![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Lạc Trên Triền Núi Hi-mã-lạp-sơn |
|
|
|
(tiếp
theo kỳ trước) Tóm
tắt kỳ trước:
James Scott là một
sinh viên y khoa người Úc trong chuyến leo núi tại
Nepal đã đi lạc trong vùng sườn núi tuyết phủ
suốt 42 ngày không thực phẩm, không đủ quần áo
ấm mà vẫn sống sót.
Nạn nhân kể lại, tin rằng đó là phép lạ
diệu kỳ Ðức Chúa Trời đã làm trong đời sống
anh, cũng đã thôi thúc chị Joanne có quyết tâm cao độ
phi thường không bỏ cuộc trong nỗ lực tìm kiếm, dù
trong trong giai đoạn cuối, mọi người cho rằng hoàn
toàn vô ích. Khởi
hành ngày 20 tháng 12 năm 1991 lên triền núi lúc
tuyết bắt đầu rơi.
James Scott đã chia tay với một người bạn đồng
hành sau một ngày. Cuối
cùng anh bị lạc trên một địa thế hiểm trở trong
một cơn bão tuyết kéo dài nhiều ngày.
Sau gần một tuần, James thúc thủ, không thể tìm
được lối thoát, anh đành trú ẩn dưới một gờ
đá lớn, hoàn toàn không còn một chút thực phẩm nào.
Hai phong sô-cô-la đem theo đã ăn hết từ lâu.
Bây giờ anh chỉ còn hy vọng nơi người bạn
đồng hành đã chia tay trở về không thấy James, có
thể đã báo động với nhà chức trách và tổ chức
đi tìm thì may ra họ có thể gặp anh ở đây trước
khi quá trễ. James
đã kể lại những ngày cuối trong tuần lễ đầu đi
lạc, cũng đúng vào ngày lễ Giáng Sinh. **** ames
mang túi đeo lưng, trùm mũ của
áo jacket, đội thêm cái nón rơm, vừa bước ra
khỏi chỗ núp dưới tảng đá, tức khắc anh thấy mình
lún sâu xuống lớp tuyết trắng xóa, ngập đến
thắt lưng. Anh
di chuyển một cách khó khăn trong lớp tuyết dày,
cố gắng vận dụng mọi cơ bắp để có thêm một
chút hơi ấm, vừa đi vừa thầm trách lớp mây ngày
càng kéo đến nhiều hơn khiến cho tuyết rơi xuống
nhanh hơn. Chẳng
bao lâu nước đá đóng trong quần áo
tan ra khiến cho người James ướt đẫm, lạnh
đến độ anh nghĩ mình sẽ chết vì mất thân nhiệt.
Càng đi tới anh thấy tuyết càng dày hơn, James
biết mình không thể thoát ra khỏi cái địa thế
kinh hoàng này. Anh
cần quần áo khô để thân thể ấm lại càng sớm càng
tốt. Vừa tuột
xuống cuối một đoạn dốc, anh thấy một khối đá
to bằng cả căn nhà, có một gờ đá chìa ra như mái
hiên, phía dưới là dấu vết của một đống lửa
đã tàn từ bao giờ. Một
chút hi vọng loé lên, James suy nghĩ,
“Ðây không phải là
nơi hoàn toàn hoang vắng.
Nếu từng có người đến, sẽ có người trở
lại.” Khoảnh
đất phía dưới gờ đá dài năm thước, rộng ba thước,
rất khuất gió, và tất nhiên không có tuyết.
James tự nhủ, “Có lẽ đây là chỗ trú tốt
nhất. Nếu Mark
tìm được con đường đèo, về đến nơi mà không
thấy mình, và nếu anh ta báo cảnh sát, không bao lâu
trực thăng sẽ đến tìm.
James nghĩ lúc đó chỉ cần chạy ra khoảng
trống để họ thấy là sẽ thoát, nếu còn sống đến
lúc đó.” James
nhìn sâu vào phía trong bờ đá.
Sát bên trong anh có thể ngồi, nhưng xích ra bên
ngoài, trần đá vát xéo lên, anh có thể đứng
thẳng. Ba
phía trống nhưng phía trong có một bụi thông khá dày
chắn gió nên với bao ngủ, anh hy vọng có thể
chống nổi với cái lạnh buốt giá đêm nay.
