Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

PHỤ NỮ TRONG KINH THÁNH

 

 

   

 

     

 

 

 

MA-THÊ

(Bài 3)

 

LTS - Trong mục Phụ Nữ trong Kinh Thánh trong các số trước, chúng tôi đã nói về các bà: Ê-va, Sa-ra, Ma-ri (mẹ Chúa Giê-xu), Giê-sa-bên, Ta-bi-tha và A-bi-ga-in.  Bắt đầu  từ Thông Công số 168, chúng tôi nói về một phụ nữ khác trong Tân Ước, đó là bà Ma-thê, em của La-xa-rơ.  Bà Ma-thê được nhắc đến trong Phúc Âm Lu-ca và Phúc Âm Giăng.

 

Ý Nghĩa tên Ma-thê

Tên Ma-thê trong nguyên ngữ là Martha, có nghĩa là một người phụ nữ quý phái, cũng có nghĩa là bà chủ.  Tên “Ma-thê” chỉ có trong Tân Ước và chỉ có một người mang tên này mà thôi.

Ðặc Ðiểm Của Ma-thê

Bà Ma-thê có nhiều điều đặc biệt, đáng cho chúng ta học hỏi.  Những đặc điểm chúng tôi đã nói đến trong bài kỳ trước là:

1.  Bà là người hiếu khách

2.  Bà là người thực tế và có tinh thần phục vụ.

3.  Bà hay lo lắng và thiếu kiên nhẫn.

4.  Bà không biết đặt thứ tự ưu tiên.

5.  Bà bối rối và than phiền.

Kỳ này mời quý vị nhìn vào một đặc điểm khác nơi bà Ma-thê như sau:

 

6.  Ma-thê là người có đức tin

Mời quý vị nhìn vào một khung cảnh khác của gia đình Ma-thê, ghi trong Phúc Âm Giăng chương 11.  Sự việc này cũng xảy ra tại làng Bê-tha-ni nhưng không phải là một bữa tiệc mà là một đám tang. Qua câu chuyện này, chúng ta thấy một đặc điểm khác của Ma-thê, đó là bà là người có đức tin. Sứ đồ Giăng ghi như sau:

Có một người đau tên là La-xa-rơ, ở Bê-tha-ni, là làng của Ma-ri và chị người là Ma-thê.  Ma-ri là người đã xức dầu thơm cho Chúa và lấy tóc mình lau chân Ngài; chính anh người là La-xa-rơ đang đau.  Vậy, hai chị em sai người đến thưa cùng Ðức Chúa Giê-xu rằng:  Lạy Chúa, này, kẻ Chúa yêu mắc bệnh.  Ðức Chúa Giê-xu vừa nghe lời đó bèn phán rằng: bệnh này không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, hầu cho Con Ðức Chúa Trời được sáng danh.  Vả Ðức Chúa Giê-xu yêu Ma-thê, em người và La-xa-rơ (Giăng 11:1-5).

Ðau ốm và tang tóc đã đến với gia đình chị em Ma-thê.  Khi La-xa-rơ bị đau, hai chị em biết rằng Chúa Giê-xu có thể chữa lành cho anh mình nên nhờ người đi tìm Chúa và nhắn với Chúa:  Người Chúa yêu đang đau nặng.  Lời nhắn này cho thấy mối thân tình giữa Chúa Giê-xu và chị em Ma-thê.  Có lẽ hai chị em nghĩ rằng nhắn như thế thì Chúa sẽ đến ngay, nhưng Chúa đã lần lữa, không đến.  Khi Ngài đến làng Bê-tha-ni thì La-xa-rơ đã chết và chôn trong mộ được bốn ngày.  Chúa Giê-xu không đến ngay để chữa bệnh cho La-xa-rơ theo lời yêu cầu của Ma-thê và Ma-ri không phải vì Ngài không quan tâm đến gia đình mà Ngài thương yêu, nhưng vì chưa đúng thời điểm của Ngài, thời điểm để mọi người nhìn biết Ngài là Con Ðức Chúa Trời.  Khi nghe La-xa-rơ bệnh, Chúa nói:  “Bệnh này không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, hầu cho Con Ðức Chúa Trời được sáng danh” (Giăng 11:4).

