![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Việt
Hà Biên Soạn Nguồn
Gốc Ma Thuật
Trước
hết, chúng ta nói về các đặc tính của ma thuật.
Ðây là một vấn đề gây nhiều tranh luận. Khi có
một sự kiện siêu nhiên xảy ra, người cho là phép
lạ từ Ðức Chúa Trời, người thì khẳng định là
từ Sa-tan và ma quỉ.
Người khác lại cho là tác động của thiên
nhiên và ngẫu nhiên, không có một ý nghĩa đặc
biệt nào cả. Các
thần học gia khuynh hướng tự do có thể cho đó là
kết tinh giữa các khái niệm trong khung thời gian và
phong tục tập quán. Nhà tâm lý sẽ coi người ở dưới
ảnh hưởng của ma thuật là một người bệnh
hoạn, có nhiều nan đề trong đời sống, trong khi
nhà phân tâm học thấy người đó có những dấu
hiệu của bệnh tâm thần. Ma Thuật và Tôn Giáo
Ma
thuật hoàn toàn không được chấp nhận trong tôn
giáo độc thần của người Do Thái cũng như trong Cơ-đốc
Giáo. Sử dụng ma thuật để tạo bất cứ hiệu
quả nào trong đời sống tôn giáo là đi ngược
lại với ý chỉ Ðức Chúa Trời, khinh bỉ quyền năng
Ngài và chống lại tôn giáo chân chính. Bản chất
của ma thuật là nếu không liên hệ với quyền
lực của sự tối tăm thì chỉ là lừa dối và mê
tín dị đoan. Còn
nếu xuất phát từ quyền lực của sự tối tăm thì
ma thuật chính là các phép lạ của quỉ, hoàn toàn
trái với mạc khải về Ðức Chúa Trời qua Chúa
Cứu Thế Giê-xu. Một
khi dung nạp ma thuật là Cơ-đốc Giáo đã suy đồi.
Ma thuật chỉ có thể hiện diện trong các hình
thức tà giáo suy thoái của Cơ-đốc Giáo chứ không
thể nào hiện hữu trong Cơ-đốc Giáo thuần túy. Trong
khi đó các tôn giáo khác ngoài Cơ-đốc Giáo lại
thường là đất dụng võ của đủ loại pháp môn
tà thuật, vì đặc trưng
trong các tôn giáo là thờ hình tượng và vi
phạm nhiều giới răn liên quan đến luân lý của
Ðức Chúa Trời. Vì thế sức mạnh trung tâm của các
tôn giáo đó xuất phát từ ma quỉ, như Thánh Phao-lô
giải thích trong I Cô-rinh-tô 10: 20 “những đồ
người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ
chứ không phải là cúng tế Ðức Chúa Trời.”
Vì ma thuật hoạt động dựa trên căn bản
lừa dối với các phép lạ phát xuất từ ma quỉ
cho nên Kinh Thánh lên án và nghiêm cấm.
Ðối với người Hy-Bá các thần ngoại bang
được các thầy phù thủy và pháp sư thờ cúng, đều
là các tà linh. Liên
hệ với các hoạt động thông linh là phạm vào
giới răn đầu tiên nghiêm cấm thờ tà thần
(Xuất Ai-cập 20:1-6; Phục Truyền 18:9, 10). Dù
lên án việc thực hành ma thuật nhưng Kinh Thánh
minh thị xác nhận thực tại sức mạnh của ma
thuật. Trong
phần ký thuật các tai ách giáng trên đất Ai-cập,
Kinh Thánh mặc nhiên coi các thuật sĩ Ai-cập
có pháp thuật làm được những việc siêu nhiên (2
Ti-mô-thê 3:8). Các
thuật sĩ Ba-by-luân đề cập trong sách Ða-ni-ên
1:20; 2:2, 27; 4:7,9; 5:11, cũng hàm ý họ có thể dùng
pháp thuật làm được những việc lạ lùng.
Xin trích dẫn một số câu Thánh Kinh trên như
sau: “Vậy
Môi-se và A-rôn đến cùng Pha-ra-ôn và làm như lời
Ðức Giê-hô-va đã phán dặn. A-rôn liệng cây gậy
mình trước mặt Pha-ra-ôn và quần thần, gậy
liền hóa thành một con rắn.
