![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Những Bài Ca Giáng Sinh |
|
|
|
Giáng Sinh sẽ thiếu sót rất nhiều nếu thiếu đi những bài ca Giáng Sinh. Nhạc Giáng Sinh chẳng những là một truyền thống tốt đẹp nhưng cũng phù hợp hoàn toàn với lời dạy của Thánh Kinh. Các thiên thần đã ca ngợi Chúa trong đêm Giáng Sinh đầu tiên và từ đó đến nay, bao nhiêu bài ca đã được viết ra để tiếp tục ca ngợi. Nhiều bài ca Giáng Sinh ngày nay đã bị thế tục hóa, chỉ còn mang tính cách tả cảnh hay vui chơi, mất đi hẳn tính cách ca ngợi và ý nghĩa thần học. Trong Kinh Thánh có ba bài ca Giáng Sinh không bao giờ bị thế tục hóa nhưng có thể chúng ta đã quên đi ý nghĩa của những bài ca nầy. Giữa những rộn ràng của âm nhạc Mùa Giáng Sinh, chúng ta hãy cùng nhau hát lại ba bài ca đầy ý nghĩa của Mùa Giáng Sinh năm xưa. Cả ba bài ca đều được ghi trong Phúc Âm Lu-ca và Giáo Hội đã dùng những chữ đầu của ba bài ca trong tiếng La-tinh để đặt tên cho ba bài ca nầy. Trước hết là bài ca của Ma-ri hay: Magnificat,
Bài
Ca Trước
Giáng Sinh Sau khi được thiên sứ báo tin cho biết mình là người được chọn để sinh ra Chúa Cứu Thế, trinh nữ Ma-ri đã đi thăm người bà con là Ê-li-sa-bét. Đáp ứng trước lời chúc mừng của Ê-li-sa-bét, trinh nữ Ma-ri nói: Linh
hồn tôi ngợi khen Chúa, Tâm
thần tôi mừng rơõ trong Đức Chúa Trời, là
Cứu Chúa tôi. Vì
Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy,
từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước; Bởi
Đấng Toàn Năng đã làm các việc lớn cho tôi. Danh
Ngài là thánh, Và
Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang
đời kia. Ngài
đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và
phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. Ngài
đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và
nhắc kẻ khiêm nhượng lên. Ngài
đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và
đuổi kẻ giàu về tay không. Ngài
đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và
nhớ lại sự thương xót mình Đối
với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, Như
Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy. (Lu-ca
1:46-55) Bài
ca của Ma-ri mang âm hưởng bài ca của An-ne (I Sa-mu-ên
2:1-10). Những thành ngữ và ý niệm khác trong Cựu Ước
cũng tràn ngập trong bài ca nầy.
Người Do-thái, dù sống ở đâu, luôn luôn được
dạy dỗ theo lối thuộc lòng nên có thể nhắc lại
những gì trong Cựu Ước dễ dàng.
Mặc dù Ma-ri hát lên bài ca nầy để đáp lại
lời chúc mừng của Ê-li-sa-bét, nhưng đây là kết
quả của nhiều giờ suy nghiệm trên đường từ
Ga-li-lê về Giu-đê, vì Ma-ri vốn là người sống
nhiều về nội tâm (Lu-ca 2:19, 51b).
Nếu Ê-li-sa-bét đã được “đầy Đức Thánh
Linh” (c. 41b) để cất tiếng chúc mừng Ma-ri thì
Ma-ri chắc chắn cũng đã được đầy tràn Thánh Linh
để hát lên bài ca nầy. Bài ca gồm bốn phần: 1.
Ca ngợi Chúa
(c. 46-49a) Lời
ca ngợi Chúa của Ma-ri phát xuất từ đáy lòng và
bao gồm toàn thể con người của bà (linh hồn và tâm
thần). Lời ca ngợi đó mang ý nghĩa tôn cao Chúa
(chữ “ngợi khen” trong nguyên văn là tôn cao, làm
cho lớn). Đó chính
là chữ được dùng làm tựa đề cho bài ca: Magnificat.
Lời ca ngợi cũng đi đôi với lòng vui mừng (“tâm
thần tôi mừng rỡ”) và cả hai điều đó (tôn cao
và vui mừng) hướng về Đức Chúa Trời. Đối với
Ma-ri, Đức Chúa Trời là Cứu Chúa của bà (c. 47).
Dù là người được ơn, dù là người có phước,
bà Ma-ri ý thức thân phận tội lỗi của mình và bà
xưng tụng Đức Chúa Trời là Cứu Chúa của mình. Đức
Chúa Trời là Cứu Chúa, Ngài cũng là Đấng đã làm
các việc lớn cho bà. Việc lớn đó là một trinh
nữ mang thai Con Thánh. Bà Ma-ri thấy mình hèn hạ như
một nô lệ được Chúa đoái thương (c. 48a). Giáng
Sinh tưng bừng nhưng ca ngợi là điều thường thiếu
sót. Ngày nay người ta làm mọi thứ đều lớn và
nhiều. Người ta đề cao nhiều thứ, nhiều điều,
nhiều người nhưng Chúa không được tôn cao. Trong
tinh thần của Ma-ri, chúng ta cần dừng lại suy nghĩ
và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, linh hồn con ngợi
khen Chúa, tâm thần con mừng rỡ trong Đức Chúa
Trời, là Cứu Chúa con vì Ngài đã đoái đến sự hèn
hạ của tôi tớ Ngài… Đấng Toàn Năng đã làm các
việc lớn cho con.” Chúa là Đấng cao cả và làm
những việc lớn, chúng ta phải tôn cao Chúa và quy
mọi điều lớn lao, cao cả về cho Ngài. 2.