Khi La-xa-rơ chết, người trong làng đến thăm viếng, an ủi hai chị em Ma-thê nhưng hai chị em vẫn  trông chờ Chúa Giê-xu.  Vì thế khi nghe Chúa đến, Ma-thê liền chạy ra đón Ngài.  Như thường lệ, Ma-thê nghĩ gì nói nấy, lời đầu tiên bà thưa với Chúa là một lời trách:  “Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh tôi không chết!”  Nhưng tiếp theo đó, Ma-thê bày tỏ đức tin của mình và nói: “mà bây giờ tôi cũng biết mọi điều Ngài sẽ xin Ðức Chúa Trời, Ðức Chúa Trời ắt ban cho.”  Một nhà giải nghĩa Kinh Thánh đã nói, câu nói của Ma-thê là nền tảng cho lời cầu nguyện của chúng ta.  Chúa Giê-xu là Ðấng cầu thay cho chúng ta.  Khi cần điều gì, chúng ta cầu xin với Chúa Giê-xu, và Ðức Chúa Trời sẽ nhậm lời chúng ta để Chúa Giê-xu được vinh hiển. 

Nhìn thấy đức tin của Ma-thê, Chúa Giê-xu phán:  “Anh ngươi sẽ sống lại.”  Với sự hiểu biết hạn hẹp về sự sống lại và với lòng chân thành, Ma-thê thưa:  “Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.”  Chính lúc đó, Chúa Giê-xu bày tỏ cho Ma-thê chân lý quan trọng nhất về thần tính, quyền năng và thẩm quyền của Ngài.  Chân lý này là nền tảng cho niềm tin của những ai tin nhận Chúa Giê-xu.  Chúa nói: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống mặc dù đã chết rồi.  Còn ai sống và tin ta thì không hề chết.  Ngươi tin điều đó chăng?” (Giăng 11:25-26). Trước lời tuyên bố của Chúa Giê-xu, dù không hiểu hết tất cả những huyền nhiệm của sự sống lại, Ma-thê bày tỏ đức tin của mình khi bà cúi đầu thưa:  “Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Ðấng Christ, Con Ðức Chúa Trời, là Ðấng phải đến thế gian.” 

Câu trả lời của Ma-thê là lời tuyên xưng chính xác và đầy đủ của người tin Chúa. Lời tuyên xưng này nói lên ba điều quan trọng về Chúa Giê-xu:

(1) Ngài là Ðấng Christ, Ðấng được xức dầu để làm tiên tri, thầy tế lễ và vua.

(2) Ngài là Con của Ðức Chúa Trời, lời tuyên xưng này nói lên thần tính của Chúa, Ngài là Con Ðộc Sanh của Ðức Chúa Trời.

(3) Ngài là Ðấng phải đến thế gian, lời này cho thấy Chúa là Ðấng Mê-si-a mà người Do Thái đang mong đợi.  Ngài đến để cứu nhân loại ra khỏi án phạt đời đời. 

Là môn đồ của Chúa, ngày nay chúng ta cũng cần có một niềm tin mạnh mẽ và rõ ràng như Ma-thê.  Chúng ta cần biết Chúa Giê-xu là Ðấng được xức dầu để thi hành công tác cứu rỗi nhân loại, Ngài chính là Con Ðức Chúa Trời, phải đến trần gian hy sinh chịu chết để ban cho chúng ta sự sống đời đời.  Quý vị đã đặt lòng tin nơi Chúa Giê-xu chưa? Có nhận biết Ngài là Ðấng Cứu Thế, từ trời đến hy sinh chịu chết để tha tội cho chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đời đời không?  Kinh Thánh cho biết, ngoài Chúa Giê-xu không có một Ðấng nào khác, cũng không có một con đường nào khác để chúng ta có thể nhờ đó được tha tội và được cứu rỗi linh hồn.  Nhiều người tin Chúa nhưng chỉ xem Chúa như là Ðấng phù hộ, ban phước và hướng dẫn mình trên đường đời.  Tin như thế chưa đúng và chưa đầy đủ.  Vì Chúa Giê-xu đã tuyên bố rõ ràng:  “Ta là đường đi, chân lý và sự sống, chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha” (Giăng 14:6).

