách Khải Thị đoạn 11 mô tả hay không. Tuy nhiên, một điều chúng ta biết chắc là Chúa dùng
hai người đứng bên hữu Chúa để xây dựng hội thánh
Ngài trải qua mọi thời đại là tiên tri và giáo dân,
là nguồn sinh lực tâm linh cho ngọn đèn hội thánh
được thắp sáng. Ðó là một nguyên tắc không thay
đổi. Chúa đã
dùng Môi se là một lãnh tụ, một giáo dân cùng với
A-rôn là một thầy tế lễ để dẫn dắt dân sự
của Chúa. Rồi
đến Xô-rô-ba-bên là một giáo dân và Giê-hô-sua là
một thầy tế lễ để xây lại đền thờ cho
Chúa. Ngày
nay, Ðức Chúa Trời cũng dùng nguyên tắc đó để xây
dựng Hội Thánh Ngài trên đất. Dù quý vị là tôi
tớ hay con dân Chúa, chúng ta là tiêu biểu cho hai tác
nhân là hai cây ô-li-ve đang “đứng bên Chúa của
cả đất.” Chúng
ta là cây ô-li-ve sống hay chết, còn cung cấp dầu
vui mừng, bình an cho hội chúng hay bị nghẹt ngòi vì
chướng ngại nào đó trong đời sống?
Hội Thánh Chúa tùy thuộc vào đời sống tâm
linh của bạn và tôi.
Hãy kiểm điểm lại và vun xới cây ô-li-ve
của đời sống tâm linh chúng ta để trở nên nguồn
phước hạnh cho Hội Thánh của Chúa. Một
câu hỏi có tính cách căn bản và thực tế là khi đề
cập đến Thánh Linh chúng ta thường nghĩ đến
quyền năng hay phép lạ ngoạn mục, tuy nhiên câu Kinh
Thánh trong Xa-cha-ri 4: 6 “Ấy chẳng phải là bởi
quyền thế cũng chẳng phải là bởi năng lực bèn là
bởi Thần Ta.” Vậy,
“bởi Thần Ta” có nghĩa gì? Dĩ nhiên công việc
của Chúa Thánh Linh bày tỏ ra rất ngoạn mục và
kỳ diệu như lúc Chúa giáng lâm vào ngày Lễ Ngũ
Tuần hay những trường hợp chữa bịnh, làm phép
lạ trong sách Công Vụ. Nhưng có những lúc Thánh Linh
hành động cách êm diệu nhẹ nhàng như trường hợp
Chúa phán với tiên tri Ê-li trong đồng vắng. Uy lực
của Chúa như “ngọn gió mạnh thổi dữ
tợn xé núi ra và làm tan nát các hòn đá, như cơn động
đất, như đám lửa, nhưng không có Ðức Giê-hô-va
trong đám lửa. Sau
đám lửa có tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.” (1Các Vua
19: 11-12). Hay
trong công cuộc sáng tạo đầy ngoạn mục “Thần
Ðức Chúa Trời vận hành trên mặt nước” cách
nhẹ nhàng yên tĩnh. Hay trong việc đưa Con Ðức Chúa
Trời nhập thế, Chúa âm thầm làm việc qua đời
sống của trinh nữ Ma-ri.
Ngày nay, Ðức Thánh Linh âm thầm hành động
trong đời sống của những người nương nhờ Chúa
để tỉa sửa, vun xới họ, hầu có thể sinh ra bông
trái “lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an,
nhịn nhục, nhơn từ, hiền lành, trung tín, mềm
mại, tiết độ.” (Ga-la-ti 5:22) Sau
thế chiến thứ hai không lâu, Âu Châu bắt đầu lo xây
dựng lại. Chiến tranh đã tàn phá hầu hết mọi nơi.
Có lẽ hình ảnh tang thương nhất là các trẻ
mồ côi đói khổ rách rưới lang thang khắp đường
phố. Buổi sáng
kia, một người lính Mỹ trên đường đến sở làm
tại thành phố Luân Ðôn.
Vừa khi quẹo xe qua khu phố anh thấy một cậu
bé đang dán mắt nhìn vào một tiệm bánh.
Mùi thơm phức của bánh mới nướng từ bên
trong bay ra khiến cậu bé lặng nhìn mọi động tác bên
trong. Người lính
dừng xe bên đường, nhẹ nhàng đến chỗ cậu bé đứng.
Qua cửa kính, anh thấy các miếng bánh thơm ngon
vừa mới nướng và hiểu được nỗi thèm thuồng
của cậu bé. Lòng
anh cảm động trước tình cảnh cậu bé mồ côi không
quen biết này. Anh bước
vào bên trong, mua một chục bánh để vào hộp, bước
đến chỗ cậu bé đang đứng trong buổi sáng sương
mù của thành phố Luân Ðôn. Anh mỉm cười nhìn cậu, trao hộp bánh và nói: “Ðây,
cho em.” Khi
vừa quay lưng đi, anh
cảm thấy có một bàn tay nhỏ bé níu áo khoác mình,
và nghe giọng nói nhỏ nhẹ: “Mister, are you God?”
Dĩ nhiên, chúng ta không phải là Chúa nhưng không lúc
nào chúng ta giống Chúa cho bằng lúc chúng ta ban cho
hay hiến dâng phát xuất từ tấm lòng yêu thương. Mục
Sư Nguyễn Anh Tài
|
|
|
|