Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Nhận Ðịnh

 

 

   

 

     

 

CHINH PHỤC ÐỈNH CAO

     Cuối tháng 5 vừa qua người ta kỷ niệm 50 năm con người chinh phục đỉnh núi cao nhất thế giới, đỉnh Everest.  Cách đây hơn 150 năm, người Anh đã để mắt tới đỉnh núi này, lúc đó còn gọi là đỉnh XV trong dãy núi hùng vĩ Hi-mã-lạp-sơn trải dài 1,500 dậm và có nơi rộng đến 200 dậm, nằm dọc theo biên giới thiên nhiên giữa Tây Tạng và Nepal phía bắc Ấn Ðộ.  Hi-mã-lạp-sơn trong tiếng Phạn có nghĩa là “Nhà Tuyết”- vì có nhiều đỉnh cao quanh năm tuyết phủ. Từ năm 1865 đỉnh XV bắt đầu mang tên mới là đỉnh Everest, theo tên người điều khiển cơ quan trắc địa trung ương tại Ấn-độ từ 1830-1843, Sir George Everest người Anh.  Ðỉnh Everest vẫn có đó nhưng cho mãi đến đầu thế kỷ 20 người ta mới “dám” nghĩ đến việc chinh phục đỉnh núi này vẫn được giới leo núi gọi là “the Big E”.  Trước năm 1998 độ cao ngọn núi chưa thống nhất, nhưng ngày nay với kỹ thuật định vị toàn cầu, người ta có thể xác định chiều cao chính xác của đỉnh Everest so với mực nước biển là 29,035 bộ Anh.

Năm 1921 một đoàn thám hiểm người Anh khởi sự tìm lối leo lên đỉnh Everest từ hướng bắc, và suốt 32 năm sau đó nhiều nỗ lực chinh phục đã thất bại cho đến cách đây 50 năm, vào lúc 11 giờ 30 sáng ngày 29 tháng 5, năm 1953 Edmund Hillary và Tenzing Norgay trong đoàn thám hiểm Anh Quốc đã leo bước cuối cùng để trở thành những người đầu tiên đứng trên đỉnh trái đất.

Từ đó đến nay, trong suốt 50 năm hàng trăm đoàn thám hiểm  đã tìm cách lên đỉnh núi này bằng 15 lối đi khác nhau.  Ðỉnh Everest  đã bị chinh phục hơn 1,600 lần do khoảng 1,200 người thuộc 63 quốc gia, tuổi từ 16 đến 65 trong đó có 75 phụ nữ.  Nhưng tính cho đến ngày 23 tháng 5, 2001, cũng tại đây, đã có tổng số 175 người thiệt mạng.  

Trong bài 50 Năm Lịch Sử đăng ở tạp chí National Geographic số tháng 5, 2003 Michael Klesius trích dẫn lời của Walt Unsworth là một sử gia chuyên về đỉnh Everest trong rặng Hi-mã-lạp-sơn viết như sau, “Nếu ngay từ lần đầu nỗ lực chinh phục Everest thành công hẳn nhiên sẽ được ca ngợi nhưng rồi người ta cũng sẽ mau chóng lãng quên.  Ðiều oái oăm là chính những thất bại liên miên của con người chinh phục đỉnh núi này đã khiến nó trở thành ngạo nghễ!”

Một trong những thách thức của đỉnh Everest đối với con người là cao độ, càng lên cao không khí càng loãng. Ở 9,000 bộ áp suất không khí giảm, tỷ lệ dưỡng khí chỉ còn 75%, nhiều người  bắt đầu phải thở thật sâu.  Lên đến 18,000 bộ, lượng oxy chỉ còn 50%, không ai có thể sống lâu dài ở cao độ này.  Tất cả những người lên đến đỉnh, đều phải vượt qua cao độ 26,000 bộ gọi là cao độ chết người.  Ở đỉnh Everest hơn 29,000 bộ, tỉ lệ oxy chỉ còn 30%, vì vậy nếu không mang theo bình dưỡng khí ít ai có thể sống sót.  Năm 1978, Peter Habeler là người đầu tiên leo lên đỉnh Everest không có bình dưỡng khí khiến cả thế giới kinh ngạc.  Cho đến nay chỉ có 90 người với cơ thể có cơ chế đặc biệt có thể thích ứng với cao độ này.  Ðây là điều y học chưa thể giải thích được, vì thông thường một người nếu bị đưa thẳng từ mặt biển lên cao trên 26,000 bộ, sẽ bất tỉnh trong vòng 3 phút. 

Ngoài tình trạng không khí loãng, trên đỉnh Everest của Hi-mã-lạp-sơn còn vô số những hiểm nguy khác, thường xuyên và bất ngờ.  Nhiệt độ lúc nào cũng dưới không độ, tốc độ gió có thể lên đến trên 150 km một giờ;  không khí rất khô khiến trong vòng 24 giờ cơ thể mất khoảng 4 lít nước trong hơi thở thải ra.  Không khí loãng ở cao độ cũng giảm khả năng ngăn chặn tia tử ngoại có thể gây mù lòa khi tỉ lệ tia cực tím tăng 4% cứ mỗi 1,000 bộ.  Các cuộc nghiên cứu gần đây cũng cho thấy chỉ có một số ít người có khả năng điều chỉnh rất nhiều để thích ứng với những điều kiện khắc nghiệt trên và đây cũng còn là một bí mật đối với y học.

