Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Ðức Chúa Trời Là Cha

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Một trong những tư duy triết học sâu sắc hơn hết của con người là tư duy về nguồn gốc của chính mình: Con người đến từ đâu?  Trong khi đó, đối với vấn đề này, Kinh Thánh khẳng định hai điều khá đơn giản.  Ðức Chúa Trời làm nên con người từ bụi đất và Ngài tạo dựng con người “giống hình ảnh Ngài” (Sáng Thế Ký 2:7; 1:26,27). Không ai chối cãi khẳng định đầu tiên: con người được tạo dựng từ cát bụi và một ngày kia sẽ trở về cát bụi.  Tuy nhiên đối với điều thứ hai - con người được tạo dựng giống hình ảnh Thượng Ðế, là một khẳng định cần giải thích. Trong sách Sáng Thế 1:26, 27 ý tưởng này được đề cập đến bốn lần: “Ðức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.  Ðức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài; Ngài dựng nên loài người giống như hình Ðức Chúa Trời; Ngài dựng nên người nam cùng người nữ.”

Vì Ðức Chúa Trời là Thần Linh cho nên hình ảnh của Ngài nói đến ở đây không có nghĩa vật lý, mà chỉ thị những phẩm tính siêu hình, thiêng liêng.  Trước hết, Ðức Chúa Trời là Tạo Hóa, và Ngài đã ban cho con người khả năng sáng tạo giống như Ngài; biết làm ra những vật mới, xây dựng các nền văn minh, và luôn luôn tiến bộ.  Thứ hai, bản chất công chính, thánh khiết của Ðức Chúa Trời cũng thể hiện qua lương tâm, qua ý thức đạo đức chỉ loài người mới có. Thứ ba, Ðức Chúa Trời là Ðấng vĩnh hằng, và Ngài cũng đã phú ban cho con người có linh hồn bất diệt.  Tuy nhiên, một trong những điều giúp con người dễ nhận ra hình ảnh Thượng Ðế hơn hết là thẩm quyền quản trị muôn loài. Mệnh lệnh đầu tiên của Ðức Chúa Trời là “hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời cùng các vật sống hành động trên mặt đất” (Sáng Thế ký 1:28b).  Ðức Chúa Trời đã ban cho con người quyền quản trị trong một phạm vi nhỏ bé hơn, giống như Ngài là Ðấng cầm quyền trên toàn thể vũ trụ.  Như vậy, khả năng và quyền quản trị của con người trên địa cầu hiển nhiên là một biểu minh của hình ảnh Ðức Chúa Trời nơi con người.

Những điều trên đây cho chúng ta thấy nguồn gốc giá trị thật của con người.  Trong một phương diện, có thể bảo rằng con người là một bản sao của Ðức Chúa Trời, dù chỉ là một bản sao thô thiển mà tội lỗi và những thất bại đã làm cho bản sao đó ngày càng mờ nhạt hơn.  Tuy nhiên, Kinh Thánh không dừng lại tại đó, tiếp tục mạc khải chương trình của Ðức Chúa Trời phục hồi hình ảnh của chính Ngài trong con người qua kế hoạch cứu chuộc mà đến cuối cùng, con người từ địa vị tạo vật trở thành con cái Ðức Chúa Trời. Cao điểm của mạc khải đó là những lời dạy minh thị của Chúa Giê-xu.