Thuộc tính của Chúa (c.49b-51) Ba
đặc tính của Chúa được thấy rõ ở đây: thánh
khiết, thương xót và quyền năng.
Ma-ri nói: “DANH Ngài là thánh.”
“Danh” nói đến chính Chúa, bản tính của Ngài.
“Danh Ngài là thánh” hàm ý Chúa vượt cao hơn muôn
vật mọi loài, Chúa là Đấng riêng biệt, không
thuộc về trần gian nầy. Vì Chúa là thánh, con người
tội lỗi không thể đến gần, nhưng song song với đức
thánh khiết là đức yêu thương: “Ngài thương xót
kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia”
(c. 50). Bản
Bảy Mươi dùng chữ “thương xót” để dịch chữ hesed
trong Cựu Ước. Chữ
nầy mô tả lòng nhân từ dư dật của Đức Chúa
Trời đối với con dân của Ngài.
Lòng nhân từ đó nói lên mối quan hệ hỗ tương
giữa Chúa và con người. Một nhà thần học gọi đó
là sự thành tín nhân hậu của Chúa (gracious
faithfulness). Trong
sự thành tín nhân hậu đó, con người phải làm
phần của mình là kính sợ Chúa (“Ngài thương
xót kẻ kính sợ Ngài”). “Kính sợ” hàm ý
tôn trọng Chúa và giao ước của Ngài.
Ma-ri nhắc đến quyền năng của Chúa thể
hiện trong việc Chúa “phá tan mưu của kẻ kiêu
ngạo toan trong lòng.” Quyền năng đó cũng nói lên
bản tính toàn tri của Chúa, biết trước mưu toan
trong lòng người. Trọng
tâm của bài ca Ma-ri là chính Chúa. Đây cũng phải là
trọng tâm của chúng ta trong Mùa Giáng Sinh vì chính cái
bận rộn của Giáng Sinh thường dễ khiến chúng ta
không còn tập trung vào Chúa với đức thánh khiết,
sự thành tín nhân hậu và quyền năng tuyệt đối
của Ngài. 3.
Việc làm của Chúa (c.
52-53) Những
nhóm người được nhắc đến trong phần nầy là “người
có quyền” và “kẻ khiêm nhượng;” “kẻ
đói” và “kẻ
giàu.” “Người
có quyền” dùng để chỉ vương quyền hay người
cai trị. “Kẻ
khiêm nhượng” chỉ người thấp kém, cô thế.
“Cách người có quyền khỏi ngôi” và “nhắc
kẻ khiêm nhượng lên” nói đến việc làm của
Chúa trong lịch sử: “Chính Ngài thay đổi thì
giờ và mùa, bỏ và lập các vua” (Đa-ni-ên
2:21a). Bài học lịch sử của con dân Chúa Ma-ri nhớ
rõ và bà nhắc lại để ca ngợi Chúa.
Đây cũng có thể là ám chỉ về sự cai trị
của Đấng Mê-si-a. Song
song với địa hạt chính trị là lãnh vực kinh tế và
xã hội. Vương quyền có thể bị thay đổi thì tương
tự như vậy, những kẻ tự hào về của cải cũng
sẽ kinh nghiệm nghèo đói nếu thiếu lòng tin cậy Chúa.
Lời giảng của Chúa Giê-xu nhiều năm về sau,
xác nhận điều đó (Lu-ca 6:20-25). Bà
Ma-ri nhìn về quá khứ, học những kinh nghiệm trong
quá khứ chẳng những để ca ngợi Chúa nhưng cũng nhìn
thấy ứng dụng cho chính bản thân.
Bà nhìn thấy thân phận nhỏ bé, hèn kém của
mình nhưng biết rằng Chúa có thể làm việc lớn
của Ngài trên đời sống bé nhỏ đó. Chúng ta học
được gì nơi Chúa khi nhìn lại đời sống của mình
và những hoàn cảnh, những con người chung quanh chúng
ta? 4.
Lời hứa của Chúa
(54-55) Sau
cái nhìn cá nhân, Ma-ri có cái nhìn rộng rãi hơn về
toàn thể con dân Chúa và giao ước của Ngài. Y-sơ-ra-ên
và Áp-ra-ham được nhắc đến trong khung cảnh của
lời hứa và sự thương xót của Chúa. Chúa nhớ (c.
54b) không phải là chợt nhớ nhưng là hành động tiên
khởi, cụ thể và tích cực của Ngài trong việc
thực hiện lời hứa. Lời hứa đó không chỉ dành
riêng cho người Do-thái là con cháu Áp-ra-ham nhưng cũng
cho chúng ta (Rô-ma 4:16; Ga-la-ti 3:9). Gloria,
Bài
Ca Trong Giáng
Sinh Đây
là bài ca quen thuộc nhất của Mùa Giáng Sinh, bài ca
của thiên thần trong đêm Giáng Sinh đầu tiên. Vị
thiên sứ đến báo tin cho những người chăn chiên đã
cùng với muôn vàn thiên binh ca ngợi Chúa: Sáng
Danh Chúa trên các tầng trời rất cao, Bình
an dưới đất, ân trạch cho loài người! (Lu-ca
2:14) |
|
|
|