Chui vào bờ đá, James nhanh chóng thay bộ quần
áo ướt lạnh như băng, mặc vào bộ quần áo khô,
với bốn chiếc vớ dày, mang hai chiếc vào chân và
hai chiếc hai tay. Miệng
James khô cứng. Lúc
đó anh mới nhớ là từ hôm trước chưa uống một
hớp nước nào. Lần
mò ra ngoài bờ đá, bê vào một tảng tuyết.
Ngậm một miệng
đầy tuyết, nuốt vào, anh thấy buốt trong ruột
buốt ra, một cái buốt tê dại, nhức nhối.
Lảo đảo chui vào bao ngủ, James cầu
nguyện thầm, xin Chúa thương xót cho anh được
chết, thoát cảnh phải chịu đựng cái lạnh nhức
nhối suốt đêm dài. Ðêm
nay là đêm Giáng Sinh, James nghĩ đến buổi họp mặt
gia đình và bữa ăn truyền thống đêm qua với gà
quay, bánh bí ngô, đậu, thịt nguội, xà lách, trái cây
và bánh pudding đầy hương vị giáng sinh.
Trong khi đó một mình anh nằm co quắp ở đây
chờ chết trong cái lạnh hãi hùng trên sườn núi Hi-mã-lạp-sơn!
Ðể xua đuổi những ý tưởng cay đắng so sánh
thực tại với
cảnh êm ấm của gia đình, anh lục trong túi đeo lưng
ra mấy tấm thiệp Giáng Sinh nhà gửi, nào là thiệp
của người yêu Gaye Ryan, thiệp của chị Joanne,
thiệp của cha mẹ, tất cả đầy ắp yêu thương,
tất cả đều chúc anh những ngày Giáng Sinh vui tươi,
hạnh phúc nhất! James
thiếp đi trong cái giá lạnh kinh hoàng của đêm Giáng
Sinh. Ngày
này qua ngày khác tuyết rơi mịt mù.
James cứ rút trong nơi trú ẩn suốt những ngày
bão tuyết. Ðể
tránh những tư tưởng bi quan, anh quyết định giữ tâm
trí bận rộn bằng cách tự đưa ra một lịch trình
“làm việc” mỗi ngày.
Ra gom tuyết vào hang để uống dần, giữ cho cơ
thể không mất nước.
Ðọc mấy quyển truyện đem theo, rồi đọc đến
cuốn hướng dẫn du lịch Nepal.
Ðến trưa, không khí ấm hơn một chút, James
cố ngủ, và nằm mơ thấy thức ăn, nhiều khi thức
giấc thấy miệng tràn nước miếng mà bụng thì
quặn thắt, cồn cào.
Ðêm đến, James nằm cuộn tròn như quả bóng,
lăn sát vào sâu trong hốc đá để chiến đấu một
các tuyệt vọng với cái lạnh tàn khốc của Hi-mã-lạp-sơn. Trong
khi đó ở Úc, bốn ngày sau lễ Giáng Sinh, qua người
bạn là Tim Hooper, gia đình James nhận được tin anh
mất tích. Cả
nhà bàng hoàng. Cha
mẹ James lo lắng ra mặt, đứng ngồi không yên, và
chỉ sau mấy ngày chị Joanne thấy ông bà sút hẳn đi.
Thời gian trôi qua thật nặng nề, mọi người
đều nóng ruột chờ tin Tim Hooper gọi về, hy vọng
trong vài giờ tới, hoặc trễ lắm là một hai ngày
sẽ có tin James trở về an toàn.
Ðôi lúc khi cả nhà ngồi lại với nhau, xen
lẫn nỗi lo lắng là những suy nghĩ bực dọc vì
quyết định đi Nepal của James, nhất là quyết định
đi núi một mình. Ngày
Tết Dương lịch diễn ra ở nhà trong không khí căng
thẳng đầy âu lo. Cả
nhà chờ đến thứ Năm ngày 2 tháng Giêng vẫn không
có thêm tin gì. Ðến
thứ Sáu, không thể chờ thêm nữa, chị
Joanne quyết định gọi Tòa Lãnh Sự Nepal ở
Brisbane để hỏi về việc xin chiếu khán đi Nepal.
Chị quyết định đi dù chưa hề có một khái
niệm nào về xứ này.