Ðối với người Do Thái thời Cựu Ước, khái niệm Ðức Chúa Trời là Cha còn mơ hồ. Phải đợi cho đến khi Chúa Giê-xu xuất hiện, giáo lý này mới được xác định và khai triển.  Tuy nhiên, để chuẩn bị cho mạc khải này, hình ảnh người cha với tất cả những nét đặc trưng cao quí đã được mô tả khá đầy đủ trong Cựu Ước. Người cha là chủ gia đình với thẩm quyền cao nhất được cả vợ lẫn các con tôn kính, tuân phục.  Thẩm quyền của cha không chỉ giới hạn trong sinh hoạt thường nhật mà còn trên lãnh vực tâm linh và đời sống tôn giáo nữa.  Người cha được coi là vị tư tế của gia đình, là đại diện chính thức của gia đình dâng sinh tế lên cho Ðức Chúa Trời.  Cha cũng là người chịu trách nhiệm dạy các giới răn của Ðức Chúa Trời cho con cái và theo dõi việc các con tuân giữ.  Các tổ phụ tuyển dân là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp là những người lập bàn thờ, thờ phượng Ðức Chúa Trời.  Gióp là một nhân vật Cựu Ước khác thường xuyên vì con cái dâng tế lễ chuộc tội, sợ rằng các con còn trẻ tuổi, ham vui, dễ phạm vào các giới răn của Chúa.

Trong thời Cựu Ước, tuyển dân tôn kính Ðức Chúa Trời là Chân Thần Ðộc Nhất, là Ðấng Tự Hữu Hằng Hữu, là Ðấng Phán Xét tối cao, là Cứu Tinh, là Vua, là Ðấng Cứu Chuộc.  Hình ảnh Ðức Chúa Trời là Cha chưa hiện rõ trong Cựu Ước.  Cho đến khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến, Ngài đã công khai, minh thị nói về Ðức Chúa Trời là Cha.  Chúa Giê-xu không chỉ dùng cách xưng hô này để diễn đạt mối tương giao mật thiết độc đáo giữa Ngài với Ðức Chúa Trời, mà còn dạy rằng các môn đồ của Ngài cũng được tham dự vào mối tương giao đó. 

Trong lời cầu nguyện nổi tiếng Chúa dạy các môn đồ, còn được gọi là “Bài Cầu Nguyện Chung,” câu đầu tiên là,  “Lạy Cha chúng con ở trên trời, danh Cha được tôn thánh, nước Cha được đến, ý Cha được nên ở đất cũng như trên trời...” Ðối với các môn đệ của Chúa Giê-xu là người Do Thái, đây là một khái niệm mới. Họ không dám nghĩ Ðức Chúa Trời là Ðấng tạo dựng trời đất, Ðấng tự hữu hằng hữu, Ðấng toàn tri toàn năng, tuyệt đối thánh khiết, tuyệt đối công chính lại có thể bằng lòng làm Cha họ là loài thọ tạo, là những con ngưòi tầm thường.  Khái niệm Ðức Chúa Trời là Cha này, về sau đã được ghi trong Bài Tín Ðiều Các Sứ Ðồ, là bản đúc kết những giáo lý nền tảng của đức tin Cơ-đốc.  Tín lý căn bản đầu tiên là, “Tôi tin Ðức Chúa Trời toàn năng là Cha, là Ðấng dựng nên trời đất.”

Nếu người Do Thái là tuyển dân còn bỡ ngỡ trước khái niệm Ðức Chúa Trời  là Cha thì tất nhiên, đối với những người thuộc các tôn giáo khác, mức độ xa lạ của khái niệm này còn lớn đến chừng nào!  Cho nên khi Chúa Giê-xu đến, Ngài đã nhiều lần minh thị dạy các môn đệ khái niệm này, nhấn mạnh đến khía cạnh thực hành để họ có thể thực sự bước vào mối tương giao với Ðức Chúa Trời như con đến với Cha.