 

8.  Ma-thê được Chúa yêu 

Chính ông Giăng là môn đồ được Chúa Giê-xu yêu đã nêu lên chi tiết này.  Trong Phúc Âm Giăng 11:5, ông viết:  “Vả, Ðức Chúa Giê-xu yêu Ma-thê, em người và La-xa-rơ.”  Ba anh em La-xa-rơ chiếm một chỗ đặc biệt trong lòng Chúa Giê-xu.  Họ xem Ngài như là người thân trong gia đình và mở rộng nhà tiếp đón Ngài.  Chúa cũng xem nhà của họ như nhà Ngài, nơi Ngài có thể dừng chân nghỉ ngơi bất cứ lúc nào.  Ma-thê và Ma-ri cũng biết Chúa Giê-xu yêu thương mình, nên khi La-xa-rơ đau, hai chị em nhờ người báo tin cho Chúa rằng:  “Lạy Chúa, này, kẻ Chúa yêu mắc bệnh”    Dù La-xa-rơ, Ma-thê và Ma-ri có tính tình khác nhau, Chúa yêu thương cả ba người.  Chúa Giê-xu là Ðức Chúa Trời nhưng Ngài cũng là người, Ngài cũng mang trong lòng tình cảm của con người.  Ba anh em La-xa-rơ yêu Chúa, dành cho Chúa một chỗ đặc biệt trong trái tim của họ nên Ngài cũng dành cho họ một chỗ đặc biệt trong trái tim của Ngài.  Ma-thê không những yêu Chúa Giê-xu và hầu việc Ngài nhưng bà cũng biết Chúa là Ðấng Cứu Thế, Con của Ðức Chúa Trời phải đến trần gian để hy sinh cứu rỗi nhân loại.

Chúa Giê-xu yêu anh em La-xa-rơ cách đặc biệt, nhưng khi nghe La-xa-rơ đau, Ngài đã không đến ngay để chữa bệnh cho ông.  Chúa cố tình lần lữa, không phải vì Ngài không quan tâm đến nỗi lo lắng của chị em Ma-thê, nhưng vì để cho danh Chúa được vinh hiển.  Kinh Thánh cũng cho biết, Chúa yêu chúng ta là những kẻ thuộc về Ngài và Ngài luôn luôn muốn ban cho chúng ta điều tốt nhất.  Tuy nhiên, nhiều khi Chúa không ban cho chúng ta điều chúng ta cầu xin, không phải vì Chúa không yêu chúng ta nhưng vì Ngài muốn rèn luyện chúng ta, và để qua sự rèn luyện đó chúng ta trở nên trưởng thành và danh Chúa được vinh hiển.  Chúng ta thấy rõ điều này qua sự kiện Chúa gọi La-xa-rơ sống lại.  Một chi tiết khác cho thấy Chúa Giê-xu yêu thương ba anh em La-xa-rơ là khi La-xa-rơ chết và được chôn trong mộ, Chúa đã khóc. 

Phúc âm Giăng ghi:

Nhưng Ma-ri, lúc đã tới nơi Ðức Chúa Giê-xu đứng, vừa thấy Ngài thì sấp mình xuống chân Ngài mà nói rằng:  Lạy Chúa, nếu có Chúa đây thì anh tôi không chết!  Ðức Chúa Giê-xu thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng:  Các ngươi đã chôn người ở đâu?  Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.  Ðức Chúa Giê-xu khóc.  Người Giu-đa bèn nói rằng:  Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào! (Giăng 11:32-36).

