Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

CÓ TIẾNG SỐNG NHƯNG LÀ CHẾT

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Sách Khải Huyền hướng chúng ta về tương lai huy hoàng của những người được chọn khi Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại, nhưng cũng cho chúng ta thấy tình trạng hiện tại của Hội thánh và của chính mình, vạch ra những tội lỗi trong đời sống, những sai phạm, gian ác cần ăn năn và thay đổi để chuẩn bị cho ngày Chúa đến:

“Kìa Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men!” (1:7). Trong Công Vụ chương 1 sử gia Lu-ca cũng đề cập đến biến cố Chúa tái lâm, nhấn mạnh cách Ngài từ trời trở lại theo nghĩa đen.  Sau khi phục sinh, Chúa Giê-xu ở lại với các môn đồ 40 ngày, dạy họ nhiều điều về nước Đức Chúa Trời, căn dặn cứ ở trong thành Giê-ru-sa-lem chờ nhận quyền phép Đức Thánh Linh.   Tiếp theo là biến cố thăng thiên được Lu-ca ký thuật như sau:

“Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa.  Các người đó đương đứng ngó chăm trên trời  trong lúc Ngài ngự lên, xảy có hai người nam mặc áo trắng hiện đến trước mặt và nói rằng, Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-xu này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi cũng sẽ trở lại như cách các ngươi thấy Ngài lên trời vậy.”

Lời khẳng định trên có nghĩa là  sự kiện Chúa Giê-xu từ trời trở lại phải hiểu theo nghĩa đen và mọi người trên khắp thế gian sẽ thấy tận mắt Chúa từ trời trở lại trong vinh quang.  Đó sẽ là ngày hội lớn cho những người tin kính Chúa nhưng sẽ là khởi đầu khốn khổ cho những người từ chối Ngài.

Chương 2 và chương 3 sách Khải Huyền ghi lại bảy bức thư Chúa Cứu Thế Giê-xu viết cho bảy Hội Thánh vùng Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).  Số bảy trong Khải Huyền diễn tả ý niệm “toàn thể” hay “hoàn tất”, như vậy tuy bảy Hội thánh vùng Tiểu Á là bảy Hội thánh địa phương thời thánh Giăng nhưng những bức thư gửi cho bảy Hội Thánh này cũng nói lên đặc trưng của tất cả các Hội Thánh ở mọi thời đại.  Vì Chúa Cứu Thế Giê-xu là đầu Hội Thánh cho nên những lời cảnh cáo, khuyên dạy, khen thưởng ghi lại trong bảy bức thư này cũng dành cho mọi Hội thánh.  Dù những đặc trưng trong các Hội thánh khác nhau, nhưng đó chỉ là những điểm nổi bật và những điểm mạnh điểm yếu khác cũng đều thấy trong mọi Hội thánh ngày nay.

Đây là bức thư thứ năm gửi cho Hội Thánh Sạt-Đe:

“Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống  nhưng mà là chết. Hãy tỉnh thức và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết, vì ta không thấy công việc của  ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta.  Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và đã nghe đạo thể nào thì giữ lấy và ăn năn đi.  Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.  Nhưng ở Sạt-đe, ngươi còn có mấy người chưa làm ô uế áo xống mình: những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy.  Kẻ nào thắng sẽ được mặc áo trắng như vậy.  Ta sẽ không xóa tên ngươi khỏi sách sự sống và sẽ nhận danh ngươi trước mặt Cha ta, cùng trước mặt các thiên sứ Ngài.  Ai có tai hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!”

Dựa trên bức thư trên nhiều người đã đặt tên cho Hội thánh Sạt-đe là “Hội Thánh có tiếng sống nhưng là chết.”  Lời Chúa nhắc nhở Hội Thánh này là “hãy nhớ lại mình đã nhận và đã nghe đạo thể nào thì giữ lấy và ăn năn đi.  Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.”

Đối với Hội Thánh Sạt-đe, Chúa Giê-xu nói về Ngài “là Đấng có bảy vị thần của Đức Chúa Trời và có bảy ngôi sao.”  Như đã nói, số bảy trong Kinh thánh theo nghĩa biểu tượng chỉ sự hoàn tất, hoàn toàn, đầy đủ, trọn vẹn.  Như vậy Chúa Giê-xu là Đấng có bảy vị thần của Đức Chúa Trời nghĩa là Đấng có đầy trọn Thần Linh của Đức Chúa Trời, còn bảy ngôi sao là bảy sứ giả của bảy Hội Thánh.  Thiên sứ hay sứ giả là những vị truyền đạt sứ điệp của Đức Chúa Trời.  Vì thế chúng ta có thể hiểu thiên sứ hay sứ giả chỉ thị những người chăn bày rao truyền sứ điệp của Chúa cho các Hội Thánh, trong thực tế là các mục sư, là người hầu việc Chúa trong các Hội Thánh.  Như vậy khi gửi thư này cho Hội Thánh Sạt-đe, Chúa Giê-xu đứng trong cương vị  Đấng đầy quyền năng Thánh Linh, cầm quyền trên các sứ giả của Hội Thánh.

Chúa tuyên bố Ngài biết những gì?  Thật ra Chúa biết tất cả về Hội Thánh này, tuy nhiên những gì được viết ra đây chỉ thị điều Chúa muốn lưu ý Hội Thánh Sạt-đe. 

I. Trước hết, công việc của Sạt-đe phơi bày Hội Thánh này như thế nào?

1. Có tiếng là sống nhưng mà chết. Có lẽ Hội Thánh Sạt-đe có đông tín hữu, có tổ chức qui mô với nhiều sinh hoạt, nhưng không thực sự nuôi dưỡng được đời sống tâm linh.  Hội Thánh có hình thức bề thế nhưng nội dung nghèo nàn.  Đây là tình trạng nguy hiểm mà hậu quả nghiêm trọng lâu dài có thể là tình trạng tự mãn hoặc giả hình.  Ngày nay chúng ta thấy không ít Hội Thánh từng hồi từng lúc rơi vào khuôn mẫu cần tránh này.  Chúng ta nói từng hồi từng lúc vì không một sinh hoạt nào trong Hội thánh giữ mãi được khí thế và lòng hăng hái, sốt sắng ban đầu.  Thí dụ như một buổi nhóm cầu nguyện được khởi sự tổ chức.   Lúc đầu sinh hoạt mạnh mẽ, sôi nổi, nhiều người tham gia cầu nguyện.  Sau một thời gian buổi nhóm có thể sẽ chậm lại, số người tham gia không gia tăng nếu không nói là có phần sút giảm.  Tuy nhiên buổi cầu nguyện vẫn còn được duy trì, nhưng sinh hoạt cầu nguyện đã mất đi tính chất nhiệt thành, tha thiết, dốc đổ, chỉ còn lại nỗ lực duy trì một thói quen.  Tuy nhiên dù lửa cầu nguyện đã tắt, nhưng vì buổi nhóm cầu nguyện vẫn còn cho nên nhiều người vẫn cảm thấy không có gì đáng lo ngại.  Đây có thể coi là tình trạng có tiếng sống nhưng là chết.

Trong câu 2, Chúa khuyên Hội Thánh này tỉnh thức và làm vững sự gần chết, vì trong cái nhìn của Chúa, công việc của họ chưa xong: tất cả đều dở dang.  Những cái chưa hoàn tất mà bị bỏ rơi được kể là đang ở trong tình trạng hấp hối.  Những ngày đầu Hội Thánh hăng hái, sốt sắng, sinh động, nhưng rồi những đợt sóng đời đã làm giảm dần lòng hăng hái, họ dần dần bị thế tục hoá hoặc vì dung túng tội lỗi, có khi vì thoả hiệp với thế gian, sử dụng những phương thức, những nguyên tắc trần gian để làm  công việc Chúa cho nên về phương diện kết quả chỉ có bề ngoài hình thức nhưng thực chất không có sự sống.  Tình trạng thả nổi, buông trôi cũng là một dạng khác của hiện tượng tưởng sống nhưng là chết. Tình trạng yêu thương có điều kiện, nhịn nhục lưng chừng, lòng trung tín ba chìm bảy nổi là thể hiện rõ nét của tình trạng hấp hối thuộc linh nhưng cố giữ cái vỏ sống động bằng những hoạt động phô trương bên ngoài.  Đây là tình trạng người tín đồ vẫn đi nhà thờ nhưng đi vì thói quen, vì bạn bè hay vì bổn phận nhưng không thực sự đi vì khao khát thiêng liêng, vì nhu cầu thờ phượng Chúa.  Hội Thánh ở trong tình trạng hấp hối khi có nhiều tín hữu phục vụ Chúa nhưng chỉ  phục vụ vì bổn phận, vì được bầu vào chức vụ mà không làm bổn phận như một tôi tớ trung thành của Đức Chúa Trời . 

Nếu mọi công việc, mọi sinh hoạt trong Hội Thánh chỉ còn là hình thức và vì tổ chức thì Hội Thánh đó bị kể như là “gần chết”, nhưng điều đáng sợ là họ vẫn tưởng rằng mình đang sống mạnh!  Thế gian, bản ngã và ma quỉ luôn luôn nỗ lực ru ngủ con dân Chúa, đưa hội thánh Chúa vào tình trạng buồn ngủ để mọi ý thức về thực trạng thuộc linh trở nên mờ ảo.  Vì vậy Chúa khuyên Hội Thánh Sạt-đe, “Hãy tỉnh thức và làm cho vững sự còn lại, là sự hầu chết, vì ta không thấy công việc của  ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta.”  Đây cũng là lời cảnh tỉnh nhắc nhở các môn đệ trước khi Chúa bị bắt trong vườn Ghết-sê-ma-nê: “Hãy thức canh và cầu nguyện để các ngươỉ khỏi sa vào chước cám dỗ.”  Để có thể cám dỗ, trước hết ma quỉ cần phải làm chúng ta buồn ngủ.  Không chống nổi cơn buồn ngủ chúng ta sẽ rơi vào giai đoạn ngủ mê, và đó là lúc chúng toàn thắng!  Mặt khác, cái quỉ quyệt của ma quỉ là khi khiến chúng ta ngủ mê, nó cũng đồng thời gián tiếp giúp chúng ta có một lời bào chữa đầy tính thuyết phục, tháo gỡ cho chúng ta mọi trách nhiệm đối với hậu quả do ngủ mê!  Buồn ngủ là chuyện ngoài ý muốn, và khi ngủ chúng ta không còn ý thức nữa cũng giống như khi chúng ta bảo rằng mình quên là dường như chúng ta đã vô hiệu hoá được mọi lời trách cứ, vì ai mà không có lúc quên!

Chúa trách Hội Thánh Sạt-đe về những công việc chưa trọn vẹn hay chưa hoàn tất, những việc dở dang!  Những công trình dở dang là những công trình vô ích.  Tôi từng thấy có những công trình xây dựng rất lớn, nhưng vì lý do nào đó đã bị bỏ dở dang trong nhiều năm.  Một  kiến trúc đồ sộ, một ngôi nhà nhiều tầng nhưng chưa sử dụng được, đành phải bỏ hoang phế và không những thế nó còn trở thành một đốm đen xấu xí trong một thành phố đẹp.  Hãng máy bay Boeing chuyên sản xuất các loại máy bay hàng không dân dụng lớn nhất thế giới.  Giả sử một chiếc Boeing 747 mới làm xong 90%, nghĩa là chưa hoàn tất, liệu có ai dám sử dụng hay không?  Tất nhiên là không.  Một công trình chưa hoàn tất, dù lớn đến đâu, dù đắt giá đến đâu nếu chưa xong, sẽ chỉ là một vật vô dụng.  Không ai trong chúng ta xây nhà chưa xong mà muốn dọn vào ở hay em xe đi sửa chưa xong lại muốn lấy về sử dụng…

