![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỉ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Việt
Hà Biên Soạn Ma Quỉ và Các Tôn Giáo Giả Hiệu Một
trong những vai trò quỉ quyệt nhất của ma quỉ
là làm lệch lạc chân lý đã được bày tỏ.
Ðối với những người chưa biết tin mừng
của Chúa Cứu Thế Giê-xu thì ma quỉ nỗ lực
ngăn trở việc tìm hiểu và tiếp nhận. Còn đối
với các tín hữu, chúng tìm đủ mọi cách
khiến cho tẻ tách khỏi tin mừng thuần túy, bóp
méo lời Chúa, thêm bớt vào Lời Chúa hoặc gieo
nghi ngờ đối với tính chân xác và ngay cả
với thẩm quyền tuyệt đối của Lời Chúa.
Chúng đã khởi sự kế hoạch gian ác này
ngay từ vườn Ê-đen, ở đó Sa-tan đã áp dụng
chiến lược ba mặt, (a) ra mặt chống đối Ðức
Chúa Trời (Ê-sai 14:12-15), (b) lừa gạt bằng
lời dối trá (Sáng Thế Ký 3:4), và (c) vu cáo, nói
xấu, gieo tiếng ác (Sáng Thế Ký 3:5 s/s Giăng
8:44). Suốt
trong cả lịch sử con người, Sa-tan và thuộc
hạ đã nỗ lực duy trì quyền lực và sự
hiện diện của chúng hầu như khắp nơi và đã
sử dụng những chiến thuật trên để lừa
dối và bẫy bắt con người. Khi
xuôi theo lời dụ hoặc của Sa-tan, con người đã
làm mất bản chất trong trắng đơn sơ ban đầu,
mất luôn mối tương giao thiêng liêng thâm sâu
với Ðức Chúa Trời (Sáng Thế Ký 3:8) và rơi vào
quyền kiểm soát của ác linh.
Từ đó, ở trong tình trạng sa ngã, con người
bị ma quỉ xúi giục nổi loạn chống lại Lời
Chúa và ý muốn Ngài.
Khi Ðức Chúa Trời khởi sự chương trình
cứu chuộc con người thì Sa-tan và toàn thể bè
lũ đã đồng loạt mở chiến dịch lâu dài, không
ngừng dùng đủ mọi quỉ kế khiến cho con người
không thấy, không biết hay không lưu tâm đến tình
thương và chương trình cứu rỗi của Ðức Chúa
Trời trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Hoặc giả nếu có được biết đến thì
chúng sẽ nỗ lực làm cho con người hiểu sai,
hiểu phiến diện hay trì hoãn, lần lữa không có
quyết định dứt khoát tiếp nhận chân lý.
Thánh Phao-lô đã vạch rõ điều này khi
viết rằng, “nếu Tin Mừng của chúng tôi còn
che khuất là chỉ che khuất cho những kẻ hư
mất, cho những kẻ chẳng tin mà chúa đời này
đã làm mù lòng họ, hầu cho họ không thấy
sự vinh hiển, chói lói của Tin Mừng của Chúa
Cứu Thế, là ảnh tượng của Ðức Chúa Trời.”
(II Cô-rinh-tô 4:3-4) Nhận
xét trên của thánh Phao-lô đã giúp chúng ta
thấy rõ hơn chiến lược vô cùng nguy hiểm
của Sa-tan và thuộc hạ, đó là chúng nỗ lực
duy trì một mức độ khống chế nào đó đối
với những người muốn tìm hiểu chân lý đã
được mạc khải.
Chúng sẽ làm cho những người tìm hiểu
lời Chúa bối rối, hiểu lầm hay không hiểu
Kinh Thánh là Lời hằng sống, vô ngộ của Ðức
Chúa Trời, nhất là không thấy rằng Kinh Thánh
vạch rõ cuộc thảm bại của Sa-tan tại thập
tự giá khi Chúa Giê-xu dâng chính sự sống của
Ngài để hoàn tất kế hoạch cứu rỗi cho loài
người. Trong
nhiều trường hợp khác, ma quỉ gây ra những hoàn
cảnh khó khăn hay trở ngại để những người
có lòng muốn tìm hiểu chân lý cứu rỗi của
Chúa mất cơ hội. Nhiều con cái Chúa đã kể
lại kinh nghiệm này.
Khi nói về Chúa cho bạn bè và mời họ đi
nhà thờ, người bạn vui vẻ nhận lời, hứa
chắc sẽ đi, nhưng vào phút chót, bạn gặp
trở ngại, hoặc đau ốm bất ngờ hoặc có khách
từ xa tới… nên không đi nhà thờ được nữa.
