![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Bình
An Với Chúa |
|
|
|
LTS:
“Bình An Với Chúa” (Peace With God) của
Mục Sư Billy Graham được khởi đăng từ Thông Công số
155.
Chương
13 Làm
Sao Tôi Biết Chắc “Ta
đã viết những điều này cho các con hầu
cho các con biết mình có sự sống đời đời, là
kẻ nào tin đến danh Con Ðức Chúa Trời.” (IGiăng
5:13) Mỗi
tuần tôi nhận được hàng chục lá thư, từ những người
cho biết họ có những điều nghi ngại và không chắc
chắn liên quan đến cuộc sống Cơ-đốc.
Trong số đó có những tín hữu thật nhưng dường
như lại không có được niềm vui trong đức tin Cơ-đốc,
hay không cảm thấy được bảo đảm vì họ đã không
hiểu được chân lý căn bản về kinh nghiệm Cơ-đốc.
Dù Kinh Thánh đã khẳng định rằng “những việc này
đã chép để các ngươi tin rằng Ðức Chúa Giê-xu là
Ðấng Christ, tức là Con Ðức Chúa Trời, và để khi các
ngươi tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống”
(Giăng 20:31), nhưng nhiều người vẫn không cảm thấy
vững chắc, an lòng. Chúng
ta sẽ dùng chương này để tóm tắt lại những gì đã
xảy ra trong tiến trình cứu rỗi. Chúng ta đã hiểu rõ
ý nghĩa của sự ăn năn, việc đặt đức tin nơi Chúa
và sự được sinh lại hay tái sinh. Nhưng làm sao chúng
ta có thể biết chắc tất cả những điều này đã
xảy ra cho chúng ta? Nhiều
người nói chuyện với tôi đã từng ăn năn, tin nhận
Chúa Cứu Thế Giê-xu và đã tái sinh, nhưng vẫn cảm
thấy không chắc chắn về sự kiện mình qui đạo. Chúng
ta hãy đi trở lại một số điều đã học.
Trước hết, sự kiện trở thành một Cơ-đốc
nhân có thể là một biến động lớn trong đời sống
hay cũng có thể là một tiến trình đưa đến một cao
điểm mà bạn có thể ý thức hay không.
Xin bạn đừng hiểu lầm điểm này. Việc bạn
trở thành Cơ-đốc nhân không phải là kết quả của
một tiến trình giáo dục.
Vài năm trước một mục sư có tiếng tăm bảo
rằng, “Chúng ta phải giáo dục và huấn luyện thanh
niên trong lối sống Cơ-đốc như thế nào để họ không
bao giờ biết thời gian họ chưa phải là Cơ-đốc nhân.”
Nhiều triết lý giáo dục tôn giáo đã dựa vào
tiền đề này và có lẽ một số không ít đã lạc
mất yếu tính của kinh nghiệm Cơ-đốc, vì tất cả
chỉ lo huấn luyện mà thôi cho nên trong lòng không hề
có một biến đổi nào. Ðến
đầu thế kỷ 20, giáo sư Starbuck, một lý thuyết gia hàng
đầu trong lãnh vực tâm lý, quan sát và nhận thấy
rằng những công tác viên Cơ-đốc thường là những
người được tuyển trong hàng ngũ những người đã có
một kinh nghiệm hoán cải sinh động. Ông cũng nhận
thấy rằng những người có khái niệm rõ ràng về
sự hoán cải thường là những người xuất thân từ
các vùng quê ít được huấn luyện về tôn giáo hoặc
có được huấn luyện nhưng không qui mô. Không
phải chúng ta phê phán việc huấn luyện tôn giáo, nhưng
những nhận định trên có thể coi là lời cảnh cáo
đối với hiểm họa sử dụng những trang bị tôn giáo
không thích đáng thay thế cho kinh nghiệm tái sinh. Tôn
Giáo Không Phải Là Tái Sinh Chúa
Giê-xu đã nói với Ni-cơ-đem, một trong những người
sùng đạo nhất đương thời, “Nếu một người không
sinh lại thì không thể thấy nước Ðức Chúa Trời”
(Giăng 3:3). Ni-cơ-đem
không thể lấy kiến thức tôn giáo sâu sắc của ông
thay thế cho sự tái sinh và cho đến thế hệ hôm nay
chúng ta vẫn chưa vượt qua được giới hạn đó. Con
sâu xấu xí dùng hầu hết thời gian để tăng trưởng
và thay đổi trong kén mà không ai biết đến. Dù tiến
trình đó có chậm chạp và kéo dài bao lâu đi nữa cũng
sẽ đến lúc nó phải trải qua một biến động, từ
đó xuất hiện một con bướm đẹp đẽ.
Những tuần lễ tăng trưởng trong yên lặng rất
quan trọng, nhưng nó không thể thay thế cho kinh nghiệm
đặc biệt khi cái xác cũ kỹ, xấu xí bị lột ra để
lại đàng sau và một hình dáng mới rực rỡ xuất
hiện. Có
hàng nghìn Cơ-đốc nhân không biết rõ đích xác ngày
giờ người đó biết Chúa Cứu Thế, nhưng đức tin và
đời sống họ minh chứng rằng họ đã được hoán
cải, đã đến với Chúa Cứu Thế một cách ý thức
hay vô thức. Dù họ có nhớ hay không thì vẫn có một
giây phút họ đã vượt lằn ranh từ chết qua sống. Có
lẽ ai cũng có những điều ngờ vực, những điều
cảm thấy không chắc chắn trong kinh nghiệm tôn giáo.
Khi Môi-se lên núi Si-na-i nhận hai bảng luật Chúa ban,
ông vắng mặt nơi tuyển dân trong một khoảng thời
gian nên họ nóng lòng trông chờ ông trở lại.
Cuối cùng dân chúng ngờ vực, nói với A-rôn, “Nào
hãy làm các thần để
đi trước chúng tôi đi vì về Môi-se, là người đã
dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ai-cập chúng tôi không
biết việc gì đã xảy đến cho người rồi” (Xuất
Ai-cập 32:1b). Sự
bội nghịch của tuyển dân là hậu quả của lòng nghi
ngờ và thiếu xác quyết. Tình
trạng thiếu xác quyết đáng sợ trên ám ảnh linh
hồn vô số người phát xuất từ sự hiểu lầm
những yếu tố của kinh nghiệm Cơ-đốc. Nhiều người
dường như không hiểu gì về bản chất kinh nghiệm Cơ-đốc
trong khi một số khác lại mong đợi và tìm kiếm
những kinh nghiệm không hề được Kinh Thánh bảo đảm. Từ
đức tin được nói đến rõ ràng hơn ba trăm
lần trong Tân-ước liên hệ đến sự cứu rỗi,
không kể nhiều lần hàm ý.
Tác giả thư Hy-bá viết, “Kẻ đến gần Ðức
Chúa Trời phải tin rằng có Ðức Chúa Trời, và Ngài
là Ðấng ban thưởng cho người chuyên cần tìm kiếm
Ngài” và, “Không có đức tin thì không thể nào
ở cho đẹp ý Ngài” (Hy-bá 11:6). Chính
vì lẫn lộn đức tin với cảm xúc cho nên
ngày nay nhiều người đã kinh nghiệm tình trạng khó
khăn và thiếu xác quyết thường có giữa vòng những
người nhận mình là Cơ-đốc nhân. Ðức
tin luôn luôn hàm ý phải có đối tượïng, nghĩa là
chúng ta phải đặt đức tin vào một người nào hay
một vật gì. Người
hay vật đó chúng ta gọi là sự kiện.
Tôi xin đưa ra ở đây ba từ ngữ hướng dẫn chúng
ta ra khỏi tình trạng ngờ vực để bước vào cuộc
sống một Cơ-đốc nhân đầy lòng tin quyết.
Ba từ ngữ đó là sự kiện, đức tin và cảm
xúc theo đúng thứ tự này.
Nếu lẫn lộn thứ tự hoặc bỏ bớt hoặc thêm
vào, chúng ta sẽ rơi vào trong vũng lầy của thất
vọng và tiếp tục lần mò trong bóng mờ, không có
được niềm vui và lòng tin quyết của một người có
thể tuyên bố rằng, “Tôi biết tôi đã tin Ðấng
nào” (2 Ti-mô-thê 1:12). Sự
Kiện Chúng
ta được cứu khỏi tội hoàn toàn chỉ do đức tin cá
nhân vào Phúc-âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu được trình
bày trong Kinh Thánh. Dù điều này đối với bạn, ban
đầu có vẻ giáo điều và hẹp hòi, nhưng sự kiện
hiển nhiên còn lại đó là không có một con đường nào
khác. Kinh Thánh
ghi lại lời Thánh Phao lô viết, “Trước hết, tôi
đã dạy anh em điều chính tôi đã nhận lãnh, ấy là
Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời
Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài
sống lại theo lời Kinh Thánh” (I Cô-rinh-tô
15:3,4). Kinh Thánh bảo rằng chúng ta được cứu khi đức
tin chúng ta ở trong sự kiện khách quan này.
Công việc của Chúa Cứu Thế là sự kiện,
thập tự giá của Ngài là sự kiện, ngôi mộ của Ngài
là sự kiện và sự phục sinh của Ngài là sự kiện. Không
thể nào chỉ do tin tưởng mà người ta có thể làm
cho một điều gì hiện hữu. Phúc Âm không hiện hữu
do con người tin tưởng.
Ngôi mộ trống không còn xác chết vào ngày Lễ
Phục Sinh đầu tiên không phải vì có những người
trung thành tin như
vậy. Sự kiện luôn
luôn có trước đức tin.
Con người được tạo dựng về phương diện tâm
lý, không thể tin nếu không có đối tượng của đức
tin. Kinh
Thánh không kêu gọi bạn tin vào điều gì không thể
tin, nhưng tin vào sự kiện lịch sử mà trong thực
tại vượt qua tất cả mọi dòng lịch sử. Kinh Thánh
kêu gọi bạn tin vào công tác của Chúa Cứu Thế
giải quyết tội lỗi cho tội nhân là công tác có
hiệu nghiệm cho tất cả mọi người dám liều mình phó
thác linh hồn cho Chúa. Tin
cậy Chúa để
được sự cứu rỗi vĩnh cửu là tin cậy vào một
sự kiện. Ðức
Tin Theo
thứ tự, đức tin đứng thứ nhì trong ba từ ngữ trên.
Hiển nhiên về phương diện lý trí, đức tin không
thể có được nếu không có gì để tin. Ðức tin
cần phải có đối tượng. Ðối tượng đức tin Cơ-đốc
là Chúa Cứu Thế. Ðức
tin không chỉ là chấp nhận bằng lý trí những lời
tuyên xưng của Chúa Cứu Thế nhưng còn liên quan đến
ý chí. Ðức tin có
tính cách quyết định chọn lựa.
Ðức tin đòi hỏi hành động. Nếu chúng ta
thực sự tin, chúng ta sẽ sống theo niềm tin tưởng đó.
Ðức tin không việc làm là đức tin chết.
Ðức tin thực sự có nghĩa là thuận phục, ký
thác và tận hiến cho những điều Chúa Cứu Thế tuyên
xưng. Ðức tin bao
gồm việc nhận tội và quay trở về với Chúa Cứu
Thế. Chúng ta không
thể biết Chúa Cứu Thế bằng ngũ quan nhưng chúng ta có
thể biết Ngài bằng giác quan thứ sáu mà Ðức Chúa
Trời ban cho mọi người, đó là khả năng tin. Kinh
Nghiệm Ðức Tin Trong
khi tôi cẩn thận đọc qua Kinh Thánh Tân Ước để xem
bạn có thể có loại kinh nghiệm nào, tôi thấy Tân Ước
chỉ đưa ra có một loại kinh nghiệm mà thôi.
