![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Việt
Hà Biên Soạn Các
Hoạt Động Thông Linh 2.
Các hiện tượng siêu linh (psychic phenomena) Hiện
tượng thông linh vật lý trong thông linh có quan hệ
chặt chẽ với các biểu hiện siêu linh như thị kiến
thông linh, viết chữ tự động, nói trong lúc xuất
hồn, làm hiện, biến vật thể, nâng bàn, cơ ly và
xuất hồn. Thị
kiến thông linh (Spiristic visions) Đây
là hiện tượng thấy “khải tượng” siêu nhiên
một số người kể lại là mình đã có.
Ngày nay cũng như trong thời các tiên tri và các
sứ đồ, Đức Chúa Trời có thể cho con người thấy
khải tượng trong những cơ hội hay hoàn cảnh đặc
biệt. Tuy nhiên
phải nhận rằng những kinh nghiệm thấy khải tượng
thật do Đức Chúa Trời mạc khải rất hiếm và hầu
hết là những thị kiến giả tạo do ma quỉ tác động. Tiến
sĩ Kurt Koch, một học giả lỗi lạc trong lãnh vực thông
linh thuật lại trường hợp một sinh viên thần học
đến với ông cho biết ban đêm anh thường thấy
nhiều khải tượng về Chúa Cứu Thế khiến cho anh
vừa khó chịu, vừa sợ hãi.
Sau một thời gian tìm hiểu ông khám phá ra rằng
người sinh viên này có cả mẹ lẫn bà ngoại là
những người thực hành thông linh và chuyên cầu cơ
ly. Điều này cho
thấy những “khải tượng” của anh chỉ là tác động
của đồng cốt, tà linh chứ không phải là mạc khải
của Đức Thánh Linh. Tương
tự, trường hợp bà Diane Kennedy Pike thấy “linh hồn
chồng bà là giám mục Pike lìa khỏi xác khi ông tắt
nghỉ ở sa mạc Giu-đê tháng 9 năm 1969, và khi ông sung
sướng ôm choàng đứa con quá cố là Jim và thần học
gia Paul Tillich, cùng những người khác.”
Đúc kết toàn thể bối cảnh câu chuyện này chúng
ta chỉ có thể kết luận rằng đây là tác động
của ma quỉ qua các trung gian đồng cốt chứ không
phải là khải tượng chân thật từ Đức Thánh Linh. Nhiều
người sáng lập các tà giáo cũng khởi sự từ các
thị kiến hay “khải tượng” siêu nhiên như thế để
đưa ra những giáo thuyết lệch lạc, mâu thuẫn với các
giáo lý thuần túy trong Kinh Thánh mà thí dụ điển hình
cận đại là các “khải tượng” của Joseph Smith
(1805-1844), người chủ trương tà giáo Mặc môn
(Mormonism). Đây là điều
thánh Phao-lô gọi là đạo lý của quỉ dữ (I
Ti-mô-thê 4:1). Khi
một người cố ý cượng giải Lời Chúa, người đó
tự đặt mình vào một vị trí rất dễ bị ma quỉ
khống chế, tấn công và lừa dối.
Nói trong lúc xuất hồn Xuất
hồn là hiện tượng cốt đồng rơi vào tình trạng mê
mẩn, mất ý thức, ở dưới quyền điều động của
ma quỉ để cốt đồng có thể tiếp xúc với người
chết. Một hay
nhiều tà linh sẽ lừa dối bằng cách nói qua miệng
cốt đồng, giả giọng người quá cố.
Hậu quả là vô số các nhà bói toán quảng cáo
rằng họ có thể tiếp xúc được với những người
đã chết, thường là những nhân vật tiếng tăm. Có
lần, một vị mục sư tham dự một buổi gọi hồn
với mục đích để khảo sát hoạt động của đồng
cốt. Sau khi cốt đồng khởi sự xuất hồn thì qua
miệng cốt đồng, tiếng nói tự nhận là “thánh
Phao-lô” hiện lên và giảng cho cử tọa. Cần nhớ
rằng đây chỉ là ma quỉ nhập vào cốt đồng, mạo
nhận là Phao-lô mà thôi.
Khởi đầu vị mục sư rất thích thú khi theo dõi
bài giảng, nhưng sau lại thất vọng vì quá lạt lẽo.
Bài giảng chỉ là những lời khuyên có tính cách
luân lý, được tô điểm thêm bằng một chút mầu
sắc Cơ-đốc giáo. Tựu trung, đây chỉ là một trường
hợp lừa dối của ma quỉ, mượn danh nghĩa người
chết lừa bịp người sống.
