![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt
Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
TRAO VÀ NHẬN |
|
|
|
“Hãy
lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Giê-xu Christ giữ các
giáo huấn hữu ích là điều con đã nhận lãnh nơi ta.
Hãy nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà
giữ lấy điều phó thác tốt lành” (c. 13,14) Drew
Zahn là
trợ bút tạp chí Leadership trong số mùa xuân
2002 viết một bài nói về các mục vụ nối
kết thế hệ (intergenerational ministries) nêu lên nhu
cầu tạo điều kiện cho các thành phần thuộc nhiều
hạng tuổi khác nhau trong Hội Thánh có các hình thái
sinh hoạt chung, tạo cảm thông đưa đến việc thu
hẹp các khoảng cách thế hệ, trong đó ông trích dẫn
lời một lãnh tụ Hội Thánh bảo rằng, “Xin đừng nói
gì thêm về cái khoảng cách thế hệ này nữa mà hãy
xây một cây cầu nối kết thế hệ!”
Đây chính là điều thánh Phao-lô đã làm gần
hai nghìn năm trước và đã thành công mỹ mãn qua một
tiến trình chúng ta có thể gọi là tiến trình trao và
nhận giữa ông và Ti-mô-thê. Trong
các mối quan hệ tương đối lâu dài của con người,
thường có một diễn trình âm thầm xảy ra là
diễn trình trao và nhận, dù các đối tượng có ý
thức hay không, và theo bất cứ chiều hướng hay mức
độ nào: trao và
nhận giữa bạn bè, giữa các thành viên trong Hội thánh,
giữa anh chị em trong gia đình, giữa vợ chồng… Nói
cách khác, diễn trình trao và nhận này chính là ảnh hưởng
hỗ tương giữa những cá nhân có các mối quan hệ
chung. Chúng ta có
thể đơn cử một dạng trao và nhận từng thấy xảy
ra trong cộng đồng Cơ-đốc khi một nữ tín hữu
quyết định lập gia đình với một thanh niên chưa tin
Chúa. Mối quan
hệ hôn nhân được thiết lập và tức khắc tiến trình
trao và nhận khởi sự và sau một thời gian, “may
ra” thì người chồng tin Chúa nhưng thông thường là
đức tin người vợ sẽ sa sút đưa đến hậu quả khó
tránh là người tín đồ sẽ bỏ nhóm, bỏ Hội Thánh.
Hậu quả nghiêm trọng của diễn trình trao và
nhận trong trường hợp trên cho
thấy tầm quan trọng của diễn trình này trong
những lãnh vực khác, nhất là trong lãnh vực trao và
nhận sứ mạng thuộc linh giữa các thế hệ trong Hội
Thánh. Trong
thư Ti-mô-thê thứ nhì, Phao-lô đã đúc kết tiến trình
trao và nhận đó giữa ông và người con thuộc linh “rất
yêu dấu” có lẽ đã tin nhận Chúa
Giê-xu qua chức vụ rao giảng Tin lành của ông
trong hành trình truyền giáo đầu tiên (cf. Công Vụ
16:1-3). Từ ngày
đó, mối quan hệ hơn hai mươi năm giữa Phao-lô và
Ti-mô-thê ngày càng trở nên thắm thiết.
Chúng ta sẽ trích dẫn một số câu trong II Tim-mô-thê
đề cập đến mối quan hệ sâu sắc này. “Ta
cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương
tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm, cả ngày lẫn
đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện.
Vì ta nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm
con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ.
Ta cũng nhớ đến đức tin thành thật của con là
đức tin trước đã ở trong Lô-ít bà ngoại con, và
trong Ơ-nít, mẹ con, ta chắc rằng nay cũng ở trong con
nữa. Vậy
nên ta khuyên con hãy nhen lại ơn của Đức Chúa Trời
ban cho, mà con đã nhận lãnh bởi sự đặt tay của ta.
Vì Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm
thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình yêu
thương và giè giữ. Vậy
con chớ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng
đừng lấy sự ta vì Ngài ở tù làm xấu hổ; nhưng hãy
cậy quyền phép Đức Chúa Trời mà chịu khổ với Tin
Lành…Hãy lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Giê-xu
Christ giữ các giáo huấn hữu ích là điều con đã
nhận lãnh nơi ta. Hãy
nhờ Đức Thánh Linh ngự trong chúng ta mà giữ lấy điều
phó thác tốt lành… Vậy
hỡi con, hãy cậy ân điển trong Chúa Cứu Thế Giê-xu
mà làm cho mình mạnh mẽ.
Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt
nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy ngưòi trung
thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác.
Hãy cùng ta chịu khổ như môt người lính giỏi
của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Khi một người đi ra trận thì chẳng còn lấy
việc đời làm lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng
kẻ chiêu mộ mình. Cũng
một lẽ đó, người đấu sức trong diễn trường
chỉ đấu nhau theo luật lệ thì mới được mão
triều thiên. Người
cày ruộng đã khó nhọc thì phải trước nhất được
thâu hoa lợi. Hãy
hiểu rõ điều ta nói cho con, và chính Chúa sẽ ban cho
con sự khôn ngoan trong mọi việc” (II Ti-mô-thê
1:3-8, 13-14; 2:1-7) Con
người không thích cô đơn.
Nếu có ai phải sống một mình thường đó là
một hoàn cảnh bất đắc dĩ chứ không do người ta
tự chọn. Biện
pháp trừng phạt thông thường của xã hội xưa và nay
dành cho phạm nhân là bỏ tù, nghĩa là cách ly anh ta
với gia đình, với xã hội, vì biết chắc rằng con người
sẽ đau khổ trong cô đơn.
Chính trong những ngày cô đơn này trong nhà tù
tại Rô-ma, Phao-lô đã viết thư II Ti-mô-thê.
Trước
khi nói về bối cảnh bức thư, chúng ta trở lại
khoảng thời gian hai năm trước đó. Sau chuyến hành trình
truyền giáo thứ ba (Công Vụ
18: 23- 21:17), Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem, bị cáo
gian và bị bắt. Ông
khiếu nại lên hoàng đế La-Mã nên được đưa đến
Rô-ma rồi bị giam tại đây hai năm.
Tuy nhiên tình trạng giam giữ không khắt khe
lắm, ông đuợc phép ở nhà trọ, dưới sự giám sát
của một người lính, được tự do tiếp khách,
giảng đạo và không bị một ngăn trở nào (Công Vụ
28:30,31). Sau hai năm
Phao-lô được tha và khởi sự hành trình truyền giáo
lần thứ tư khoảng năm 62- 63 S.C.(không ghi trong Công
Vụ). Đây cũng là
thời gian ông viết thư I Ti-mô-thê và Tít.
Không
lâu sau đó, Phao-lô bị bắt một lần nữa, cũng lại
bị đưa về giam giữ tại Rô-ma nhưng lần này
không được đối xử tử tế như lần trước mà
gần như bị biệt giam trong một nhà tù bí mật (1:17),
lạnh lẽo (4:13) có lúc còn bị xiềng xích nữa (1:16).
Đau buồn hơn là ông bị nhiều người thân yêu
quên lãng, bỏ rơi, trong đó có Đê-ma (4:9) và những
người ở A-si (1:15). Đây
là thời gian Phao-lô viết thư Ti-mô-thê thứ hai.
Ngoài tâm trạng cô đơn trong lao tù, trong tuổi
già, đau buồn vì bị lãng quên, ông cũng linh cảm được
ngày ông sắp vĩnh biệt cuộc đời, “Ta đang bị
đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi”
(4:6), cho nên
những gì ông viết có
tính chất của một di chúc để lại cho đứa con
thuộc linh yêu quí một gia tài vĩ đại bao gồm những
giáo huấn khôn ngoan nhất, chắt lọc từ một đời
gian nan sóng gió, đầy can đảm - một đời tận hiến
cho Chúa. I.
Phao-lô đã trao lại những gì? 1.
Trao lại một cuộc đời có mục đích rõ ràng (c.1,
9-12). Không
bao giờ Phao-lô có một chút băn khoăn nào về chức
vụ sứ đồ hay sứ mạng rao giảng Tin Lành.
Ông biết chắc chức sứ đồ của ông do Chúa
ban và Tin Lành ông rao giảng là một mặc khải trực
tiếp từ Chúa nên ông sẵn sàng vì Tin Lành đó mà
chịu khổ. Theo gương
Chúa Giê-xu ông coi việc rao giảng Tin Lành không phải
là một công tác phải thi hành nhưng là lẽ sống.
Khi cuộc đời chúng ta không có mục tiêu rõ ràng
chúng ta sẽ làm cho những người chịu ảnh hưởng
của chúng ta hay thế hệ tiếp nối bối rối!
Khi không khẳng định được mục tiêu đời mình
hiển nhiên chúng ta sẽ không biết phải trao lại
những gì! Nếu
con đường chúng ta đang đi chỉ là một trong những
chọn lựa tình cờ hay bất đắc dĩ của những toan tính
riêng, chúng ta sẽ không có gì để trao lại, vì nếu
có thì lại chỉ là những cái thuộc về ý riêng, sẽ
tiêu mòn, tan rã theo thời gian. 2.
Trao lại một sứ điệp có quyền năng sự sống (c.
1,10) Thập
tự giá của Chúa Giê-xu người Do Thái cho là xấu xa,
dân ngoại cho là dồ dại, Phao-lô vẫn rao giảng, bất
chấp khen chê. Ông
tận dụng mọi cơ hội để rao giảng “bất luận
gặp thời hay không” vì chính ông đã kinh nghiệm
quyền năng giải phóng của Tin Lành, cũng như đã
thấy quyền năng đó được thể hiện trong vô số người
tiếp nhận. Hiển
nhiên, khi không kinh nghiệm quyền năng của thập tự
giá, chúng ta sẽ truyền lại sứ điệp này không có
quyền năng của sự sống, sẽ phát lại một cách máy
móc những gì mình cũng đã tiếp thu một cách máy móc.
Tin lành rao giảng như một nghiệp vụ, dù hùng
hồn đến mấy cũng không có năng lực vực các xác
chết sống dậy! 3.
Trao bằng một mối liên hệ sống (1:2-5) Trao
và nhận là một diễn trình khởi sự từ một mối
quan hệ. Không
thiết lập được một mối quan hệ sinh động, tiến
trình trao và nhận sẽ gặp trở ngại.
Phao-lô đã thiết lập mối quan hệ thâm sâu
với Ti-mô-thê như thế nào? Đầu
tiên là tại Lít-trơ (Công Vụ 16:1). Có
lẽ trước đó bà
ngoại và mẹ Ti-mô-thê đã tin Chúa trong các lần
truyền giảng Tin Lành của Phao-lô và đức tin của
họ đã có ảnh hưởng sâu đậm trên tâm hồn Ti-mô-thê
từ những năm thơ ấu.
Chính tại Lít-trơ, Phao-lô đã làm lễ cắt bì
cho Ti-mô-thê để tránh những rắc rối không cần
thiết đối với những người Do Thái quá khích.
Cũng chính tại đây Phao-lô quyết định cho Ti-mô-thê
tháp tùng trong các hành trình truyền giáo.
Có thể nói đây là phương pháp hữu hiệu nhất
của tiến trình trao, được gọi là phương pháp
“vừa học vừa làm.” Dù
cha Ti-mô-thê là người Hy-lạp nhưng Phao-lô đã không
để cho thành kiến Do Thái ảnh hưởng đến mối quan
hệ này. Đối
với Phao-lô, điều quan trọng nhất không phải là
chủng tộc hay huyết thống, nhưng là đức tin chân
thật, “Ta cũng nhớ đến đức tin thành thật của
con, là đức tin trước đã ở trong Lô-ít
bà ngoại con và trong Ơ-nít, mẹ con, ta chắc
rằng nay cũng ở trong con nữa.” Phao-lô cũng đã hàng
ngày bồi đắp cho mối quan hệ này trong giờ cầu
nguyện, “cả ngày lẫn đêm, ta ghi nhớ con không thôi
trong khi cầu nguyện…” Trong
tiến trình trao và nhận đôi khi chúng ta e ngại những
khác biệt thế hệ, khác biệt
chủng tộc, khác biệt ngôn ngữ, khác biệt văn
hoá… Chúng ta đã
thấy nhiều khác biệt như thế giữa Phao-lô và Ti-mô
thê: Phao-lô là một người Do Thái lớn tuổi, Ti-mô-thê
còn rất trẻ, lại có cha là người Hy-lạp… Tuy
những khác biệt này có thể ảnh hưởng đến tiến
trình trao và nhận, nhưng chúng ta không nên quên rằng
đó chỉ là những điều phụ so với những điểm
chung lại là những yếu tố căn bản: (1) Đức tin và
Tình yêu và (2)
Chức vụ rao giảng Tin lành. (1)
Về đức tin, Phao-lô đã nêu lên giá trị của truyền
thống đức tin trong gia đình, gia đình ông và gia đình
Ti-mô-thê. “Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu
việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm…”
Ông đã đi trên con đường tin kính, phục vụ Đức
Chúa Trời như tổ tiên ông đã sống.
Ông đã được sinh ra và nuôi dưỡng trong môi trường
kính sợ Đức Chúa Trời mà ông coi là một đặc ân,
một niềm hãnh diện, cũng là giai đoạn chuẩn bị cơ
bản nhất cho cuộc đời phục vụ Chúa.
Phao-lô cũng thấy ngay kinh nghiệm này trong đứa
con thuộc linh và thấy được ảnh hưởng sâu đậm đức
tin của bà ngoại, của mẹ đối với Ti-mô-thê. Trao
lại đức tin cho thế hệ mai sau là một tiến trình lâu
dài, khởi sự từ trong gia đình và từ khi con cái còn
thơ dại, “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó
phải theo, dầu khi nó trở về già cũng không hề lìa
khỏi đó” (Châm Ngôn 22:6 cf. Phục Truyền 6:6ff.) Có
lẽ đây là một trong những giáo huấn quen thuộc
nhất nhưng cũng khó thi hành nhất trong các gia đình Cơ-đốc
hôm nay. Tuy nhiên,
đối với Lời Chúa, chúng ta không thể nào bỏ qua mà
thoát khỏi hậu quả. Động
cơ khiến Phao-lô có thể kiên trì trao hết tâm chí cho
Ti-mô-thê và được tiếp nhận với cả lòng nhiệt thành
chính là tình yêu ông đã dành cho đứa con thuộc linh.
Phao-lô đã minh thị nói lên điều đó, “cả
ngày và đêm ta ghi nhớ con…ta nhớ đến nước mắt
con…”; “Hãy lấy lòng tin và yêu trong Đức Chúa Giê-xu
Christ giữ các giáo huấn hữu ích là điều con đã
nhận lãnh nơi ta.” Người trao đã trao bằng đức
tin và tình yêu, nhưng người nhận cũng phải nhận
bằng tình yêu và đức tin. (2)
Yếu tố chức vụ. Phao-lô
là người đặt tay phong chức Mục sư cho Ti-mô-thê
(c.6) cũng là người dìu dắt Ti-mô-thê trong đường
phục vụ Chúa. Đây
chính là những kinh nghiệm khiến cả hai ngày càng thân
thiết với nhau hơn. Những
xẻ chia trong đức tin và trong sự phục vụ Chúa thường
là những chia xẻ thâm sâu hơn hết; nó đẩy người
ta đến gần nhau để được cùng nâng lên gần Chúa. Một
kinh nghiệm phổ biến hơn hết trong chức vụ đó là
mối thông công sâu đậm nhất giữa con người không
phát triển từ các cuộc vui chơi, từ các bữa ăn vui
vẻ, nhưng từ những tháng ngày trung tín chia xẻ trong
sự học Lời Chúa và hầu việc Ngài.
Gần 40 năm đã trôi qua, nhưng tôi vẫn không quên
những năm ngắn ngủi được hướng dẫn một nhóm
thiếu niên ở nhà thờ Nguyễn Tri Phương học Kinh Thánh,
và đến nay tôi không ngờ có nhiều người (hồi đó
là thiếu niên, bây giờ có người đã là… ông bà
ngoại!) vẫn còn tin Chúa và vẫn còn nhắc đến
những ngày đó. 4.
Trao trong bối cảnh Hội Thánh (II Ti-mô-thê 2:2) Tất
cả những gì Phao-lô trao lại cho Ti-mô-thê đều là để
vị mục sư trẻ này gây dựng Hội Thánh Ê-phê-sô, nơi
Phao-lô đã đổ cả tâm huyết gần trọn ba năm (Công
vụ 20: 31). Bây giờ ông giao lại cho Ti-mô-thê tiếp
nối chức vụ tại đó với thái độ hoàn toàn tin
cậy (I Ti-mô-thê 1:3). Chỉ
cần đọc lại những lời ông căn dặn trong hai bức
thư, chúng ta có thể nhận ra ngay những trách nhiệm vô
cùng nặng nề, vô cùng khó khăn Ti-mô-thê phải gánh vác:
giáo sư giả chống đối, tà giáo xâm nhập Hội Thánh,
những trách nhiệm quản trị vừa phức tạp vừa tế
nhị, những nhu cầu tâm linh của bầy chiên phải đáp
ứng, trách nhiệm rao giảng Tin Lành không được xao lãng…
từ đó chúng ta thấy được mức độ trưởng thành
của Ti-mô-thê trong đời sống cá nhân cũng như trong
chức vụ chăn bầy. Dựa
vào trường hợp điển hình này, chúng ta có thể
khẳng định rằng môi trường trao và nhận lý tưởng
là Hội Thánh. Ti-mô-thê
đã được nuôi dưỡng và trưởng thành trong Hội Thánh.
Chủng viện Ti-mô-thê tốt nghiệp là Hội Thánh.
Chủng viện Ti-mô-thê tiếp tục học cũng là
Hội Thánh. Hội
Thánh là nơi Ti-mô-thê được trang bị, cũng là nơi ông
phục vụ. Phao-lô
đã chọn môi trường Hội Thánh để trao cho Ti-mô-thê
cuộc đời của ông, sứ mạng của ông, ước vọng
của ông và Phao-lô đã thành công mỹ mãn. Từ trong
Hội Thánh, và chỉ trong Hội Thánh, phát sinh mối liên
hệ sống động, thâm sâu, đó cũng là một phần của
phần thưởng quí giá Chúa dành cho người hầu việc
Chúa. Leonardo
da Vinci học hội họa với một danh sư.
Ngày kia thầy bảo vẽ tiếp một bức họa thầy
vẽ dở dang, da Vinci sợ, không dám nhận, sợ làm
hỏng tác phẩm của thầy.
Thầy bảo, “Con cứ cố gắng hết sức!”
Da Vinci không dám cãi lời, đành nhận nhưng sau
khi khởi sự làm việc ít ngày, ông dần dần thấy
tự tin và cũng thấy khả năng hội họa tiềm tàng
trong mình được cơ hội thể hiện.
Nhiều tháng trôi qua, khi bức tranh hoàn tất,
da Vinci đưa cho thầy xem.
Ngắm bức tranh hồi lâu, ông thầy ôm choàng
Leonardo da Vinci bảo rằng, “Con ơi!
Từ nay ta không cần vẽ nữa!” Tiến
trình trao đã hoàn tất. II.
Ti-mô-thê Đã Nhận Như Thế Nào? Nhiều
người sẵn sàng trao nhưng không phải lúc nào cũng có
người nhận. Hiển nhiên tiến trình trao và nhận sẽ
gặp trở ngại nếu chúng ta chỉ lo chuẩn bị trao mà không
chuẩn bị người nhận.
Nhiều tôi tớ Chúa cao tuổi tha thiết mong có người
tiếp nối chức vụ, nhưng không dễ tìm ra Ti-mô-thê
hay Tít. Lý do
rất đơn giản: chúng ta đã không lưu tâm đủ đến
việc chuẩn bị người nhận, nhất là thời điểm
chuẩn bị người nhận. Tiến
trình chuẩn bị người nhận lý tưởng không bắt đầu
từ tuổi thanh niên, nghĩa là sau khi tốt nghiệp trung
học hay đại học, nhưng là càng sớm càng tốt.
Tốt nhất là từ những năm thơ ấu (Châm Ngôn
22: 6; Phục Truyền 6: 6ff.).
Kinh nghiệm của Ti-mô-thê là bài học cho chúng
ta hôm nay đã được Phao-lô đã nêu lên, khi ông nhận
xét rằng Ti-mô-thê đã được dạy Lời Chúa từ thơ
ấu do những người có cuộc sống gương mẫu tốt lành
(II Ti-mô-thê 1:5; 3:14,15).
Chúng ta vẫn sẽ tiếp tục chuẩn bị cho các
bạn trẻ và các em thiếu niên trong Hội Thánh trong
việc tiếp nhận di sản thuộc linh được trao
lại, nhưng không nên quên rằng thời điểm tốt
nhất chuẩn bị cho tiến trình trao và nhận là những
năm thơ ấu. Trong
Tập San Leadership số mùa xuân 2002, Nancy Martinez
đặc trách Cơ-đốc giáo dục ở Brooklyn Tabernacle ở
New York viết bài
Gather the Children to Pray (Gom Thiếu Nhi Lại Để
Cầu Nguyện) đã kể lại kinh nghiệm khởi đầu
mục vụ tổ chức buổi cầu nguyện của các em thiếu
nhi, cách đây 20 năm và tiếp tục không gián đoạn cho
đến hôm nay. Khi
có người nhận xét, “Các cháu thiếu nhi cầu nguyện
dễ thương quá!” Nancy Martinez đã trả lời, “Thưa,
không dễ thương đâu mà là đầy quyền năng!”
Với đức tin đơn sơ nơi Chúa, các em đã dám
cầu nguyện những điều người lớn tránh né.
Các em là những chiến sĩ cầu nguyện và lời
cầu nguyện của các em làm rúng động thiên đàng khi
Đức Chúa Trời đáp ứng đức tin của trẻ thơ!
Sẽ có những Hội Thánh Việt nam nào khởi sự
gom các em thiếu nhi lại cầu nguyện để chuẩn bị các
em cho việc tiếp nhận di sản thuộc linh và tiếp nối
thế hệ đang qua đi? 1.
Duy trì mối liên hệ lâu dài. Phao-lô chọn
Ti-mô-thê và giữ mối liên hệ lâu dài với Ti-mô-thê.
Người thanh niên này đã đáp ứng bằng sự vâng
lời, trung tín và trung thành.
Những trách nhiệm Phao-lô giao phó Ti-mô-thê đã
tận tình làm trọn. Thông
thường người nhận vì không trung tín, không trung thành
hay không vâng lời khiến cho tiến trình nhận dở dang,
không hoàn tất, đồng thời làm cho mối liên hệ gãy
đổ. Mối liên
hệ với người linh hướng (mentor) cần được duy trì
lâu dài, nhiều khi suốt đời. 2.
Mở rộng khả năng tiếp nhận.
Một trong những động cơ thúc đẩy Phao-lô tận
tình trao và trao hết di sản thuộc linh cho Ti-mô-thê là
thái độ tích cực tiếp nhận của Ti-mô-thê.
Ngày nay thái độ tích cực tiếp nhận của
những Ti-mô-thê tân thời đã bị giới hạn rất
nhiều bởi thành kiến và những quan niệm không đúng.
Thí dụ như những người trẻ đã để những
yếu tố như tuổi tác, văn hóa, ngôn ngữ… cản trở
tiến trình trao và nhận khi cho rằng người linh hướng
của mình thuộc thế hệ trước, không hiểu văn hoá
Mỹ, không nói thông thạo tiếng Mỹ… vì những gì
của Mỹ mới đúng, mới tốt...
Thật ra cần nhận định rằng, đây không phải
là những yếu tố cơ bản của di sản thuộc linh.
Di sản thuộc linh vượt lên trên tuổi tác, địa
phương, văn hoá và ngôn ngữ! Một
bà mẹ dắt đứa con sáu tuổi vào tiệm bánh kẹo quen
của gia đình. Đang
khi cậu bé đứng ngẩn người nhìn hàng dãy bình
thủy tinh lớn đựng đủ loại kẹo, ông chủ tiệm
bảo, “Thích kẹo nào cho cháu một vốc đó!”
Cậu bé đứng yên không phản ứng.
Ông chủ nhắc lại nhưng dường như cậu bé không
nghe. Đến phiên bà
mẹ nói, “Bác cho thì con cứ lấy đi, mẹ cho phép đấy!”
Cậu bé không đụng đậy, vẫn đứng tần ngần bên
cạnh những bình kẹo đầy quyến rũ.
Ông chủ tiệm liền bước lại, mở hũ, bốc cho
một nắm loại kẹo ngon nhất.
Lúc này thì cậu bé đưa cả hai tay ra nhận,
miệng thưa, “Cháu cám ơn bác.”
Ông chủ khen, “Ừ giỏi lắm!” Khi
hai mẹ con về nhà, bà mẹ thắc mắc, “Hồi nãy, lúc
đầu bác bảo con lấy kẹo, mẹ cũng cho phép, sao con
không lấy?” Cậu bé trả lời rõ từng tiếng, “Con
đợi vì tay bác to hơn!” Hãy
để những người có “bàn tay thuộc linh” to lớn
trao lại cho mình. Người đó sẽ lựa những điều
tốt nhất và trao lại đầy đủ nhất. 3.
Nhận Để Truyền Lại.
Mọi người đều biết rằng nước ao tù dơ vì
không thông thương. Chỉ
tiếp nhận mà không chia xẻ, không sử dụng sẽ làm
cho di sản rỉ sét, hư hỏng.
Nguyên tắc thuộc linh rất căn bản về các ta-lâng
cần được áp dụng tại đây.
Phao-lô đã nhắc lại cho Ti-mô-thê điều đó, “Những
điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người
chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có
tài dạy dỗ kẻ khác” (2:2).
Hiển nhiên, khi Ti-mô-thê thực hiện việc trao
lại này, ông đã khép kín chu trình “trao và nhận”,
đã hoàn tất một sứ mạng được ký thác.
Để trao lại, Ti-mô-thê cũng phải đi con đuờng
Phao-lô đi, “chịu khổ như một người lính giỏi
của Chúa Cứu Thế Giê-xu”.
Nhận là một tiến trình và trao cũng lại là
một tiến trình gần như song song.
Hai tiến trình này xảy ra cùng một lúc sẽ làm
cho Ti-mô-thê cảm thấy mình chỉ là một phương
tiện, một ống dẫn trong tay Đức Chúa Trời, và không
có gì để kiêu hãnh! Điều
lớn nhất tôi có thể trao là gì? – Không phải kiến
thức hay tiền bạc nhưng là chính tôi.
Trao chứ không phải là “để lại” như để
lại một tác phẩm, một công trình, một gia tài, một
“sự nghiệp.” Tôi
phải trao khi đang sống và đang phục vụ.
Điều tôi trao có sự sống cho nên người tiếp
nhận cũng phải tiếp nhận bằng sự sống.
Cuộc đời tôi trao lại thế hệ tiếp nối có
thể nhận phải là cuộc đời có một mục đích rõ ràng,
có sứ điệp sống, qua mối liên hệ sinh động, trong
môi trường sống là Hội Thánh!
Tôi cần chuẩn bị để trao lại một cuộc đời
lành lặn, không què quặt, trao lại một tâm trí sáng
suốt, quân bằng, một trái tim mạnh mẽ không thương
tật. Trao lại
một cuộc đời sống chết với Tin Lành của Chúa Giê-xu
và gắn bó với Hội Thánh Ngài rất mực yêu thương.
Trao lại một cuộc đời thay đổi thế giới như
muối, như ánh sáng, lúc nào cũng chấp nhận tiêu hao
để tỏa sáng, chấp nhận tan ra để thấm nhập môi
trường. Viết cho
Ti-mô-thê, Phao-lô bảo rằng sự sống ông đang đổ ra
như lễ quán – đổ sự sống ra như Chúa của ông đã
đổ ra trên đồi Sọ. Chúng
ta chỉ thực sự trao khi không còn giữ lại một chút
gì. Cuối cùng, tiến trình trao chỉ thực sự hoàn
tất khi sự sống đổ ra
có được những cuộc đời tiếp nối đón nhận. Mục
Sư Nguyễn Đăng Minh (Bài
Giảng Đêm Thanh Niên 14/7 trong HĐGH 27th)
|
|
|
|