Ðó là kinh nghiệm bạn có thể tìm, kinh nghiệm
bạn có thể mong đợi và đó là kinh nghiệm đức tin.
Tin là một kinh nghiệm rất thật như mọi kinh nghiệm,
vậy mà nhiều người vẫn còn muốn tìm thêm những điều
khác, như xúc cảm mãnh liệt hay những thể hiện phi
thường khác. Nhiều người được bảo phải đi tìm
những xúc cảm đó, nhưng Kinh Thánh dạy rất rõ rằng
người ta được “công chính hóa” bởi đức tin
chứ không nhờ xúc cảm.
Một người được cứu là do tin cậy công tác
chuộc tội viên mãn của Chúa Giê-xu trên thập tự giá
chứ không do những khích động thể lý hay tình trạng
ngây ngất trong tôn giáo. Nhưng
rồi bạn có thể nói với tôi, “Thế còn xúc cảm thì
sao? Trong đức tin cứu rỗi không có chỗ nào cho xúc
cảm sao?” Có xúc cảm trong đức tin cứu rỗi nhưng
chúng ta không được cứu nhờ xúc cảm. Bất cứ xúc
cảm nào chúng ta có chỉ là kết quả của đức tin
cứu rỗi. Xúc cảm không cứu chúng ta! Xúc
Cảm Xúc
cảm là chữ cuối cùng trong ba từ đã nêu lên (sự
kiện, đức tin và xúc cảm) và là phương diện ít
quan trọng nhất. Tôi
tin rằng tình trạng bất ổn trong đời sống tôn giáo
và tâm trạng bấp bênh không xác quyết xảy ra là do
những người nhiệt thành, chân chất đi tìm sự cứu
rỗi đã quả quyết trước rằng họ phải có một tâm
trạng sốt sắng nào đó thì mới kinh nghiệm được
sự hoán cải. Những
người đi tìm sự cứu rỗi theo như Kinh Thánh trình bày
sẽ muốn biết loại kinh nghiệm nào Kinh Thánh muốn
dẫn vào. Tôi thường
nói những điều sau đây cho những người đáp ứng
lời mời tin nhận Chúa, hoặc trước bục giảng hay
trong các phòng vấn nạn, hay khi quì gối ngay bên cạnh
máy thâu thanh hay truyền hình.
Tôi bảo rằng, bạn đã nghe sứ điệp tin mừng,
bạn đã biết mình là một tội nhân đang cần có
một Ðấng Cứu Chuộc, bạn đã nhận ra rằng cuộc đời
bạn về phương diện thuộc linh hoàn toàn đổ vỡ,
bạn đã cố theo mọi kế hoạch của con người để
tự cải tiến, tự cải cách nhưng tất cả đều
thất bại. Trong tình
trạng hư vong và tuyệt vọng, bạn ngước lên nhìn Chúa
Cứu Thế trông đợi ơn cứu rỗi.
Bạn tin rằng Ngài có đủ quyền năng và chắc
sẽ cứu bạn. Bạn
từng được nghe hay đọc lời mời của Ngài trong Kinh
Thánh rằng, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh
nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các con được yên
nghỉ” (Ma-thi-ơ 11:28). Bạn cũng đã đọc lời Chúa
hứa, “Người nào đến cùng Ta thì Ta không bỏ ra
ngoài đâu” (Giăng 6:37), và bạn cũng đã đọc
lời Chúa bảo rằng, “Nếu người nào khát hãy đến
cùng ta mà uống” (Giăng 7:37). Xúc
Cảm Ðến Sau Ðức Tin Khi
tôi hiểu đôi điều về tình yêu của Chúa Cứu Thế
dành cho tôi là một tội nhân, tôi đáp ứng với Ngài
cũng bằng tình yêu - và tình yêu thì có kèm theo cảm
xúc. Nhưng tình yêu đối với Chúa Cứu Thế vượt lên
trên tình cảm của con người dù cả hai có những điểm
tương đồng. Ðây là loại tình yêu giải phóng chúng
ta khỏi bản ngã. Trong hôn nhân có sự cam kết nhưng cũng
có xúc cảm. Tuy
nhiên xúc cảm đến rồi đi, còn cam kết không dời đổi.