Qua chi tiết này, chúng ta thấy tình cảm Chúa dành cho anh em La-xa-rơ.  Câu “Ðức Chúa Giê-xu khóc” là câu ngắn nhất trong cả bộ Kinh Thánh.  Sự kiện Chúa Giê-xu khóc cho thấy Ngài thật sự mang thân xác con người như chúng ta khi sống trên trần gian này.

Sau đó người ta đưa Chúa đến bên mộ La-xa-rơ.  Tại đây, một lần nữa, chúng ta lại thấy tính thực tế và hay nói của Ma-thê.  Kinh Thánh ghi như sau:  “Ðức Chúa Giê-xu phán rằng:  Hãy lăn hòn đá đi.  Ma-thê, là em gái kẻ chết, thưa rằng:  Lạy Chúa, đã có mùi, vì người nằm đó bốn ngày rồi.  Ðức Chúa Giê-xu lại phán: Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng, nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời sao?  Vậy họ lăn hòn đá đi.”  Sau đó Chúa gọi La-xa-rơ sống lại, trước sự chứng kiến của mọi người.

 

9.  Ma-thê được đổi mới

Lần cuối cùng tên bà Ma-thê được Kinh Thánh nhắc đến là trong Phúc Âm Giăng chương 12.  Ðây là bữa tiệc ăn mừng La-xa-rơ sống lại.  Sứ đồ Giăng viết:

Sáu ngày trước lễ Vượt qua, Ðức Chúa Giê-xu đến thành Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ ở, là người Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết.  Người ta đãi tiệc Ngài tại đó, và Ma-thê hầu hạ;  La-xa-rơ là một người trong đám ngồi đồng bàn với Ngài.  Bấy giờ, Ma-ri lấy một cân dầu cam tùng hương thật, rất quý giá, xức chân Ðức Chúa Giê-xu, và lấy tóc mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi dầu đó  (Giăng 12:1-3). 

Một lần nữa, chúng ta lại thấy Ma-thê tiếp đón Chúa Giê-xu và các môn đồ của Ngài.  Ðây là bữa tiệc ăn mừng La-xa-rơ sống lại và cũng để cảm tạ Chúa về phép lạ lớn lao Ngài đã làm cho gia đình La-xa-rơ.  Hai nhân vật quan trọng là Chúa Giê-xu và La-xa-rơ được ngồi chung bàn với nhau.  Trong bữa tiệc này chúng ta nhìn thấy hình ảnh quen thuộc của Ma-thê.  Kinh Thánh ghi rằng “Ma-thê hầu hạ”, hàm ý rằng bà là người đứng ra lo bữa tiệc hôm đó.  Ðây cũng là một thì giờ bận rộn cho Ma-thê, vì phải nấu cho nhiều người ăn.  Ma-thê cũng trổ tài nấu nướng và phục vụ, tuy nhiên chúng ta không thấy nói gì về nỗi lo lắng của Ma-thê.  Trong bữa tiệc này, Ma-ri cũng không giúp chị nhưng làm một việc khác bên chân Chúa Giê-xu, nhưng điều đặc biệt là chúng ta không thấy Ma-thê phản đối hay than phiền gì cả.  Lần trước, trong khi Ma-thê lo nấu nướng, chuẩn bị bữa ăn thì Ma-ri ngồi bên chân Chúa, nghe Ngài phán dạy.  Lần này, trong khi Ma-thê lo cho bữa tiệc thì Ma-ri cũng đến ngồi bên chân Chúa Giê-xu, không phải để nghe Ngài giảng dạy mà là để lấy dầu thơm xức nơi chân Ngài, rồi lấy tóc lau chân Ngài.

