Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Những Trẻ Lạc Loài của Sài-gòn Năm Xưa

 

 

   

 

     

 

 

 

 

LTS.  25 năm sau biến cố tháng 4, 1975, tạp chí Reader’s Digest có đăng một bài của Karen Ryan, nữ tiếp viên hãng hàng không Pan American World Airways, viết về một kinh nghiệm khó quên, cũng là mối quan tâm sâu đậm của cô đối với thân phận những trẻ mồ côi được đem ra khỏi Sài-gòn trong những ngày tháng Tư lịch sử. 

Tôi may mắn có một việc làm rất nhiều người mong muốn - tiếp viên của một hãng hàng không lớn.  Không những đó là công việc lương cao, nhưng còn được bay đến tận nơi, thấy tận mắt những thành phố “kiều diễm” nhất thế giới, Paris, Tokyo, Hồng Kông…  Trong những năm chiến tranh Việt Nam, hãng Pan Am hàng tuần có hai chuyến đến Sài-gòn và từ trên độ cao 35,000 bộ tôi có thể cảm nhận được áp lực của cuộc chiến bên dưới qua nét đăm chiêu của những người lính Mỹ hết phép trở về đơn vị.  Ðám tiếp viên chúng tôi biết rõ đối với họ, chúng tôi không chỉ là những thiếu nữ đồng hương tươi tắn, nhưng còn là hình ảnh của nước Mỹ mà có lẽ còn lâu lắm và nếu may mắn thì họ mới có thể thấy lại.  Cố giữ nụ cười thật can đảm, chúng tôi chào từng người lính Mỹ rời không khí mát lạnh trong con tầu, đi xuống, vào vòng tay hầm hập nóng của chiến trường, “Tạm biệt, hẹn tái ngộ.” Rồi cửa máy bay đóng lại, chúng tôi lại lên đường, không bao giờ nghĩ rằng có ngày chúng tôi sẽ đi những chuyến bay của tình thương, đưa đám trẻ côi cút lạc loài trong chiến tranh ra khỏi vùng đất tang thương này.

Ngày 4 tháng 4, 1975 tổ bay của chúng tôi đang ở Hồng Kông thì được lệnh hôm sau đến Sài-gòn để đưa 400 cô nhi sang Mỹ.  Người ta chất lên chiếc Boeing 747 khổng lồ hàng trăm bình sữa, hàng nghìn tã lót, ghế cho từng trẻ nhỏ và nguyên một khoang tầu được biến thành trạm y tế dã chiến trên không với kim tiêm, ống chích, thuốc men, dụng cụ y khoa đủ cho mọi tình huống cấp cứu.

Máy bay đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Còn đang trên phi đạo, tôi đã thấy hàng chục xe buýt nhà binh Mỹ chuyển bánh tiến lại gần,  bên trong chở đầy trẻ cô nhi vì chiến tranh, gom góp từ khắp bốn vùng chiến thuật miền Nam.

Vì lý do an ninh chúng tôi phải thu xếp để có thể cất cánh trong thời gian ngắn nhất.  Cửa máy bay mở tung, hơi nóng ập vào, trong khoảnh khắc, tôi thấy hai tay ôm ba đứa trẻ đang khóc, thế mà lại có người cố đưa cho tôi thêm một đứa nữa!  Ðặt từng sinh vật bé bỏng vào ghế, cứ thế tôi tất tả đi lên đi xuống không biết bao nhiêu chuyến.  Ẵm  trong tay những thân thể bé nhỏ nóng bỏng, nhìn những gương mặt ngây thơ, những cặp mắt ngơ ngác,  tôi bắt đầu dơm dớm nước mắt, cố giấu, nhưng lại thấy cô bạn đang chuyền em bé cho tôi cũng đang giọt ngắn giọt dài!