Chúng ta là những người ký thác với Chúa Cứu
Thế cũng có những xúc cảm đến rồi đi, xúc cảm
vui mừng, yêu mến, biết ơn..., nhưng sự cam kết
tiếp tục vững bền. Xúc
cảm quan trọng nhưng không thiết yếu. Kinh Thánh bảo
rằng, “tình yêu thương trọn vẹn cất bỏ mọi
sợ hãi” (I Giăng 4:18) cho nên lòng tin cậy Chúa
Cứu Thế của những người yêu mến Ngài nâng họ vượt
lên trên mọi sợ hãi. Các
nhà tâm lý học cho biết có những nỗi sợ hãi gây
tổn hại nhưng cũng có những sự sợ hãi lành mạnh.
Nỗi sợ hãi lành mạnh khiến chúng ta chăm sóc
chính mình và những người thân.
Chúa Giê-xu dạy chúng ta cần e sợ, cảnh giác
đối với Sa-tan. Khi
hiểu rằng Chúa Cứu Thế trong sự chết của Ngài đã
tuyệt đối đắc thắng tội lỗi và sự chết, thì tôi
không còn sợ sự chết nữa. Kinh Thánh dạy rằng, “Vì
con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Chúa
Cứu Thế Giê-xu cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài
bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự
chết là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì
sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời”
(Hê-bơ-rơ 2:14,15). Hiển nhiên sợ hãi là một xúc
cảm và thắng sự sợ hãi với can đảm và lòng tin
cậy trước sự chết là xúc cảm và kinh nghiệm.
Nhưng tôi cần nhắc lại điểm này, điều cứu
chúng ta không phải là
xúc cảm can đảm hay sự an tâm mà là đức tin, trong
khi đó can đảm và sự an tâm là kết quả của đức
tin đặt nơi Chúa Cứu Thế. Trong Kinh Thánh, từ Sáng
Thế Ký đến Khải Huyền đều dạy chúng ta phải kính
sợ Ðức Chúa Trời. Chính
lòng kính sợ Chúa này đã khiến cho chúng ta nhận định
đúng tất cả những nỗi sợ hãi khác. Tình
Trạng Mắc Tội Có
một lương tâm mang mặc cảm phạm tội là một kinh
nghiệm. Các nhà tâm
lý học có thể định nghĩa đó là kinh nghiệm mắc
tội và có thể tìm cách biện bạch để xóa bỏ mặc
cảm mắc tội này.
Tuy nhiên, một khi lương tâm đã thức tỉnh do đối
diện với giới răn của Ðức Chúa Trời thì không
một lời biện minh nào có thể trấn át tiếng nói dai
dẳng của lương tâm. Có
nhiều tội nhân cuối cùng đã ra đầu thú nộp mình
cho chính quyền vì sự lên án, cáo trách của lương tâm
mắc tội còn kinh khủng hơn các chấn song nhà tù. Trong
một bài báo nói về sự mắc tội được đăng trên
tờ The New York Times (Số ra ngày 29 tháng 11, 1983),
Tiến sĩ Helen Block Lewis, một tâm lý gia và nhà phân tích
tâm lý của đại học Yale, đã mô tả
cảm thức mắc tội là một cảm xúc “giúp con
người giữ liên lạc” với đồng loại.
Bà giải thích rằng “Cảm thức mắc tội là
chất keo kết hợp chúng ta lại với nhau và giúp chúng
ta duy trì tính người. Nếu bạn là người gây tổn
hại cho người khác, cảm thức mắc tội sẽ thúc đẩy
bạn phải tìm cách sửa đổi, hàn gắn lại.” Samuel
Rutherford bảo rằng, “Hãy xin Chúa ban cho bạn một ý
thức mạnh mẽ, sống động về tội lỗi. Ý thức
về tội lỗi càng sâu sắc, càng ít tội.”