Ông Giu-đa, là môn đồ sau đó đã bán Chúa, phản đối việc làm của Ma-ri.  Ông bảo làm như thế là phí phạm, sao không bán dầu đó rồi lấy tiền giúp người nghèo.  Giu-đa phản đối việc làm của Ma-ri nhưng chúng ta cũng không thấy Ma-thê nói gì.  Có lẽ bà đồng ý với việc này, vì thấy Ma-ri đã làm điều tốt cho Chúa Giê-xu.  Một nhà giải nghĩa Kinh Thánh nọ tin rằng có lẽ Ma-thê cũng có đóng góp một phần trong bình dầu thơm đắt tiền đó.  Có lẽ hai chị em đã đồng ý làm cho Chúa Giê-xu một điều thật đặc biệt trong bữa ăn hôm đó để cảm ơn Ngài đã cứu anh của họ từ kẻ chết sống lại.  Ðiều này cho thấy Ma-thê bây giờ là một con người khác.  Bà đã được Chúa đổi mới.  Bà vẫn hăng hái làm việc để phục vụ và tiếp đãi mọi người, nhưng bà có cái nhìn mới trong sự phục vụ của mình.

Chúng ta học được gì qua cuộc đời và tâm tính của Ma-thê? 

1.  Ðiều cao quý nơi Ma-thê là bà có lòng rộng rãi và hiếu khách.  Bà không sống ích kỷ nhưng đã mở rộng tấm lòng và nhà của bà để đón tiếp Chúa Giê-xu và các môn đồ của Ngài.  Bà không ngờ rằng khi đón tiếp Chúa, gia đình bà đã được vinh dự tiếp đón Con của Ðức Chúa Trời, được có mối quan hệ thân thiết với Ngài và được Ngài ban thưởng xứng đáng qua phép lạ cứu anh của bà sống lại.  Chúng ta cần bắt chước tính hiếu khách và rộng rãi của Ma-thê.  Kinh Thánh cho biết, lắm khi chúng ta mở cửa tiếp khách là tiếp đón thiên sứ của Chúa mà không biết (Hê-bơ-rơ 13:1).  Hơn nữa, khi nghênh tiếp Chúa vào cuộc đời mình, chúng ta cũng sẽ được ở trong mối tâm giao mật thiết với Chúa và sẽ kinh nghiệm những phép lạ lớn lao Ngài làm trên cuộc đời chúng ta. 

2.  Chúng ta thấy nơi Ma-thê hình ảnh của một số phụ nữ trong hội thánh, là những người chú ý quá nhiều vào công việc và sự phục vụ, khiến trách nhiệm và bổn phận chiếm hết những thì giờ ngồi dưới chân Chúa để nghe Ngài phán dạy.  Chúng ta không thể lúc nào cũng làm việc như Ma-thê, cũng không thể lúc nào cũng ngồi yên học hỏi như Ma-ri, vì hội thánh của Chúa cần cả hai.  Trái lại, chúng ta cần giữ quân bình trong việc học hỏi và phục vụ.  Cả hai đều cần thiết nhưng phải được thực hiện đúng lúc và đúng chỗ thì mới mang lại hữu ích cho chúng ta và làm đẹp lòng Chúa.

3.  Hãy trao hết mọi lo lắng trong đời sống cho Chúa, Ngài sẽ lo liệu và giúp đỡ chúng ta như lời Ngài đã hứa.  Nếu sự cứu giúp hay can thiệp của Chúa có vẻ như chậm trễ, không phải vì Ngài quên chúng ta nhưng đó là điều nằm trong chương trình của Chúa, nhằm đem lại lợi ích cho chúng ta và cho sự vinh hiển của Ngài.  Chúng ta cần kiên nhẫn chờ đợi sự cứu giúp của Chúa.  Cầu xin Chúa dùng bài học về bà Ma-thê giúp chúng ta biết kính yêu Chúa và hầu việc Ngài cách xứng đáng, đẹp lòng Chúa.

Minh Nguyên