Trong Phúc âm Lu-ca chương 15, Chúa Giê-xu kể một câu chuyện cảm động, nói đến tấm lòng bao dung của một người cha đối với đứa con hoang đàng hư hỏng.  Sau khi đòi cha chia gia tài, người con tóm thâu hết, bỏ nhà ra đi, ăn chơi trác táng cho đến không còn đồng xu dính túi.  Cuối cùng phải đi làm mướn, chăn heo ở một nơi xa lạ.  Anh ta đói khổ đến độ muốn ăn cả vỏ đậu của heo mà chủ không cho.  Anh ta tỉnh ngộ, nghĩ thầm, “ở nhà cha ta, bao nhiêu người làm mướn được bánh ăn no nê, mà ta đây là con mà phải chết đói! Ta sẽ trở về thưa với cha rằng: Con đã phạm tội với Trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa. Xin cha đãi con như đứa làm mướn của cha vậy.”  Nghĩ sao làm vậy.  Anh ta quyết định trở về, nhưng có điều không ngờ là khi anh còn ở đàng xa, người cha đã thấy, chạy ra ôm chầm lấy anh.  Anh thưa với cha những lời hối lỗi như đã nghĩ, nhưng dường như cha anh không nghe, ông giục gia nhân đem quần áo tốt nhất thay cho mớ giẻ rách tơi tả trên người anh, đeo nhẫn, mang giày, phục hồi hoàn toàn địa vị làm con.  Trong bao nhiêu năm tháng qua, dường như lòng người cha không mong mỏi một điều gì khác hơn là có ngày con ông hối lỗi trở về để tình cha con được nối lại.  Chi tiết cần nhấn mạnh ở đây là khi đứa con quyết tâm ăn năn trở về, người cha hoàn toàn không đòi một điều kiện nào.

Chúa Giê-xu không kể câu chuyện này cho đám đông mua vui, nhưng để khẳng định tình yêu của Ðức Chúa Trời là Cha đối với con người.  Ðể có Ðức Chúa Trời là Cha, con người không cần phải làm bất cứ điều gì ngoại trừ quyết tâm ăn năn và trở về.  Ðứa con hư hỏng đã trở về nhà cha trong nguyên trạng dơ bẩn, rách rưới, và đã được cha chấp nhận vô điều kiện.  Ðây là cốt lõi của tin lành, trái với những suy nghĩ thông thường trong các tôn giáo khác cho rằng phải tu tâm dưỡng tính, phải làm công quả, phải tích lũy việc lành nhiên hậu mới được Ðức Chúa Trời chấp nhận.  Người cha trong câu chuyện của Chúa Giê-xu đã chạy ra ôm hôn đứa con hư hỏng trở về trong tình trạng bệ rạc của một gã chăn heo hôi hám.  Chúa Giê-xu cho biết đây chính là điều Ðức Chúa Trời làm cho những người ăn năn trở lại.

Trở ngại lớn nhất cho việc thiết lập tình cha con giữa Ðức Chúa Trời  và con người là suy nghĩ cho rằng con người phải làm một điều gì đó.  Bản chất kiêu ngạo cố hữu khiến con người không muốn ngửa tay đón nhận ơn cứu rỗi, mà muốn tự mình cố gắng tu trì.  Thái độ này dẫn đến những trở ngại khác khi con người muốn đến với Ðức Chúa Trời bằng sáng kiến riêng, bằng con đường tự mình vạch ra mà không qua Chúa Cứu Thế Giê-xu, là Ðấng đã khẳng định rằng, “Ta là con đường, chân lý và sự sống, chẳng bởi Ta thì không ai đến được cùng Cha.”  Ðến với Ðức Chúa Trời  qua Chúa Cứu Thế Giê-xu là gì? Là ý thức mình là một tội nhân, như đứa con phóng đãng ý thức anh ta đã “phạm tội với Trời và với cha.”  Tiếp theo đó là tin rằng Chúa Giê-xu đã chết trên thập tự giá là chiên sinh tế được dâng lên chuộc tội cho mình.  Tính chất hợp lý của giải pháp cứu rỗi này là ở chỗ mọi tội lỗi phải bị trừng phạt và chính Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Ðức Chúa Trời đã nhận án phạt thay cho bạn và tôi.   Như vậy cùng một lúc sự công chính của Ðức Chúa Trời được bảo vệ và tình thương của Ngài được thể hiện.

Nếu phải bày tỏ lòng biết ơn cha trong ngày Từ Phụ thì điều ý nghĩa hơn hết chúng ta cần làm là dừng bước, ăn năn tội, trở về làm hòa với Cha trên trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu là con đường duy nhất.  Từ đó hình ảnh của Ðức Chúa Trời mới có thể dần hồi ngày càng hiện lên rõ nét hơn trong đời sống chúng ta.

Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh