Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

PHỤ NỮ TRONG KINH THÁNH

 

 

   

 

     

 

 

 

Qua hai bài trước, chúng ta đã biết bà A-bi-ga-in là một phụ nữ xinh đẹp, thông minh, có tinh thần trách nhiệm, biết Chúa và kính sợ Ngài. Tuy sống bên người chồng vô đạo, bà vẫn là người đạo đức, vâng phục chồng và tử tế với mọi người. Dù chồng là người hung dữ, tàn ác và dù sống bên chồng không hạnh phúc, A-bi-ga-in đã không để mặc cho Đa-vít trả thù Na-banh, không xem đây là cơ hội để được giải thoát khỏi Na-banh.  Trái lại, vốn là người kính sợ Chúa và làm theo điều phải, bà A-bi-ga-in đã tìm cách giải cứu chồng và gia đình chồng. Chính nhờ sự khôn ngoan Chúa ban cho mà A-bi-ga-in đã có thể giải hòa với Đa-vít, cứu Na-banh và bảo tồn tài sản của ông.

Trong bài kỳ này chúng tôi xin trình bày những diễn biến kế tiếp liên quan đến A-bi-ga-in, Đa-vít và Na-banh mà Thánh Kinh đã ghi lại.

I Sa-mu-ên 25:36 ghi như sau:

Khi A-bi-ga-in trở về cùng Na-banh thì Na-banh đương ăn tiệc trong nhà mình, thật như yến tiệc của vua vậy. Na-banh có lòng vui vẻ và say lắm. A-bi-ga-in không tỏ cho người biết điều gì hoặc cần kíp hay chăng cho đến khi sáng.

Trong khi bà A-bi-ga-in nhìn thấy tình thế khẩn trương, nguy hiểm cho cả gia đình, và lo tìm cách giải quyết thì Na-banh, người gây ra khó khăn không nhìn thấy, cũng không suy nghĩ gì cả. Ông ta ở nhà bày tiệc ăn uống, vui vẻ và say sưa.  Kinh Thánh ghi rằng bữa tiệc đó rất lớn, như yến tiệc của vua vậy! Nhà nông sau mùa gặt hái thường tổ chức tiệc tùng để ăn mừng về số hoa màu thu hoạch được. Những người sống về nghề chăn nuôi sau mùa hớt lông chiên cũng làm tiệc để ăn mừng về số thu hoạch của mình. Na-banh là người giàu có nhưng ích kỷ và keo kiệt.  Ông tiêu xài phung phí cho mình nhưng không biết dùng sự giàu có đó để giúp người khác.

Đáng lẽ trong dịp vui mừng này Na-banh mời Đa-vít đến dự hoặc chia xẻ lương thực với binh lính của Đa-vít để cảm ơn họ đã che chở bầy chiên của ông. Nhưng Na-banh không cảm ơn mà lại còn xua đuổi và mắng nhiếc Đa-vít cùng những người theo Đa-vít. Đó là lý do vì sao Đa-vít tức giận đến độ muốn tiêu diệt cả nhà Na-banh. Na-banh thật là người điên dại, không nghĩ đến hậu quả việc mình làm. Sau khi nói nặng lời với binh lính của Đa-vít, Na-banh không sợ Đa-vít trả thù nhưng trở về nhà, tiếp tục ăn uống vui chơi.

Về phần A-bi-ga-in, sau khi gặp Đa-vít, trên đường về có lẽ bà vui mừng vì thấy chuyến đi của mình thành công. Có lẽ bà định về kể lại mọi chuyện cho chồng nghe, nhưng khi về đến nhà thấy chồng bày tiệc ăn uống tưng bừng, lại đang say sưa chẳng biết gì nên bà không nói gì với chồng và chờ cho đến hôm sau.  Bà A-bi-ga-in thật là một người vợ cô đơn. Bà có một người chồng quá khác với bà. Trong khi bà khôn ngoan, đạo đức, cư xử phải lẽ với mọi người thì chồng là người nóng nảy, hung dữ, lại còn hoang phí và say sưa. Trong khi bà thấy khó khăn xảy đến, lo tìm cách giải quyết thì chồng chẳng để ý nhưng cứ ăn uống vui chơi. Lúc đó nếu có ai nói với Na-banh là khó khăn và tai vạ đang chờ đợi chắc ông cũng không tin. Bà A-bi-ga-in có điều muốn nói với chồng nhưng không nói được, bà chỉ biết kiên nhẫn chịu đựng.

Sáng hôm sau, thấy chồng đã hết say, bà A-bi-ga-in bèn kể lại cho chồng nghe mọi việc. Kinh Thánh ghi như sau: “Nhưng sáng mai, khi Na-banh đã giã say rồi, vợ người thuật lại hết.” Khi nghe vợ kể lại những nguy hiểm có thể xảy ra và những điều vợ đã làm để cứu gia đình ra khỏi nguy hiểm, Kinh Thánh cho biết phản ứng của Na-banh là “Lòng người bèn kinh hoảng, trở thành như đá.”  Bản Thánh Kinh Diễn Ý dịch là: “Lòng ông chết điếng, người trơ như đá.” Có lẽ Na-banh không ngờ những lời ông nói với binh lính Đa-vít có thể gây nguy hại lớn lao như vậy. Nhưng ông ta quên rằng vợ ông đã giải hòa với Đa-vít và mọi chuyện đã được giải quyết tốt đẹp.

Một nhà giải nghĩa Kinh Thánh nọ giải thích rằng, có thể Na-banh quá giận vợ tại sao xen vào việc của ông, dám tự ý đi gặp Đa-vít mà không hỏi ý ông, cũng có thể Na-banh kinh hoảng khi biết mình quá gần kề cái chết mà không hay. Dù vì lý do gì thì các nhà giải nghĩa Kinh Thánh đoán rằng Na-banh bị tai biến mạch máu não, hoặc lên cơn đau tim, nên người cứng trơ như đá, không còn biết gì nữa và mười ngày sau thì ông chết.  Cuộc đời vô nghĩa của một người vô đạo đã đến lúc phải chấm dứt. Kinh Thánh cho biết, “Cách chừng mười ngày sau, Đức Giê-hô-va đánh phạt Na-banh và ông chết” (I Sa-mu-ên 25:38).

Khi nghe tin Na-banh chết, Đa-vít ca ngợi Chúa rằng: “Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay, vì đã xử đoán sự sỉ nhục mà tôi bị bởi Na-banh, và đã giữ tôi tớ Ngài khỏi làm điều ác!” (I Sa-mu-ên 25:39). Đúng như lời bà A-bi-ga-in nói trước đó, Đa-vít vui mừng cảm tạ Chúa chứ không có gì phải ân hận trước cái chết của Na-banh.  Ông không giết Na-banh để báo thù cho mình nhưng đã kiên nhẫn chờ đợi sự xét đoán công bình của Chúa. Sau khi Na-banh chết, Đa-vít sai người đến xin cưới A-bi-ga-in làm vợ, và bà nhận lời.

Có lẽ chúng ta ngạc nhiên hoặc khó chịu khi thấy tại sao chồng mới chết mà A-bi-ga-in lại bằng lòng làm vợ Đa-vít ngay. Theo luật thời xưa, người vợ kể như là tài sản của chồng, buộc chặt với chồng suốt đời, nhưng khi chồng chết, người vợ được quyền tự do lấy người khác. Hơn nữa, trong lối sống ngày xưa của người Do Thái, người đàn bà không thể ở một mình nhưng phải sống dưới sự bảo bọc của người đàn ông, cần có người đàn ông bên cạnh, bảo vệ khỏi mọi nguy hiểm và cung cấp nhu cầu trong đời sống. Trong trường hợp của bà A-bi-ga-in, bà có thể bị nguy hiểm vì sự tranh giành tài sản trong gia đình Na-banh, vì thế cách tốt nhất cho bà là bà có một gia đình khác để nương thân. Hơn nữa bà cũng đã trọn trách nhiệm với Na-banh, thật ra bà chịu đựng Na-banh đã lâu nên đây là chương trình của Chúa để giải cứu bà và ban phước cho bà.

Có người đoán rằng có lẽ bà A-bi-ga-in chết khi còn trẻ chứ không sống với Đa-vít cho đến lúc cao tuổi. Người ta lý luận rằng, khi Đa-vít đã lên làm vua và phạm tội ngoại tình với bà Bát-sê-ba, nếu có  A-bi-ga-in bên cạnh bà đã can ngăn Đa-vít, giúp ông không ngã vào tội ngoại tình và tội giết người.

Bây giờ chúng ta sẽ nhìn vào những chi tiết trong cuộc đời bà A-bi-ga-in để rút ra những bài học áp dụng cho đời sống.

 

 1. Lập gia đình với người không kính sợ Chúa sẽ không hạnh phúc

Hôn nhân của bà A-bi-ga-in là một hôn nhân không hạnh phúc, vì trong gia đình đó, Kinh Thánh cho biết, người vợ thì thông minh, xinh đẹp còn người chồng thì cứng cỏi, hung ác. Hơn nữa trong cả câu chuyện, chúng ta thấy bà A-bi-ga-in là người biết Chúa và kính sợ Ngài, còn Na-banh thì ngang ngược không nể sợ ai cả. Trong Thánh Kinh Tân Ước, Lời Chúa dạy rất rõ ràng về việc lập gia đình với người không cùng niềm tin. Sứ đồ Phao-lô viết: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin, bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng? Đấng Christ và Bê-li-an nào có hòa hiệp chi, hay là kẻ tin có phần gì với kẻ chẳng tin?” (II Cô-rinh-tô 6:14-15).  Người tin Chúa không có một điểm chung nào với người không tin, vì thế người tin Chúa không thể kết hợp với người không tin trong đời sống vợ chồng.

Có lẽ chúng ta thắc mắc tại sao một người khôn ngoan, xinh đẹp như A-bi-ga-in lại chọn một người chồng như Na-banh? Câu trả lời là, chuyện cưới hỏi trong thời Cựu Ước cũng như trong vùng quê ở các nước nghèo hiện nay, là do cha mẹ sắp đặt, có khi do hoàn cảnh đưa đến. Có lẽ cha mẹ của A-bi-ga-in thấy Na-banh giàu nên bằng lòng gả con cho Na-banh, cũng có thể vì Na-banh giàu còn A-bi-ga-in nghèo nên ông đã bỏ tiền ra mua nàng về làm vợ. Dù Kinh Thánh không nói rõ nhưng chúng ta biết, A-bi-ga-in không có quyền chọn lựa người đàn ông mà nàng kết hôn.  Ngày xưa nam nữ cũng không được gặp nhau trước ngày cưới, nên có lẽ vì thế A-bi-ga-in không biết gì về tính tình của Na-banh.

Ngày nay chúng ta không còn sống dưới những luật lệ hẹp hòi nhưng được tự do trong việc chọn người phối ngẫu. Là người tin Chúa, chúng ta phải chọn người bạn đời theo tiêu chuẩn của Thánh Kinh. Theo Lời Chúa dạy, người tin Chúa không được kết hợp trong hôn nhân với người không tin, vì hai người có niềm tin khác nhau không thể nào kết hợp làm một. Chúng tôi mong rằng ngày nay không ai  xem nhẹ lời cảnh cáo của Chúa. Nếu quý vị đang định lập gia đình với người ngoại đạo, hoặc muốn cho phép con cái lập gia đình với người ngoại đạo, ước mong quý vị sẽ xét lại quyết định của mình và vâng theo lời cảnh cáo của Lời Chúa. Đừng bao giờ cố tình bất tuân mạng lệnh của Chúa để làm theo điều mình mong muốn. Khi quyết định chọn con dường đó, chúng ta sẽ gặt lấy bất hạnh và đớn đau.

 

2. Bà A-bi-ga-in không than van hay cay đắng về hoàn cảnh bất hạnh của mình

Vì hoàn cảnh, cũng có thể vì cha mẹ đặt đâu phải ngồi đó nên nàng A-bi-ga-in đã lập gia đình với một người đàn ông, mà theo lời Kinh Thánh mô tả, không có một phẩm cách nào để là một người chồng tốt, mang lại hạnh phúc cho vợ con. Tuy vậy, chúng ta thấy bà A-bi-ga-in đã chấp nhận hoàn cảnh, hết lòng làm trọn trách nhiệm chứ không than van oán trách hay thương hại cho số phận của mình. Đối với người Do Thái ngày xưa, tên của một người thường nói lên bản tính của người đó. Như chúng ta đã biết, Na-banh có nghĩa là điên dại, còn A-bi-ga-in có nghĩa là cha của niềm vui. Chồng thì điên dại và hung dữ còn vợ thì vui vẻ. Thánh Kinh mô tả đôi vợ chồng này chỉ trong một câu ngắn  nhưng nói lên nỗi bất hạnh lớn lao của A-bi-ga-in: “Vợ thì thông minh xinh đẹp còn chồng thì cứng cỏi, hung ác” (I Sa-mu-ên 25:3).

Hoàn cảnh gia đình của bà A-bi-ga-in thật là đáng thương và đáng buồn. Mỗi ngày sống bên người chồng chẳng những thiếu khôn ngoan, tế nhị mà lại còn nóng nảy và hung ác. A-bi-ga-in có lẽ không thiếu những lúc bị chồng mắng nhiếc nặng lời hoặc có những hành động vũ phu đối với bà. Bà có đủ lý do để than thân, trách phận, để oán ghét chồng và không vâng phục chồng.  Nhưng bà đã không than van cũng không ghét chồng. Khi chuyện không hay xảy ra giữa Na-banh và Đa-vít, A-bi-ga-in có thể đến kể lể với Đa-vít, xin Đa-vít ra tay hành động để trả thù cho chính ông và giải cứu bà. A-bi-ga-in cũng có thể chạy trốn cho yên thân và để mặc cho Đa-vít tàn hại gia đình Na-banh, vì đây là cơ hội để bà được giải thoát khỏi người chồng hung ác.

Nhưng theo Kinh Thánh ghi lại, A-bi-ga-in đã không bỏ mặc cho chồng bị hại nhưng hết lòng giúp chồng. Khi nghe tin chồng làm cho Đa-vít nổi giận và quyết định trả thù, bà đã tìm cách để cứu chồng. Bà không ngần ngại hay chần chờ, dù biết rằng việc bà làm có thể nguy đến tính mạng, khi biết bà là vợ của Na-banh, Đa-vít có thể vì quá giận có thể làm hại đến bà nữa. Đức Chúa Trời nhìn thấy tấm lòng chân thật của bà đối với chồng nên Ngài đã giải cứu bà theo chương trình và phương cách của Ngài, và sau đó đã ban phước cho bà càng hơn.

Có lẽ một số quý vị cũng đang sống trong hoàn cảnh đau buồn như A-bi-ga-in ngày xưa, bên cạnh một người chồng không kính sợ Chúa, thiếu yêu thương, thông cảm, không biết phải quấy và không biết phục thiện. Cách cư xử của chồng có lẽ khiến cuộc sống của quý vị tràn đầy nước mắt và tủi nhục. Nhưng là người tin Chúa, muốn sống theo lời Chúa dạy, chúng ta không thể bỏ chồng, cũng không thể không vâng phục chồng. Chúng ta sống trong hoàn cảnh đau buồn và đen tối, không biết ngày nào mình mới được bình an, hạnh phúc. Nếu đó là hoàn cảnh thực tế mà quý vị đang đối diện, xin quý vị hãy nhìn gương của bà A-bi-ga-in ngày xưa, hãy hết lòng trung tín làm trọn bổn phận và trách nhiệm của mình, Chúa là Đấng công bình, đến đúng thời điểm Ngài sẽ giải cứu và ban thưởng xứng đáng cho quý vị. Những lời cằn nhằn, than thân trách phận về hoàn cảnh bất hạnh không giúp ích gì cho chúng ta.  Trái lại, nó chỉ khiến chúng ta càng thấy mình bất hạnh hơn và càng đau khổ hơn.

Trong thư I Cô-rinh-tô 10:13, sứ đồ Phao-lô cho chúng ta lời hứa sau đây: “Những sự cám dỗ (cũng có nghĩa là thử thách) đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị thử thách quá sức mình đâu; nhưng trong sự thử thách Ngài cũng mở đường cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được.” Dựa vào lời hứa này, chúng ta hãy kiên nhẫn chịu đựng những hoàn cảnh khó khăn vì biết rằng Đức Chúa Trời không để cho chúng ta phải chịu thử thách quá sức mình, và đến đúng thời điểm, Ngài sẽ mở đường, giải cứu chúng ta ra khỏi những thử thách hay khó khăn đó.

Minh Nguyên