Còn Pha-ra-ôn cũng đòi các thuật sĩ và thầy
phù chú là những thuật sĩ Ai-cập; phần họ cũng
cậy phép phù chú mình mà làm giống in như vậy.
Mỗi người liệng gậy mình, liền hóa thành
rắn, nhưng gậy của A-rôn nuốt các gậy của họ.
Thế mà lòng Pha-ra-ôn vẫn cứng cỏi, chẳng
nghe Môi-se và A-rôn,
y như lời Ðức Giê-hô-va đã phán (Xuất
Ai-cập 7:10-13) “Vậy
Môi-se và A-rôn bèn làm y như lời Ðức Giê-hô-va
đã dặn mình. Trước
mặt Pha-ra-ôn và quần thần, A-rôn giơ gậy lên, đập
nước sông, hết thảy nước sông bèn biến thành
huyết. Cá dưới sông chết, nước sông hôi thúi,
người Ai-cập không thể uống được; vậy huyết
lan khắp cả xứ Ai-cập. Song các thuật sĩ cậy phù
chú mình cũng làm được như vậy, lòng Pha-ra-ôn
cứng cỏi không nghe Môi-se và A-rôn chút nào, y như
lời Ðức Giê-hô-va đã phán.” (Xuất Ai-cập
7:20-22) Sách
Khải Huyền cho biết lịch sử nhân loại sẽ kết
thúc với những nỗ lực cuồng nộ của ma quỉ
với đủ mọi thứ pháp thuật, đủ thứ phép lạ,
dấu kỳ. Nhưng
đến cuối cùng Sa-tan và các thuộc hạ đều bị
đánh bại, bị xiềng lại và ném vào hồ lửa để
chịu khổ nạn cho đến đời đời. Nguồn Gốc và
Mục Tiêu của Ma Thuật
Có
thể nói nguồn gốc của ma thuật khởi đầu từ
khi con người đầu tiên sa ngã.
Trong khi Ðức Chúa Trời truyền lệnh cho con
người làm đầy dẫy đất, quản trị đất trong
tinh thần tùng phục và tùy thuộc Ngài thì Sa-tan đã
gợi ý cho con người thâu đạt tri thức cũng như
quyền lực độc lập với Ngài, “sẽ như Ðức
Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.” Mong
muốn có tri thức và quyền lực trái với ý muốn
Chúa đã cấu thành yếu tính của ma thuật.
Nghe theo lời Sa-tan, con người đã chọn con
đường bất tuân, chống lại Ðức Chúa Trời.
Con người khởi sự có những con đường riêng,
với lối suy nghĩ và hành động riêng khác với ý
muốn Ðức Chúa Trời khi con người tự đặt mình
vào vùng ảnh hưởng của Sa-tan.
Dần dà Sa-tan đã nắm được con người và dùng
con người làm công cụ để phá hoại chương trình
của Ðức Chúa Trời trên đất. Sử
dụng ma thuật có thể coi là một hình thức nổi
loạn khác khi con người quay lưng lại với Ðức Chúa
Trời là Chân Thần để qui phục tà thần là ma
quỉ. Con người
không chỉ cúng thờ ma quỉ dưới nhiều hình thức
mà còn đi xa hơn, tình nguyện tham gia vào hàng ngũ
chúng tích cực hơn để tìm kiếm quyền lực siêu
nhiên qua ma thuật. Một
khi đã ở dưới sự khống chế của ma quỉ, con người
trở nên đui mù về phương diện thuộc linh, không
thấy được ánh sáng Phúc Âm và cũng không muốn
từ bỏ con đường thờ cúng tà thần để quay
trở về với Chân Thần.
Mặt khác, ma quỉ cũng sẽ tìm đủ mọi cách
để ngăn trở một người ở dưới quyền lực
của nó đến với Chúa.
Nó sẽ nỗ lực điên cuồng để cột trói
con người trong xiềng xích nô lệ qua những truyền
thống thờ cúng, trá hình dưới những danh nghĩa đạo
đức tốt đẹp như hiếu kính cha mẹ hoặc theo
truyền thống dân tộc... Trong
ánh sáng của Lời Chúa, mục tiêu của ma thuật là
tranh dành quyền lực và ảnh hưởng của Ðức Chúa
Trời, như khuynh hướng cố hữu của ma quỉ tự nâng
mình lên địa vị Ðức Chúa Trời, “làm ra mình
bằng Ðấng Rất Cao” (Ê-sai 14:4).
Mục tiêu của ma thuật là lừa dối được càng
nhiều người càng tốt để từ đó đưa họ vào
trong vòng xiềng xích của ma quỉ. Trong những ngày
cuối cùng, Kẻ Ðịch Lại Chúa Cứu Thế sẽ xuất
hiện, và Kinh Thánh cho biết “kẻ đó sẽ lấy
quyền của quỉ Sa-tan mà hiện đến, làm đủ mọi
thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả; dùng
mọi cách phỉnh dỗ không công bình mà dỗ những
kẻ hư mất, vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu
thương của chân lý để được cứu rỗi” (2
Tê-sa-lô-ni-ca 2:9-10 cf Khải Huyền 13:1-18) Chuyển Giao Khả Năng
Ma Thuật
Sự
kiện một người thành thạo trong lãnh vực thông
linh kết hợp với những khả năng thực hành ma
thuật không phải là chuyện tình cờ.
Thụ nhận sức mạnh ma thuật thường là
kết quả của một số các yếu tố.
Trước hết và quan trọng nhất là yếu tố
di truyền. Yếu tố quan trọng kế tiếp là do tiếp
xúc, liên hệ, qui phục tà linh và thử nghiệm các
hoạt động thông linh. Sức
mạnh thông linh và khả năng ma thuật được
truyền lại cho các đời sau, thường là bốn thế
hệ. Ma thuật
là một hình thức thờ hình tượng, giống như
hoạt động thông linh của đồng bóng, vi phạm nghiêm
trọng giới răn thứ nhất cho nên sẽ phải nhận
án phạt như lời Chúa công bố trong sách Xuất
Ai-cập 20: 5 “Ngươi chớ quì lạy trước các hình
tượng đó và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì
ta là Giê-hô-va Ðức Chúa Trời ngươi, tức là Ðức
Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội
tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời.”
(Xuất Ai-cập 20:5). Là Chân Thần duy nhất, Ðức Chúa
Trời ghét sự thờ hình tượng vì đó là một xúc
phạm nghiêm trọng hơn hết đến sự thánh khiết và
đặc tính vô đối của Ngài.
Chính vì vậy mà việc thờ lạy ma quỉ đưa
đến hậu quả không tránh được là hình phạt
của Ðức Chúa Trời cho đến đời thứ ba, thứ tư,
đối với những ai coi thường Ðức Chúa Trời và
giới răn Ngài. Nhìn
chung, lịch sử ma thuật cho thấy những loại
quyền lực trong thông linh có thể truy nguyên đến
bốn đời. Thông thường người cha hấp hối
truyền lại cho con trưởng những khả năng ma
thuật của mình nhưng khi con cái không chịu thừa hưởng
những khả năng ma thuật đó thì cái chết kia có
thể trở thành một mối đe dọa, một nỗi kinh hoàng
cho con cháu! Người
hấp hối cho biết sẽ không được “yên nghỉ”
cho đến khi tìm được người tiếp nối sự
nghiệp ma thuật. Ðôi
khi một người bà con xa nào đó phải đứng ra
tiếp nhận sự chuyển giao quyền lực này.
Thông thường việc truyền thụ được cử hành
theo một nghi thức giống như lễ đặt tay trong Kinh
Thánh (Công Vụ 8:17; 19:6 cf. Phục Truyền 34:9).
Lịch sử thực hành ma thuật thường cho
thấy một hay nhiều thuật sĩ, nhất là những người
thực hành ma thuật đen hay quỉ thuật, chuyển giao
khả năng ma thuật chữa bệnh hay bói toán bằng cách
đặt tay lên đầu người thụ nhận và đọc thần
chú. Người
ta cũng có thể thâu đoạt quyền lực ma thuật
bằng cách ký kết một khế ước với Sa-tan, thường
là bằng chính máu mình.
Ðây là một hiện tượng có từ ngàn xưa.