Nói đến đỉnh Everest của Hi-mã-lạp sơn, một câu hỏi khá hiển nhiên được nêu lên “Tại sao người ta muốn trèo?”  Câu trả lời hiển nhiên không kém, “Vì nó có ở đó!”  Mới nghe, chúng ta có cảm tưởng như câu nói đùa, nhưng bên trong hàm chứa những điều sâu sắc.

Nhiều ngưòi muốn leo lên đỉnh Everest để có cơ hội thấy tận mắt cảnh hùng vĩ của đỉnh núi vĩ đại nghìn năm tuyết phủ.  Chúng ta có thể phần nào cảm thông được cái xúc cảm mãnh liệt của Edmund Hillary khi trèo lên bước cuối cùng, nhìn quanh bốn hướng chỉ thấy bầu trời bao la, bỗng nhiên biết rằng mình đang đứng ở một điểm cao nhất hành tinh.  Bản chất thích phiêu lưu, muốn có cơ hội thử thách sức chịu đựng bền bỉ của cả thể xác lẫn tinh thần cũng đưa bước một số người khác đến Hi-mã-lạp-sơn.  Tuy nhiên cũng có những người muốn nổi danh, muốn tên mình được ghi lại, được nhắc đến trong lịch sử chinh phục đỉnh núi hùng vĩ này.  Con người còn nhiều động cơ khác trong việc chinh phục đỉnh Everest. 

Tuy nhiên cho đến nay, người ta không thể phủ nhận một sự thật hiển nhiên khi đứng dưới chân núi Everest, đó là ý thức những giới hạn về sức lực và khả năng của mình.  Dầu vậy, con người vẫn muốn chinh phục.  John Hunt, trưởng đoàn thám hiểm của Hillary đã viết, “Chúng tôi không tìm vinh quang cho cá nhân, nhưng cho toàn nhân loại, vinh quang của con người vượt thắng thiên nhiên và thắng luôn cả những giới hạn của mình.”

Chinh phục đỉnh núi cao nhất thế giới, con người muốn nói lên ước vọng nào?  John Hunt đã diễn đạt mong ước đó – vượt thắng thiên nhiên và chinh phục những giới hạn của mình.  Tuy nhiên, trong thực tế, nếu tách rời khỏi Ðức Chúa Trời điều này có thể chỉ là ước mong.

Trong cái hùng vĩ  của núi non, con người thấy mình thật nhỏ bé.  Vua Ða-vít  cũng thấy điều đó nhưng cũng đã nhận ra phương cách vượt hơn giới hạn của mình không bằng nỗ lực cá nhân nhưng bằng mối liên hệ với Chúa.  Ông viết trong Thi Thiên 8:3-6 “Khi tôi nhìn xem các từng trời là công việc của ngón tay Chúa, mặt trăng và các ngôi sao mà Chúa đã đặt, loài người là gì mà Chúa nhớ đến, con loài người là chi mà Chúa săn sóc nó? Chúa làm loài người kém Ðức Chúa Trời một chút, đội cho người sự vinh hiển và sang trọng.  Chúa ban cho loài người quyền cai trị công việc tay Chúa làm, khiến muôn vật phục dưới chân người.”

Hai hình ảnh tương phản, cái bao la của vũ trụ, và cái nhỏ bé của con người đặt cạnh nhau đã làm nổi bật sáng kiến lạ lùng của Ðức Chúa Trời.  Con người nhỏ bé thật, nhưng khi được Chúa ủy nhiệm, bỗng có quyền quản trị công việc tay Chúa làm và khiến cho muôn vật phục tùng.  Tách rời khỏi Ðức Chúa Trời con người sẽ trở lại với cái nhỏ bé, yếu đuối, mỏng manh cố hữu.   Tách rời khỏi Ðức Chúa Trời đời người trở nên vô nghĩa.  Nối kết với Ðức Chúa Trời, con người được nâng lên và cõi thiên nhiên bao la không phải là điều đáng sợ mà trở thành nguồn cảm hứng để suy tôn, ca ngợi và cảm tạ Ðức Chúa Trời, như vua Ða-vít đã làm.

Edmund Hillary khi leo lên bước cuối cùng, bỗng thấy tất cả bốn hướng đều là bầu trời bao la, không bị bất cứ chướng ngại vật nào trên đất cản tầm mắt.  Một người được nâng lên cao độ thuộc linh của Ðức Chúa Trời cũng sẽ có kinh nghiệm đó, nhưng cũng không nên quên rằng, để được ở cao độ đó bản ngã phải chết.

Thông Công