Nói chuyện với Tổng Lãnh Sự Linda Griffith,
chị cố tìm hiểu phương thức tìm kiếm người
mất tích tại Nepal và những việc như thế có thường
xảy ra hay không, chị được bà Tổng Lãnh Sự gợi
ý rằng gia đình nên cho người đến tận nơi thì
vẫn tốt hơn. Trong
thời gian làm thủ tục giấy tờ, có tin từ Tòa Ðại
Sứ Úc ở Kathmandu cho biết một toán leo lúi Gia-nã-đại
chắc chắn đã gặp James vào ngày 30 tháng 12 ở một
khoảng khá xa, nhưng hai bên không nói gì với nhau.
Chị Joanne la lên trong điện thoại, “Như vậy
là người ta đã thấy James!
Xin tiếp tục theo dõi
tin đó và cập nhật cho chúng tôi biết.”
Tuy vậy, nhiều ngày sau, mọi sự lại bao trùm
trong yên lặng. Cả
nhà bắt đầu nghi ngờ tin trên.
Nếu James đã lạc cả tuần lễ, mà khi thấy
toán người Gia-nã-đại lại không nói gì?
Vô lý! Chắc
họ đã gặp một người nào khác. Bây
giờ trở lại với James.
Trong thời gian này anh ra sao?
Ðã liên tiếp bốn ngày qua trời quang đãng.
Tuyết bên ngoài đã nén xuống chặt hơn, nếu
đi ra James sẽ không bị lún sâu như những ngày trước,
vì vậy anh quyết định thám hiểm xung quanh hang nơi
đã trú ẩn gần hai tuần qua.
James thấy đàng xa một cái cây dường như có
trái. Anh chập
choạng lần mò tới, vai đeo túi lưng để đựng trái
cây. Vất vả
cả giờ mới đến nơi thì cây chỉ toàn nụ.
Bẻ một cái ăn thử, anh vội nhổ ra ngay.
Vị đắng kinh tởm cho biết ăn vào anh sẽ
chết. James đứng
thẫn thờ nhìn vùng băng giá mênh mông trước mặt.
Sau hai tuần không ăn, sức khỏe anh suy kiệt đến
nỗi đi vài bước phải dừng lại nghỉ.
Ðiều đáng sợ hơn nữa là dường như hai chân
bắt đầu mất cảm giác.
Trong địa thế này, trong hoàn cảnh này, với tình
trạng sức khoẻ này, James biết rằng anh không có
lối thoát, nhưng anh vẫn tự nhủ, “mình chỉ có
thể tồn tại nếu tiếp tục nuôi hy vọng.” Ở
nhà chị Joanne đã xin xong giấy tờ và một người
bạn thân của James là Andrew Ross bằng lòng cùng đi
với chị sang Nepal tìm James.
Cả nhà và Gaye, người yêu của James, bây giờ
chỉ còn biết trông vào nỗ lực cuối cùng của
chị Joanne, người đã quả quyết rằng sẽ bằng
mọi cách tìm cho kỳ được, dù là xác của James.
Tuy nhiên khi xe Tòa Ðại Sứ Úc chở chị và
Andrew từ phi trường vào thành phố Kathmandu, chị
bắt đầu cảm thấy choáng váng.
Trong một xứ sở thô sơ gần như hoang liêu
thế này, chị có thể làm được gì?
Greame Fay, một nhân viên Tòa Ðại Sứ Úc cho
biết sơ qua tình hình tìm kiếm James.
Ðội tìm người mất tích đã được gửi đi
và phải chờ ít nhất là 24 giờ mới có tin.
Người ta cũng quyết định loan báo trên đài
phát thanh ngày 3 lần, cũng treo giải thưởng cho ai
thấy hoặc biết James ở đâu
dù còn sống hay đã chết.
Ðến khách sạn, Greame đưa chị Joanne và Andrew
đến gặp Tim Hooper và toán người Gia-nã-đại bảo
rằng đã gặp James vào ngày 30 tháng 12.