Nhà tiên tri Ê-sai bảo đó là “kết ước
với sự chết và giao ước cùng âm phủ” (Ê-sai
28:15). Những
người thực hành ma thuật từng cam kết như vậy
với ma quỉ thường được ban cho khả năng ma
thuật rất lớn, tuy nhiên, đây cũng là những người
bị cột trói trong xiềng xích của tà thuật, rất
khó thoát ra. Việc
thực hành trích máu cam kết với Sa-tan không phải
là chuyện mê tín xuất phát từ các tay phù thủy
thời Trung Cổ, nhưng là hình thức phát triển tà
thuật còn rất phổ biến trong các vùng làng quê
ở Âu Châu là nơi các sách vở về ma thuật được
phổ biến và lưu hành khá rộng rãi trong nhiều
thế kỷ. Các
quyền lực ma thuật vì thế cũng được lưu
truyền trải qua nhiều đời. Quyền
lực ma thuật cũng được tiếp thu bằng con đường
tập tành dính dấp đến các hoạt động thông
linh. Một công
nhân ở một thành phố Thụy-sĩ cảm thấy chán công
việc đang làm và bắt đầu mơ đến việc kiếm
tiền dễ dàng hơn của các thầy thôi miên và
chữa bệnh bằng thông linh.
Anh ta khởi sự mua các sách vở dạy ma thuật
và bắt đầu học thần chú và phù phép, tham gia các
cuộc cúng tế ma quỉ và thực tập chữa bệnh.
Khả năng chữa bệnh bằng pháp thuật của
anh ta tiến bộ rất nhanh và không bao lâu lợi
nhuận kiếm được qua công việc này đã nhiều hơn
gấp bội so với lương công nhân trước kia.
Nhưng tất nhiên cũng bắt đầu từ đó
xiềng xích của ma thuật cột trói anh ta ngày càng
chặt hơn. Như vậy, ngoài phương thức chuyển giao
các khả năng ma thuật qua con đường di truyền từ
đời cha ông sang con cháu, cho đến bốn đời,
quyền lực ma thuật cũng có thể thâu đoạt bằng
việc giao kết với ma quỉ, thường là giao kết
theo lối trích máu ăn thề, tập luyện và thực hành
các hoạt động thông linh.
Bây giờ chúng ta sẽ đề cập đến các hình
thức ma thuật. Ma
Thuật Ðen
Từ
thời Trung cổ cho đến nay, ma thuật dường như không
thay đổi bao nhiêu. Người
ta gọi là “ma thuật đen” vì các hoạt động ma
thuật này có liên hệ trực tiếp với quyền lực
của sự tối tăm là ma quỉ. Những người thực hành
ma thuật đen thường là những người đã lấy máu
mình cam kết đứng về phía Sa-tan, bán linh hồn cho
Sa-tan để đổi lấy một số quyền lực, tà
thuật siêu nhiên. Vì
ma thuật đen trực tiếp liên quan đến ma quỉ cho nên
nó là hình thức ma thuật kinh khủng, dữ dằn hơn
hết. Các
thầy pháp trong ma thuật đen thường dùng bùa ngãi,
thần chú hay các lời nguyền để bách hại, báo thù,
hay ngược lại, để tự bảo vệ hay chữa bệnh.
Các thầy phù thủy ở Papua Tân-ghi-nê thường
dùng những lời nguyền để giết kẻ thù.
Việc sử dụng thần chú hay các lời nguyền
liên kết với quyền lực của ma quỉ để chữa
bệnh hay hãm hại không chỉ là hình thức ma thuật
đen của thời xưa, mà ngày nay vẫn còn được
thực hành cả trong các nước phát triển nữa và
bằng chứng cụ thể nhất là các sách báo về ma
thuật đen hiện đang được lưu hành rộng rãi
và công khai tại các nước Âu Mỹ. Một
nông gia Ðức chưa từng gặp rắc rối nào với ma
thuật, một ngày kia, từ trại giam của Nga trở
về, bỗng thường xuyên gặp ác mộng trong giấc
ngủ. Anh thấy
mình bị một bà hàng xóm, là mẹ một người bạn
tù của anh nhưng mất tích, xiết cổ. Các cơn ác
mộng cứ tái diễn thường xuyên, khiến người nông
dân khốn khổ này phải đi tìm thầy pháp nhờ giúp
đỡ. Thầy pháp
cho biết anh bị người ta tấn công bằng ma thuật
vì bà hàng xóm nghĩ rằng anh đã dành phần may
mắn của con bà, anh trở về khiến cho con bà ta
mất tích. Với sự giúp đỡ của thầy pháp, anh ta
hết ác mộng. Nhưng
chỉ ít lâu sau, rắc rối khác lại xuất hiện, đó
là bầy súc vật của anh cứ từng con lăn ra chết.