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, Cơ-đốc nhân tham dự
vào các hoạt động thông linh trên là một hành vi
dại dột và rất nguy hiểm.
Trong một trường hợp khác một mục sư tham dự
một buổi cầu hồn tương tự, sau đó đã rơi vào
một thời gian sa sút nghiêm trọng đến nỗi không
thể cầu nguyện và mất hết nhiệt tâm trong chức
vụ rao giảng Lời Chúa. Đây là trường hợp sẽ được
nêu lên ở phần sau. Thuật
Hiện Biến (Materializations) Có
lẽ một trong những hiện tượng lạ lùng nhất của
hoạt động thông linh là hiện tượng hiện biến. Đây
là hiện tượng siêu nhiên làm xuất hiện hay biến
mất các vật thể qua tác động của đồng cốt.
Hoạt động này có nhiều mức độ khác nhau.
Larsen thuật lại kết quả sau 12 buổi gặp gỡ
một cốt đồng nổi tiếng, Madame D’Esperance. Trong khi
bà D’Esperance ngồi trong một phòng nhỏ, một bóng ma
tự nhiên xuất hiện trước phòng và dần dần hiện
thành hình một phụ nữ.
Bóng ma này di chuyển vào và ra giữa vòng những
người ngồi tham dự buổi gọi hồn. Trong khi bóng ma
đưa tay cho một người tham dự nắm lấy, tình trạng
biến đi hay tan rã khởi sự trước mặt mọi người
tham dự. Đến
cuối cùng chỉ còn lại một khối tròn trên đất
lăn vào trong căn phòng nhỏ có cốt đồng ngồi. Một
thí dụ khác là trường hợp một cốt đồng được
giao công tác gọi và làm hiện hồn một nhà thơ người
Đức Johann Ludwig Uhland (1787-1862).
Trong một buổi gọi hồn, bóng ma một người da
trắng xuất hiện. Những người tham dự yêu cầu đọc
một bài thơ. Thay
vì đọc, bóng ma xé một trang từ một cuốn sách trong
thư viện, với cây viết chì lấy từ một cặp- táp có
khóa, lấy xuyên qua lớp da mà không cần mở cặp.
Bàn tay viết xuống vài câu thơ rồi biến mất,
duy tờ giấy vẫn còn để lại. Các chuyên gia liền
tức khắc tra cứu các tác phẩm của Uhland nhưng không
tìm thấy câu thơ đó. Công cuộc nghiên cứu nét chữ
bóng ma để lại cho thấy nét chữ đó thực sự là nét
chữ của nhà thơ quá cố. Sau đó là một vụ án liên
quan đến quyền sở hữu trang giấy có bút tích của
nhà thơ nổi tiếng. Tòa
án đã xử cho bà cốt thắng kiện. Bà ta đã giữ tờ
giấy đó coi như một vật gia bảo! Hiện
tượng hiện biến cũng từng có trong lịch sử truyền
giáo Trung Hoa. Các giáo sĩ từng thuật lại rằng các
đạo sĩ Nhật Bản có thể dùng thuật hiện biến,
tự biến đi từ ngọn núi này để xuất hiện ở
một ngọn núi khác. Chúng ta phải coi đây là một phép
lạ của Sa-tan. Thánh Phao lô trong thư 2 Tê-sa-lô-ni-ca.
2:8-10 đã viết như sau:
“Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ
hiện ra, Đức Chúa Giê-xu sẽ dùng hơi miệng Ngài mà
hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của
sự Ngài đến. Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỉ Sa-tan
mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và
việc kỳ dối giả; dùng mọi cách phỉnh dỗ không công
bình mà dỗ dành những kẻ hư mất vì chúng nó đã không
nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được
cứu rỗi.” Trường
hợp chấp sự Phi-líp trong Công Vụ 8 được Đức Thánh
Linh của Chúa đem đi từ Ga-xa đến thành A-xốt cách
nhau gần 35 km (Công Vụ 8:39-40) có thể coi là phép lạ
của Đức Chúa Trời. Còn
hiện tựơng hiện biến qua đồng cốt hiển nhiên là
tác động của Sa-tan giả dạng, bắt chước quyền năng
của Đức Chúa Trời. Cơ
ly
(Tumbler moving) Đây
là một hình thức cầu cơ của những người thực hành
thông linh. Những
người tham dự ngồi xung quanh một cái bàn, trên đó có
có sắp tất cả các mẫu tự, trên lót một tấm kính.
Trên bàn người ta để một cái ly không. Sau lời cầu
gọi cơ, giống như một câu thần chú, tà linh nhập vào
ly. Đây là lúc người tham dự sẽ đặt câu hỏi.
Một lực vô hình khiến cho cái ly bắt đầu tự động
di chuyển, dừng lại ở một số các mẫu tự,
đem ghép lại người ta có câu trả lời.
Lực vô hình điều khiển cái ly hiển nhiên là
quyền lực của quỉ, của tà linh. Một mục-sư có
lần thử tham dự để tìm hiểu hoạt động thông linh
này đã khiến ông sau đó rơi vào quĩ đạo khống
chế của quỉ dữ. Lòng hăng hái sốt sắng hầu việc
Chúa nguội dần. Ông
mất thôi thúc cầu nguyện và vào các ngày Chúa Nhật
tàlinh tấn công dữ dội khiến không thể giảng dạy
được. Quyền lực tối tăm đã khống chế ông đến
nỗi sau một thời gian ông mục sư này đã phải rời
bỏ chức vụ. Xuất
hồn
(Excursions of the spyche) Một
số thầy bói cho biết họ có khả năng ”xuất
hồn” đi một khoảng cách xa theo ý muốn. Như người
Lapps ở bán đảo Scandinavia và nhất là người Tây
Tạng nổi tiếng về khả năng xuất hồn. Trong cuộc
thế chiến lần thứ hai, một bà mẹ Đức có hai đứa
con bị mất tích trong chiến tranh. Bà đem hình hai con
ra cho một nhà bói toán cũng là một cốt đồng tìm giúp.
Tập trung nhìn vào hai tấm hình này cốt đồng đi vào
trạng thái xuất hồn, cho biết một đứa đã chết còn
đứa kia tuy là có báo cáo chết từ năm 1943, nhưng
hiện vẫn còn sống. Sau
khi tập trung thêm nữa, ông thầy bói tuyên bố: “Tôi
có thể liên lạc với đứa con này. Tôi thấy cậu ta
đang ở trong một ngôi nhà xây bằng đá ở đông nam
Mạc tư khoa. Anh ta là một tù binh và sẽ được về vào
năm 1954.” Người
mẹ sau đó rất ngạc nhiên khi thấy con bà đã trở
về vào khoảng đầu năm 1954 đúng như lời tiên đoán.
Ông thầy bói cũng là cốt đồng có khả năng xuất
hồn và bằng khả năng tìm kiếm người hay vật mất
tích dựa vào hình ảnh của người hay vật đó
(psychometry) với sự trợ giúp của tà linh trong thế
giới siêu hình. Những trường hợp trên cho thấy những khía cạnh hấp dẫn của các họat động thông linh: tìm kiếm người mất tích, đồ vật quí giá bị mất, tìm hiểu hậu vận, tương lai... mà ma quỉ, trong một giới hạn nhất định có thể biết được, và qua trung gian những người có cốt đồng hoạt động trong các lãnh vưc thông linh, ma quỉ, tà linh, là thuộc hạ của Sa-tan có thể đưa con người vào trong xiềng xích vô hình nhưng khó thoát của chúng. Những hiện tượng siêu nhiên trong các hoạt động thông linh, xem ra rất bí mật, lạ lùng, khoa học không giải thích được nhưng lại rất hấp dẫn, đầy tính thuyết phục đối với nhiều người. Tuy nhiên nếu đem đối chiếu những hiện tựơng lạ lùng đó, như trong thuật viễn khiển, làm đồ đạc di chuyển, thậm chí bay lơ lửng... với những phép lạ Chúa làm được ghi trong Kinh Thánh, chúng ta thấy những hiện tượng lạ do ma quỉ tác động phần lớn tầm thường và vô nghĩa. Khi Đức Chúa Trời sai Môi-se và A-rôn ra mắt Pha-ra-ôn Ai Cập, các thuật sĩ Ai-cập cũng làm được một số các dấu lạ, nhưng so với các phép lạ, và các tai ách Chúa dùng Môi-se làm chúng ta có thể thấy rõ khác biệt đó. Tương
tự, khi xem lại các phép lạ Chúa Giê-xu cùng các sứ
đồ làm trong thời Tân Ước, so với các pháp thuật
Si-môn thuật sĩ , của Ê-ly-ma hay của ma quỉ chúng ta
có thể phân biệt và phân loại được ngay. Ma quỉ, tà
linh trong thế giới vô hình có thể tạo ra được
nhiều hiện tượng lạ, nhưng chúng không thể vượt
qua những giới hạn Đức Chúa Trời đặt ra cho chúng.