Chúng tôi đang đưa hơn 400 sinh vật bé nhỏ rời bỏ quê hương để đi đến một đất nước xa xôi vạn dặm.  Chúng tôi không biết làm gì hơn cho những linh hồn bé nhỏ này là ôm ấp, vỗ về chúng, tất nhiên là với những gương mặt và ngôn ngữ xa lạ!  Những trẻ cô nhi trong chuyến bay hầu hết còn rất nhỏ, dưới một, hai tuổi, có vài em lớn hơn, trong đó có một bé trai tên là Hoàng Văn Long.  Mẹ mất trong chiến tranh, em được bà ngoại 78 tuổi nuôi, nhưng rồi cuối cùng bà đành phải đưa Long vào cô nhi viện, mong rằng nếu được một gia đình người Mỹ nhận nuôi, sẽ có một tương lai khá hơn.  Long ngồi ở ghế bên cửa sổ, nhìn xuống quê hương xa dần, tâm trí nhớ đến mẹ, đến bà, biết rằng đó là những người rất mực yêu thương nó.  Long lấy trong túi ra tấm ảnh gia đình mới. Cha mẹ nuôi là người Mỹ, sống trong một thành phố nhỏ đâu đó ở Ohio.  Hầu hết các trẻ cô nhi trên chuyến bay này đều là thành phần giống như Long, đã được phân phối cho các gia đình nhận nuôi qua một cơ quan trung gian điều phối, The Holt International Children’s Services có trụ sở tại Oregon.

Trong 5 giờ bay đến đảo Guam, tôi săn sóc mấy chục trẻ, nhiều đứa có tên ghi trong miếng băng nhựa đeo ở cổ tay, những cái tên đối với tôi thật khó đọc như Vũ Ðình Tiến, Nguyễn Thị Mai… Tôi cố ghi lại một số tên nghĩ rằng có lẽ một ngày nào đó tôi có thể dò tìm lại để xem cuộc sống và tương lai chúng ra sao.  Máy bay đáp xuống đảo Guam, chúng tôi bàn giao những đứa trẻ mới chỉ ở trong vòng tay vỏn vẹn có 5 giờ, cho một tổ bay mới đưa sang Seattle.  Nơi đây, những cuộc đời bé nhỏ này, sẽ như những hạt giống, được tan rải khắp nơi trên nước Mỹ bao la, để bén rễ, lớn lên hay sẽ tàn lụi héo úa!  

Tôi tiếp tục bay với hãng Pan Am một số năm nữa rồi lập gia đình và ổn định cuộc sống trong một nông trại ở Montana.  Khi Paul, đứa con đầu  chào đời, cũng là lúc tôi thành lập một cơ quan lấy tên là Heartland Caregivers chuyên tìm người giữ trẻ và chăm sóc cho người già, cung cấp cho những gia đình có nhu cầu.  Cho đến lúc đó, mối liên hệ duy nhất của tôi với những trẻ mồ côi trong chuyến bay năm xưa là một bài tôi viết lại kinh nghiệm đó cho tờ báo địa phương, được nguyệt san Reader’s Digest  đăng lại vào số tháng 5, 1976, “Một Chuyến Bay Ðầy Trẻ Nhỏ” (A Planeload of Babies).  Tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bài viết này và thường tự hỏi không biết rồi ra những đứa trẻ đó ra sao. Tôi không bao giờ nghĩ rằng mình có thể biết kết thúc câu chuyện.

Nhưng rồi bẵng đi 24 năm, vào một buổi chiều, một cú điện thoại từ trợ bút tờ Reader’s Digest gọi hỏi xem tôi có muốn biết số phận vài đứa trẻ trong chuyến bay của tôi ra sao không.  Trong khoảnh khắc tất cả những xúc động trong chuyến bay năm xưa dồn dập trở về và tôi hồi hộp chờ đợi ngày hội ngộ.

Lúc đến nơi, tôi thấy Kara Delahunt đang đứng ở phòng tiền đường khách sạn Mayflower Hotel ở Washington.  Trong giây phút, tôi thấy mình bị choáng ngất y như lúc ôm đứa bé đầu tiên trong tay trên chuyến bay ở Sài-gòn.

Dựa trên những tên tôi đã viết xuống trong chuyến bay, cơ quan Holt ở Oregon đã thu xếp cho tôi tiếp xúc với vài đứa trẻ trong chuyến bay đó.  Riêng trường hợp Kara, chính tôi đã goị điện thoại và hẹn gặp cô bé tại đây.  Trước mặt tôi là một thiếu nữ có gương mặt Á châu xinh xắn, 25 tuổi, dáng vẻ tinh tế linh hoạt.  Sau khi tôi giới thiệu, cô ta cười thật tươi.  Chúng tôi ôm chầm lấy nhau hồi lâu.  Lần đầu trong vòng tay tôi, Kara chỉ là một bé gái 5 tháng tên Nguyễn Thị Mai-Trang.  Ông bà Delahunt ở Quincy,  Massachussetts đã nhận Mai-Trang làm con nuôi với tên mới là Kara.  Cô bé lớn lên yêu thương cha mẹ nuôi và đuợc mẹ nuôi dạy rằng mẹ ruột để Kara trong cô nhi viện vì yêu thương và muốn cho con có một cuộc sống tốt hơn.  Kara lớn lên với lòng tin đó nên trong những năm đại học đã có những mùa hè Kara sang Chile làm công tác thiện nguyện trong cô nhi viện.  Kara đã học xong Ðại Học, có bằng cao học tiếng Tây Ban Nha, nói  thông thạo Ðức Ngữ, nhưng không biết một tiếng Việt nào.  Cô hiện đang làm cho một cơ quan dịch vụ về các quan hệ quốc tế.  Tháng Tư năm 2000 Kara về thăm Việt Nam.  Cô bảo rằng, “Việt Nam thật xa lạ với tôi, nhưng lại là một phần con ngưòi tôi.  Tôi đi thăm Việt Nam rồi trở về đây suy nghĩ về mảnh đất quê hương đó.”