Các công việc tại Hội Thánh Sạt-đe là những công việc chưa hoàn tất, chưa xong!  “Hội chứng dở dang” là một thứ bệnh trầm kha không những chỉ thấy tại Hội Thánh Sạt-đe nhưng còn có trong nhiều Hội Thánh và trong nhiều đời sống con dân Chúa.  Có nhiều mục tiêu trong đời sống chúng ta chưa đạt được.  Chúng ta đã từng dự định làm nhiều điều, từng khởi sự nhiều công việc nhưng hầu hết bỏ dở dang.  Có những người từng quyết tâm giữ giờ tĩnh nguyện mỗi sáng, nhưng chỉ được vài tuần lại bỏ.  Có những cố gắng bỏ một số những thói quen xấu không phù hợp với Lời Chúa nhưng chỉ được một thời gian. Chúng ta cố gắng tha thứ, nhưng vẫn còn cay đắng.  Chúng ta nhịn nhục, chịu đựng nhưng chỉ tạm thời rồi sau chuyện bất hòa lại tái diễn rắc rối hơn trước.  Cuối cùng đâu lại hoàn đấy và chúng ta tiếp tục sống trong thất bại chồng chất.  Tuy nhiên nhiều người vẫn tự lừa dối bằng ý tưởng, “dù sao mình đã làm được một phần, có còn hơn không!”  Đó là cái nhìn của chúng ta, không phải cái nhìn của Chúa.  Đức Chúa Trời không làm một công trình nào dở dang.  Mọi sự Chúa làm đều hoàn tất tốt  đẹp và Chúa cũng muốn con dân Ngài sống theo nguyên tắc đó.  Viết cho Hội Thánh Sạt-đe, Chúa bảo rằng “Ta không thấy công việc ngươi là trọn vẹn trước mặt Đức Chúa Trời ta” nghĩa là Chúa không hài lòng, và vì thế Ngài không chấp nhận.

Nhưng dầu vậy, Chúa  bảo rằng Ngài thấy nơi Hội Thánh Sạt-đe “vẫn còn có mấy người chưa làm ô uế áo sống mình: Những kẻ đó sẽ mặc áo trắng mà đi cùng ta, vì họ xứng đáng như vậy.”  Đây là lời khen duy nhất cho Hội thánh có tiếng sống nhưng là chết này. Áo trắng là biểu tượng về sự công chính của Chúa đuợc ban cho những người khiêm nhu, chân thành đặt đức tin nơi Ngài, người  ý thức địa vị tội nhân của mình và không dựa vào công sức cá nhân.

Dầu Hội Thánh Sạt-đe ở trong tình trạng vô vọng như thế, Chúa vẫn có giải pháp phục hồi.  Giải pháp đó nằm ngay trong lời quở trách, “Hãy tỉnh thức, làm cho vững sự còn lại …hãy nhớ lại mình đã nhận đã nghe đạo thể nào thì giữ lấy và ăn năn đi…”

1.   Trước hết Chúa bảo họ phải tỉnh thức, phải thức dậy nghĩa là nhìn vào chính đời sống mình, đem cuộc sống cá nhân, trong gia đình, ở sở làm, nơi trường học và trong Hội Thánh soi vào tấm gương lớn là Lời Chúa.  Tất cả tội lỗi phải xưng ra và đoạn tuyệt, những méo mó lệch lạc phải được uốn nắn lại, tất cả những tì ố phải được thanh tẩy, loại trừ.  Đây là tình trạng thức tỉnh tâm linh cần thiết chuẩn bị cho một cuộc phục hưng trong đời sống cá nhân cũng như Hội Thánh.