Đức Chúa Trời chúng ta thờ phượng vẫn là Đấng
Chủ tể tối cao, tối đại.
Ngài đang cầm quyền trên muôn loài vạn vật, là
Chúa của mọi thần linh và vì vậy là con cái Chúa,
thuộc về Chúa chúng ta không có lý do gì để sợ hãi
ma quỉ, tà linh. Tuy
nhiên, những người vì dại dột, thiếu hiểu biết
hay vì hiếu kỳ, tham gia vào các hoạt động thông
linh, là đã tự đặt mình vào một tình huống vô cùng
nguy hiểm, đưa thân vào trong sự khống chế trực
tiếp của ma quỉ, vốn mạnh hơn con người.
Chỉ có
một giải pháp duy nhất cho những người đó thoát
khỏi xiềng xích của ma quỉ là kêu cầu danh Chúa Giê-xu. 2.
Các Hiện Tượng Ma Thuật (Magic Phenomena) Cho
đến nay chúng ta thấy phạm vi thể hiện quyền lực
của sự tối tăm khá rộng rãi, và điều này giúp chúng
ta giải thích tại sao những người thực hành thông
linh đã có thể tạo ra được nhiều hiện tượng ma
thuật dùng để tấn công, ức hiếp, hãm hại những
người chúng ghét. Chúng có thể khiến một người đau
ốm hay bỗng nhiên rơi vào tình trạng căng thẳng
thần kinh đến mức độ rối loạn và phải nghỉ
việc. Tất nhiên cũng có những trừơng hợp căng
thẳng thần kinh vì lý do tâm lý, vì áp lực của
cuộc sống, những lo lắng buồn phiền tích tụ nhiều
năm tháng, nhưng những trường hợp chúng ta nêu trên
do tác động của ma thuật, xảy ra một cách khá đột
ngột và không thể giải thích bằng các nguyên nhân tâm
lý. Sử dụng bùa ngãi để thư, ếm hay dùng bùa hộ
mạng cũng là những hình thức sử dụng ma thuật để
làm hại kẻ thù hay để chống lại quyền lực ma
thuật tấn công. Việc
sử dụng các loại bùa hộ mệnh như đeo móng cọp, răng
cọp, nanh heo rừng khá phổ biến giữa vòng những người
lính trong đó có cả sĩ quan người kinh cũng như người
dân tộc và thông thường nhất là người Khmer.
Trẻ con ở nông thôn Việt nam, nhất là những
trẻ “khó nuôi” hay được cho đeo bùa thường là
một sợi chỉ ngũ sắc để không bị ma quỉ khuấy phá
hay “bắt”. Túi
đựng tỏi, nhánh xương rồng cũng thường được dùng
làm những vật “trừ tà” trong các nhà ở nông thôn.
Thợ mộc dựng nhà cũng thường được gia chủ
đối đãi rất tử tế, nếu không có thể bị ếm chú
khiến cho căn nhà ở không yên, hoặc là làm ăn thất
bại hay bị đau ốm bịnh tật…
Ngay tại Mỹ, nhiều nơi thờ cúng có những nhà sư Thái lan, Cambodge, Ấn độ trụ trì. Ngoài việc coi sóc nơi thờ cúng họ cũng sẵn sàng cung cấp những loại bùa đáp ứng những nhu cầu khác nhau cho khách thập phương. Anh Tony Trương (không phải tên thật) đã từng đi xin “bùa yêu” giúp cho anh khi tiếp xúc với người khác, nhất là người khác phái, sẽ được cảm tình. Một nhà sư Thái Lan, cũng là thầy bùa đã dội lên đầu anh một bình nước đã làm phép. Từ đó, anh thấy nhiều người trong sở làm thay đổi hẳn thái độ, trở nên thân mật, niềm nở với anh. Tuy nhiên hiệu quả của “bùa yêu” chỉ có thời hạn. Sáu tháng sau anh phải trở lại, trả tiền để được gia hạn. Đã có lần anh quên không đi gia hạn, thì thời gian sau đó anh thấy như bị trầm uất, buồn khổ không thể chịu nổi. Anh biết mình bị cột trói vào quyền lực vô hình của bùa ngãi không thể thoát ra. Anh tìm đến với Chúa, nhưng rất tiếc đã không thực sự ăn năn, không thực sự đặt trọn lòng tin nơi Chúa nên tình trạng nô lệ cho ma quỉ không tháo gỡ được. (còn
tiếp)
|
|
|
|