Lại tìm đến thầy pháp, anh được cho một
số bùa giấy đem về trộn vào thức ăn cho súc
vật thì tình trạng bệnh dịch chấm dứt.
Cần lưu ý, ma thuật đen với bùa ngãi, phù
chú không chỉ là mê tín dị đoan nhưng trong nhiều
trường hợp là phương tiện thể hiện quyền lực
của ma quỉ, tà linh, nói chung là quyền lực của
sự tối tăm. Tiến
sĩ Kurt Koch cũng thuật lại một trường hợp sử
dụng ma thuật đen để chữa bệnh ở thành phố
Toggenburg, Thụy Sĩ như sau.
Một nông dân ở Toggenberg tìm đến một
thầy thuốc chữa bệnh bằng ma thuật để xin cứu
giúp con trai ông bị sốt tê liệt từ nhỏ.
Người nông dân muốn có một đứa con khỏe
mạnh tiếp nối công việc nông trại nên đã tìm
thầy chạy thuốc khắp nơi, mong sao cho con lành
mạnh. Cuối cùng
ông đến với một pháp sư có tiếng là Hugentobler
ở Peterzell. Ông
này dùng ma thuật đen chữa cho đứa bé hoàn toàn lành
mạnh. Mọi
sự diễn tiến tốt đẹp trong nhiều năm.
Tuy nhiên vào năm đứa trẻ 16 tuổi, một ngày
kia người cha thấy con nằm trên vũng máu trong một
chuồng ngựa, cổ bị một vết thương cắt đứt
động mạch. Thảm
họa xảy ra quá bất ngờ.
Trên thân thể đứa con hấp hối người nông
dân tìm thấy một lá bùa của pháp sư Hugentobler để
trong một túi da nhỏ có hàng chữ: “Linh hồn này
thuộc quỉ”. Ðây
là bằng chứng cho thấy vì sao qua ma thuật đen đứa
trẻ này đã được chữa lành một cách thần kỳ! Trong
hầu hết các nước, có thể nói Tây Tạng là nước
chống đối Phúc Âm của Chúa Giê-xu dai dẳng lâu dài
nhất. Trên đất
nước này người ta thấy quyền lực của ma quỉ
được phô trương lộ liễu trong tôn giáo thông
linh và trong các hoạt động ma thuật, quỉ thuật.
Các giáo sĩ và các nhà nghiên cứu ở Tây
Tạng đều công nhận rằng các pháp sư, thuật sĩ,
tu sĩ Tây Tạng có khả năng pháp thuật rất lớn,
đặc biệt là về các thuật thông linh như thuật
viễn khiển (telekinesis), nâng bàn, chữa bệnh bằng
ma thuật... Những
sự kiện trên nhắc cho chúng ta nhớ đến các pháp
sư của thời Kinh Thánh, như Si-môn ở Sa-ma-ri “làm
nghề phù phép” (Công Vụ 8:9), như Ê-ly-ma, thuật
sĩ ở Ba-phô, đảo Síp (Công vụ 13:8-10), như các
thầy phù thủy Ai-cập là Gian-nét và Giam-be (2 Ti-mô-thê
3:8-10), là những kẻ chống cự Môi-se tôi tớ Ðức
Chúa Trời, tất cả họ là những kẻ bị quở trách,
rủa sả. Ðây
là những công cụ trực tiếp trong tay ma quỉ cho nên
họ có thể làm được nhiều điều phi thường,
tạo nên những hiện tượng siêu nhiên, thậm chí có
thể chữa được những bệnh nan y, nhưng chúng ta
cần nhớ một điều, như C.S. Lewis đã nói: “Ma
quỉ chữa cho con người
bệnh ngoài da, nhưng rồi sẽ khiến con người
mắc bệnh ung thư.”
Hậu quả cuối cùng của tất cả những người
sử dụng ma thuật hoặc nhờ cậy ma thuật phải
chịu luôn luôn là đau đớn và hối tiếc... (còn
tiếp) |
|
|
|