2.   Thứ hai, Chúa bảo Hội Thánh Sạt-đe, “làm cho vững những sự gần chết.”  Những sự gần chết đây là gì? Phải chăng là những sinh hoạt thuộc linh lâu dần đã trở thành thói quen mất hết sinh khí?  Vẫn đi thờ phượng Chúa nhưng không thực sự gặp Chúa.  Vẫn cầu nguyện và đọc Kinh Thánh nhưng tất cả chỉ  làm qua quít cho yên ổn lương tâm.  Vì vậy, Chúa dạy phải “làm cho vững những sự gần chết” là phải sắp xếp lại thứ tự ưu tiên trong cuộc sống, các nhu cầu tâm linh như sự thờ phượng Chúa, giờ tĩnh nguyện suy gẫm Kinh Thánh và cầu nguyện bấy lâu nay ở trong tình trạng yếu đuối, thoi thóp phải được vực dậy, phải được  đặt ở hàng đầu, ở vị trí bất khả xâm phạm, trong khi đó công ăn việc làm, các mối quan hệ xã hội với con người như tiệc tùng, lễ lạc, các sinh hoạt vui chơi, giải trí… tất cả phải ở hàng thứ yếu so với các sinh hoạt thuộc linh.  Nếu Chúa không ở địa vị cao nhất trong đời sống chúng ta, Ngài sẽ không làm gì hết.

3.   Thứ ba, Chúa bảo phải “nhớ lại” và “ăn năn.” Trước hết, phải nhớ lại đã nghe đạo và nhận đạo như thế nào.  Hiển nhiên đây là những chân lý Tin Lành một người đã tiếp nhận bằng tấm lòng và đức tin đơn sơ của buổi đầu.  Nhưng rồi trong quá trình theo Chúa nhiều chân lý cơ bản đã bị pha loãng để thay thế bằng những truyền thống hay thói quen chủ quan.  Cái tôi từ từ nổi lên và những công tác dần dần thay thế ân sủng Chúa.  Tình yêu ban đầu phai lạt và rễ đắng châm ra. “Nhớ lại” là một mạng lịnh rất khó, nhất là khi người ta đã tuột dốc trong một thời gian khá xa.  Những người giàu có, những người thành công thường không có thì giờ hồi tưởng lại thuở hàn vi.  Nếp sống phung phí, hưởng thụ quá lâu thường làm người ta không nhớ những ngày đói khổ.

4.   Thứ tư, Chúa cảnh cáo nếu không ăn năn Ngài sẽ đến bất ngờ và chúng ta sẽ bị bỏ lại như 5 người trinh nữ dại dột không chuẩn bị dầu, đèn đầy đủ.

5.   Thứ năm, Chúa khen những người “chưa làm ô-uế áo xống mình.”  Đây là những người còn giữ được tấm áo sạch, không dung túng, không thoả hiệp với thế gian, vẫn cẩn thận sống gần Chúa mỗi ngày. Những người đó sẽ được mặc áo trắng Chúa ban để đi với Ngài.

Tình trạng của Hội Thánh Sạt-đe có tiếng sống nhưng là chết, là một tình trạng vô cùng nguy hiểm khiến cho tín hữu như đang đi trên lớp băng rất mỏng mà vẫn tưởng rằng dưới chân mình là một khối vững chắc! Đây là tình trạng bám vào những danh tiếng trong quá khứ để tự lừa dối mình trong khi hiện trạng tâm linh phá sản, như những tướng lãnh đã về hưu mà vẫn tưởng mình đang chỉ huy chiến dịch.  Thức dậy, nhớ lại, ăn năn và phục hồi lại mối tương giao riêng tư, âm thầm với Chúa là giải pháp cuối cùng.

 

Mục Sư Nguyễn Đăng Minh