Ý thức về tội lỗi chính là cảm thức mắc
tội. Nó không chỉ cho bạn biết lúc bạn rơi vào vòng
tội lỗi, nhưng cũng giống như cảm giác về sự đau
đớn, nó giữ bạn tránh xa hiểm họa.
Thiếu cảm giác đau đớn, người ta có thể vô
tình đưa tay vào lò lửa mà không cảm thấy gì cả.
Vai trò sinh động nhất của cảm giác đau đớn được
trình bày cặn kẽ trong cuốn Ðược Tạo Dựng Ðáng
Sợ Lạ Lùng (Fearfully and Wonderfully Made) của Paul
Brand và Philip Yancey. Hai
tác giả này đã giải thích rằng không phải chính
bệnh phong cùi đã làm cho nhiều người mắc bệnh này
thường bị khuyết tật, nhưng vì tình trạng mất
cảm giác đau đớn đã khiến họ bị thương tật (như
bị cháy, phỏng khi đưa tay vào lửa mà không
biết...), đưa đến hậu quả bị cưa, cắt, liên quan
đến loại bệnh kinh khủng này. Kinh
Thánh dạy rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu là Ðấng thanh
tẩy lương tâm, như trong thư Hê-bơ-rơ 9:13,14 chép như
sau, “Vì nếu huyết của dê đực cùng tro bò cái tơ
mà người ta rưới trên kẻ ô uế còn làm sạch được
phần xác thịt họ và nên thánh thay, huống chi huyết
của Chúa Cứu Thế là Ðấng nhờ Ðức Thánh Linh đời
đời, dâng chính mình không tì tích cho Ðức Chúa
Trời, thì sẽ làm sạch lương tâm anh em khỏi công
việc chết, đặng hầu việc Ðức Chúa Trời hằng
sống là dường nào!” Ðược
tẩy sạch khỏi lương tâm mắc tội và được giải
phóng khỏi tình trạng thường xuyên bị cáo trách, lên
án, là một kinh nghiệm, nhưng không phải việc thanh
tẩy lương tâm cứu rỗi bạn nhưng chính đức tin nơi
Chúa Cứu Thế cứu rỗi bạn, và lương tâm được
thanh tẩy là kết quả của việc bước vào mối tương
giao tốt đẹp với Ðức Chúa Trời. Vui
mừng là một xúc cảm.
Bình an sâu kín trong lòng là xúc cảm.
Tình thương tha nhân là xúc cảm. Mối quan tâm đối
với những người hư vong cũng là một xúc cảm. Ðiểm
cuối cùng, có lẽ có người bảo rằng, “Tôi tin vào
những sự kiện lịch sử của Phúc-âm, nhưng tôi vẫn
chưa được cứu.” Có
thể như thế, vì đức tin cứu rỗi có một phẩm tính
đặc biệt - đức tin cứu rỗi là đức tin đưa đến
lòng vâng phục, đó là đức tin tạo ra một lối
sống. Một số người rất thành công trong việc bắt
chước lối sống này trong một thời gian, nhưng những
người tin cậy Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi thì
đức tin đó tạo ra trong họ một ước muốn sống
thể hiện kinh nghiệm đức tin trong lòng.
Ðó là năng quyền đem đến kết quả trong cuộc
sống thánh thiện, đầu phục Chúa. Chúng
ta hãy để đức tin lý trí, đức tin lịch sử bạn đang
có qui phục Chúa Cứu Thế một cách hoàn toàn. Hãy
nhiệt thành ước muốn sự cứu rỗi của Ngài, và
dựa trên thẩm quyền của Lời Ðức Chúa Trời bạn
trở thành con cái Ngài. “Nhưng hễ ai nhận Ngài thì
Ngài ban cho quyền trở nên con cái Ðức Chúa Trời, là
ban cho những kẻ tin danh Ngài” (Giăng 1:12). Billy
Graham Hà
Huy Việt chuyển ngữ |
|
|
|