Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

HELEN KELLER  (1880-1968)

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Helen Keller là một thí dụ điển hình về một người có ý chí rất mãnh liệt đã vượt thắng được những trở ngại kinh khủng của tật nguyền.  Từ lúc chưa đầy hai tuổi, một chứng bệnh hiếm liên quan đến não bộ đã khiến Helen Keller bị  mù, điếc và câm.  Hậu quả cuối cùng là bé gái Helen bị giam hãm trong bóng đêm tĩnh lặng, hoàn toàn bị cách ngăn với thế giới bên ngoài.  Từ tình trạng vô vọng này, Helen đã phấn đấu, từng bước phá thủng tấm màn tăm tối  rất dày để ngoi lên, trở thành một gương mẫu khích lệ hàng nghìn người khuyết tật khác vượt qua những nỗi bất hạnh của tật nguyền để có một cuộc sống ý nghĩa, hữu dụng. Trong suốt năm năm của tuổi thơ Helen đã sống như một con vật bé nhỏ hoang dã vô cùng tội nghiệp.  Khi vui thì phát ra những âm thanh tương tự như tiếng chắc lưỡi hay tiếng rúc rích, khi bất ưng thì giận dữ, cào, cấu và phát ra những tiếng kêu tắc nghẽn.

Cha Helen đưa cô đến với tiến sĩ Alexander Graham  Bell, ông này đề nghị nên liên lạc với học viện Perkins chuyên trách người khiếm thị ở Boston.  Sau đó không lâu, Viện khiếm thị Perkins cử cô giáo Ann Sullivan (1866-1936) từ Boston đến dạy Helen.  Làm thế nào có thể dạy một đứa trẻ bảy tuổi không thấy, không nghe, không biết nói  mà lại rất ương ngạnh?  Nếu Helen Keller về sau trở thành một người xuất chúng thì chúng ta phải biết rằng cô giáo Ann Sullivan cũng phải là một người xuất chúng không kém.  Có người đã bảo rằng không có cô giáo Sullivan cũng sẽ không có Helen Keller.

Sau nhiều tháng làm quen với Helen Keller, cô giáo Sullivan đã có thể tiếp xúc với tâm trí Helen qua một trong những giác quan còn lại là xúc giác.  Cô đã kiên trì giúp Helen học từng mẫu tự qua bàn tay và dần dần đứa trẻ có thể liên hệ giữa từ ngữ và vật thể.  Thí dụ như để dạy Helen chữ “nước”, cô Sullivan đã phải nhiều lần cho Helen nghịch chơi với nước.  Sau ba năm, Helen đã biết được bảng mẫu tự và có thể viết cũng như đọc bằng tiếng Braille là loại chữ nổi dành cho người khiếm thị.   Cô Sullivan cũng đặt làm một máy đánh chữ đặc biệt cho Helen sử dụng.

Năm 10 tuổi Helen mới chỉ có thể nói bằng loại ngữ hiệu dành cho người câm điếc nhưng cho đến năm 16, cô đã có thể nói giỏi đủ để vào lớp dự bị cho trường cao đẳng.  Helen chọn học trường Radcliffe và tốt nghiệp vị thứ ưu hạng năm 1904.  Cô giáo Ann Sullivan suốt những năm này ở sát cạnh Helen để giúp thông dịch cho Helen trong những giờ nghe giảng bài hoặc giờ thảo luận.  Vừa không thấy vừa không nghe được, Hellen đã phải sử dụng xúc giác để “nghe” người đối thoại nói.  Cô để bàn tay trái lên mặt người đối diện, ngón giữa trên mũi, ngón trỏ trên môi và ngón út trên yết hầu.  Hơi thở và những rung động từ các bộ phận phát âm trên cổ và miệng người nói giúp cô có thể nhận ra những âm thanh chuyển thành lời người nói muốn truyền đạt.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Helen Keller thấy cần phải dồn mọi quan tâm đối với tình trạng của những ngưòi khiếm thị hay vừa điếc vừa khiếm thị.  Cô trở thành một thành viên tích cực trong ban Điều Hành của Tổ Chức Của Những Người Khiếm Thị Hoa Kỳ cũng Như Hội Khiếm Thị Hải Ngoại.  Cô ra điều trần trước các cơ quan lập pháp, cô diễn thuyết, viết báo, viết sách.  Cô là người khởi xướng việc thành lập quĩ Helen Keller lên đến 2 triệu đô la và kêu gọi những nhà hảo tâm giàu có đóng góp vào quĩ này để giúp cho những người khuyết tật.

Trong những năm cuối đời, Helen Keller dành nhiều quan tâm hơn đến việc cải thiện tình trạng của những người khiếm thị trong những quốc gia nghèo đói hoặc bị chiến tranh tàn phá.  Dù với tất cả những giới hạn về thính giác, về thị giác Helen Keller là một con người năng động, một diễn giả chu du khắp nơi không mệt mỏi.  Bà đã đi du hành và diễn thuyết ở hơn 25 quốc gia  trong cả năm lục địa .  Trong thời gian thế chiến thứ hai, bà làm việc với các binh sĩ bị mù trong chiến tranh, và mỗi khi xuất hiện, bà trở thành một niềm khích lệ lớn lao, bà đã giúp thêm lòng can đảm cho những người bỗng nhiên mất ánh sáng. 

Helen Keller đã được nhiều tổ chức quốc tế trao tặng nhiều  phần thưởng quí giá và nổi danh khắp thế giới.  Các sách bà viết được dịch ra đến hơn 50 thứ tiếng bao gồm Chuyện Đời Tôi (1903);  Lạc Quan (1903);  Thế Giới Của Tôi (1908);  Bài Hát Của Bức Tường Đau (1910); Từ Tối Qua Sáng (1913);  Tôn Giáo Của Tôi (1929); Giữa Giòng: Phần Cuối Cuộc Đời (1930);  Cô Giáo (1955) viết về cô giáo Ann Sullivan. (Theo M. Robert Barnett – World Book)

Cả cuộc đời Helen Keller là một phép lạ.  Làm thế nào một em bé mù loà, điếc và câm lại có thể tốt nghiệp đại học, trở thành một tác giả, một nhà giáo dục có một cuộc đời thành đạt, nổi danh khắp thế giới?  Cuộc đời thành công của Hellen Keller là một khích lệ cho những người khuyết tật nhưng là một cảnh tỉnh cho những người lành mạnh, có đầy đủ ngũ quan nhưng đã coi thường và phung phí năng lực, thì giờ vào những việc vô ích, biến thành quả của những thân thể khoẻ mạnh thành những cuộc đời tầm thường, thậm chí tàn tạ. 

Nhìn vào cuộc đời Helen Keller, trong phân tích cuối cùng, chúng ta không thể không kinh ngạc về sự sống và trí thông minh Đức Chúa Trời phú ban cho Hellen Keller, về hoàn cảnh sống với cha mẹ, và về cô giáo Ann Sullivan được Đức Chúa Trời đem đến cho cuộc đời Helen Keller…  Tất cả những yếu tố đó nằm trong sự tể trị kỳ diệu của Đức Chúa Trời.  Ba nghìn năm trước, vua Đa-vít đã thốt nên lời này, “Chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi; Tôi cảm tạ Chúa vì tôi được dựng nên cách đáng sợ lạ lùng…”  Ước mong mỗi chúng ta cũng đều có thể nhìn thấy công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời trong chính những quan năng của mình: thấy, nghe, nói, suy nghĩ … và  trong bao nhiêu cảnh ngộ của cuộc đời.

Việt Quang