Họ mô tả bảo James đội chiếc mũ màu xanh da
trời. Chị
Joanne biết James không có cái mũ đó. Nhân
viên Tòa Ðại Sứ Úc là Greame Fay lại đưa chị
Joanne gặp một người dẫn đường thông thạo vùng
núi James bị lạc. Anh
ta cho biết đây là vùng quanh năm tuyết phủ, địa
thế rất hiểm trở, vì thế khó có hy vọng thấy
James sống sót nếu anh lạc trên vùng tuyết đổ
nhiều. Anh ta nói
thêm nếu James đi xuống triền núi thấp thì có hy
vọng hơn. Khi
chị Joanne hỏi về vùng Ghopte, anh ta lắc đầu bảo
rằng, James hay bất cứ ai cũng không thể sống sót
nếu lạc vào vùng đó lâu như vậy, tuy nhiên Tim đề
nghị nên thông báo trên đài truyền hình vì tại
Nepal, dù ở xa xôi hẻo lánh đến đâu, người dân
ở đây cũng đều có máy truyền hình, dùng máy phát
điện chạy xăng. Cả
ngày hôm sau chị Joanne đi hỏi thăm, dò la tình hình,
nhưng chỉ thấy toàn viễn ảnh đen tối, không một
tia sáng nào lóe lên, không một
sự kiện tích cực nào khích lệ nỗ lực tìm
kiếm của chị. Trở
lại với James. Trong
cái không khí buốt giá trên sườn núi, James thò đầu
ra khỏi bao ngủ nhìn thấy mặt trăng tròn trên bầu
trời trong vắt, anh biết mình đã lạc bốn tuần.
Anh ngưng không đếm ngày từ hôm mùng 6 tháng
Giêng, vì từ ngày đó, tình trạng sức khỏe suy
kiệt nhanh chóng. Tuy
nhiên cũng từ hôm đó, anh phát hiện ra một sáng
kiến mới là thay vì ngậm tuyết cho tan trong miệng,
anh vo tuyết thành từng viên rồi để dưới mặt
trời. Tuyết
tan, nhỏ xuống thành giọt.
Uống nước này dễ chịu hơn ngậm tuyết vì nó
khiến anh nhức nhối tận xương.
Vì vậy, bây giờ vo tuyết đã trở thành “công
việc hàng ngày” của James.
Từng giọt nước lạnh nhỏ xuống cổ cho James
một cảm giác dễ chịu khiến anh gần như ghiền cái
hạnh phúc nhỏ nhoi này. Có
một ngày khi đang nằm lơ mơ đọc lại cuốn Những
Mơ Ước Lớn, James bỗng nghe có tiếng chim vỗ cánh
rất gần. Chưa
bao giờ anh có một cảm giác sung sướng như thế khi
nhìn con chim nhỏ bay chuyền trên cành cây.
Vậy là vẫn còn sự sống ở cái sườn núi băng
giá này. Hôm
nay lại có hai con chim bay đến.
Chúng to lớn hơn con chim hôm nọ và cũng xấu xí
hơn nhiều. Cả
hai nhìn James bằng những con mắt thô lỗ, to, tròn, dường
như để xem anh đã trở thành cái xác chết chưa.
James nhắm mắt giả vờ chết để xem việc gì
xảy ra. Nếu chúng
lại gần, rất có thể anh sẽ chụp được một con.
Anh nằm im, nhắm mắt, nghe tiếng vỗ cánh,
rồi tiếng chân nhảy.
Anh vừa định chụp nhưng con chim quá nhanh, ngay
cả khi anh chưa kịp đưa tay ra, con chim đã bay mất.
Chúng lần quần một chặp rồi bỏ đi, không
chú ý đến James nữa. Ngay
từ những ngày đầu, James đã sẵn sàng ăn mọi
thứ anh có thể tìm được: đọt non, lá cây, thậm
chí cả rêu, nhưng ngay cả trong tình trạng sắp
chết đói, bao tử anh cũng không chấp nhận những
thứ đó. Có
một ngày khi đang nằm vo tuyết thành viên, anh bỗng
thấy một con sâu, không biết từ cây nào rơi xuống.
Chỉ nhìn thấy màu da xanh lè, trơn láng của nó
là đủ nổi gai ốc, nhưng lúc đó James đã nuốt
trửng con sâu không cần suy nghĩ, chỉ mong cung cấp
cho cái thân tàn của anh thêm vài calorie.
Nhưng đến bây giờ thì anh đã hoàn toàn mất
cảm giác đói cồn cào, và cũng không còn bị ám
ảnh bởi thức ăn nữa.
Anh biết cơ thể anh đang chuyển sang giai đoạn
sinh tồn cuối cùng. (còn
một kỳ nữa) |
|
|
|