Một trong số trẻ cô nhi  nói chuyện với tôi trong chuyến bay 25 năm trước, là cậu bé 8 tuổi - Hoàng Văn Long, ngồi bên cửa sổ máy bay, nhớ bà, nhớ mẹ và suy nghĩ về tương lai.  Long được gia đình bác sĩ James Steiner ở Ohio nhận làm con nuôi. Tên mới của Long là Matthew Steiner.  Trong những năm trung học Matthew chơi thể thao và là một trong hai học sinh xuất sắc được chọn đọc diễn văn ra trường.  Sau khi tốt nghiệp Goshen College, Matthew  học  ngành y  và hiện đang là bác sĩ tại một bệnh viện ở Charlotte, N.C.  Nói về cha mẹ nuôi, Matthew bảo rằng anh đã được sống trong một gia đình nền nếp và  “điều quan trọng nhất trong gia đình tôi là làm sao có thể giúp đỡ được người khác càng nhiều càng tốt.”

Trường hợp của một trẻ mồ côi khác trong chuyến bay trên là Chris Brownlee.  Anh tốt nghiệp ngành tâm lý, đại học Wesleyan University ở Ohio.  Hiện Chris đang làm việc tại Boston, giúp đỡ cho những thanh thiếu niên gặp nan đề trong gia đình. Chris nói với tôi rằng một ngày kia anh cũng muốn trở về Việt Nam nhưng “trước hết phải biết mình là ai đã.”

Có một buổi chiều tôi và Kara Mai-Trang cùng đi dọc theo đài kỷ niệm cựu chiến binh Việt Nam ở Washington.  Tôi  nhìn bức tường xám khắc tên của hơn 58,000 người lính hy sinh ở Việt Nam. Họ là những người trạc tuổi tôi, là những người cùng thế hệ với tôi.  Họ có thể đã là một trong những người chồng, người cha của con cái chúng tôi, nhưng ngày nay tên họ khắc trên bức tường đá kia, lặng lẽ câm nín nhìn thời gian.  Tôi thường tự hỏi cơn ác mộng của cuộc chiến tàn khốc đó đã đem lại ích lợi gì.  Tôi nhìn về phía Kara đang đứng đó, suy tư, cặp mắt đen, sáng, xúc động.  Tôi liên tưởng đến hàng nghìn người trên đất nước này đã chịu ảnh hưởng tốt đẹp qua cuộc đời của những đứa trẻ mồ côi năm xưa, như Kara Nguyễn thị Mai Trang, như  Hoàng Văn Long, như Chris Brownlee. Tôi thầm nghĩ, đây chính là những báu vật của Việt Nam: qua những đứa trẻ mồ côi này người Mỹ đã nhận được một món quà còn quí giá hơn món quà tự do nước Mỹ đã cho họ.

***

Tháng Tư hàng năm nhắc lại cho chúng ta những hồi ức của một biến cố quan trọng đem lại những thay đổi thật lớn cho nhiều cuộc đời. Câu chuyện trên nói đến khía cạnh tích cực của những cuộc đời may mắn thành công.  Là con cái Chúa, thật ra chúng ta không cần phải ngồi đây tiếc nuối những cơ hội đã mất, vì bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể bắt đầu lại ngay bây giờ với Chúa, trong một chuyến bay an toàn nhất trong một hành trình kỳ thú, bất kể hoàn cảnh hiện tại của cá nhân, của gia đình chúng ta ra sao.  Trong vòng tay Chúa sẽ không có một bế tắc hay một giới hạn nào.  Xin dành mỗi ngày một khoảnh khắc thời gian yên tĩnh, mở Kinh Thánh ra và bắt đầu hành trình đó với Chúa.

Hảo Minh