Có những trường hợp khác ma quỉ khiến
cho các thân hữu trong khi nghe giảng Lời Chúa thì
hoặc nhức đầu, hoặc buồn ngủ, hay bị chia
trí vì những chuyện không đâu… khiến cho không
hiểu Lời Chúa và rất khó có quyết định tin
nhận Chúa. Quyền
Lực Sa-tan Trong Ngoại Giáo Tôn
giáo trong nghĩa rộng nhất có thể được định
nghĩa là “niềm tin tưởng vào các hữu thể
thần linh”. Huân
tước J.G. Frazer định nghĩa tôn giáo là “lấy
lòng hoặc xoa dịu những quyền lực siêu nhiên
với niềm tin tưởng rằng những quyền lực
ấy đang trực tiếp kiểm soát và điều khiển
sự vận hành của thiên nhiên cũng như con người.”
Nói về “các quyền lực siêu nhiên”,
Frazer muốn chỉ “những tác nhân có ý thức
hay có vị cách.”
Theo Kinh Thánh, có những quyền lực không
sa ngã và những quyền lực sa ngã.
Những quyền lực không sa ngã thuộc lãnh
vực siêu nhiên thiện hảo do Ðức Chúa Trời là
chân thần duy nhất, là Tạo Hóa muôn loài và là
Ðấng Cứu Chuộc nhân loại.
Các quyền lực sa ngã thuộc lãnh vực siêu
nhiên gian ác do Sa-tan làm thủ lãnh.
Sa-tan là tạo vật đầu tiên của Ðức Chúa
Trời đã sa ngã, là kẻ đã đưa tội lỗi vào
vũ trụ vô tội.
Tiên tri Ê-sai tiết lộ biến cố này như
sau: “Hỡi
sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ
trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước
kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! Ngươi
vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ
nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Ðức Chúa
Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng
phương Bắc. Ta sẽ lên trên cao những đám mây,
làm ra mình bằng Ðấng Rất Cao. Nhưng ngươi
phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm!”
(Ê-sai 14:12-15) Ê-xê-chi-ên
thì viết như sau: “Lại
có lời Ðức Giê-hô-va phán cùng ta như vầy:
Hỡi con người, hãy làm một bài ca thương về
vua Ty-rơ và nói cùng người rằng: Chúa Giê-hô-va
phán như vầy: Ngươi gồm đủ tất cả, đầy
sự khôn ngoan, tốt đẹp trọn vẹn.
Ngươi vốn ở trong Ê-đen là vườn của
Ðức Chúa Trời… ngươi là một chê-ru-bin được
xức dầu đương che phủ; ta đã lập ngươi lên
trên hòn núi thánh của Ðức Chúa Trời; ngươi
đã đi dạo giữa các hòn ngọc sáng như lửa.
Ðường lối ngươi được trọn vẹn từ
ngày ngươi được dựng nên, cho đến lúc thấy
sự gian ác trong ngươi. Nhân
ngươi buôn bán thạnh lợi, lòng ngươi đầy
sự hung dữ, và ngươi đã phạm tội; vậy ta đã
xô ngươi như là vật ô uế xuống khỏi núi Ðức
Chúa Trời; hỡi chê-ru-bin che phủ kia, ta diệt
ngươi giữa các hòn ngọc sáng như lửa! Lòng ngươi
đã kiêu ngạo vì vẻ đẹp ngươi, và sự vinh
hiển ngươi làm cho ngươi hư khôn ngoan mình.
Ta đã xô ngươi xuống đất, đặt ngươi
trước mặt các vua, cho họ xem thấy.
Ngươi đã làm ô uế nơi thánh ngươi bởi
tội ác ngươi nhiều quá và bởi sự buôn bán
ngươi không công bình; ta đã khiến lửa ra từ
giữa ngươi; nó đã thiêu nuốt ngươi, và ta đã
làm cho ngươi
trở nên tro trên đất, trước mặt mọi kẻ xem
thấy. Hết
thảy những kẻ biết ngươi trong các dân sẽ
sững sờ về ngươi. Kìa ngươi đã trở nên
một cớ kinh khiếp, đời đời ngươi sẽ không
còn nữa” (Ê-xê-chi-ên 28:11-19) Như
đã thấy, một trong những vai trò quỉ quyệt và
nguy hiểm nhất của ma quỉ là làm sai lạc chân
lý của Ðức Chúa Trời ban cho con người qua
Kinh Thánh. Ðể
thực hiện mục đích này, chúng dùng trăm phương
nghìn kế để làm con người hoặc mất cơ hội
nghe Tin Mừng, hoặc nghi ngờ chân lý cứu rỗi,
hay thêm, bớt hoặc bóp méo lời Chúa.
Do đó nỗ lực của ma quỉ là làm sao đẩy
xa con người khỏi chân lý thuần túy của Ðức
Chúa Trời như thánh Phao-lô viết trong thư II Cô-rinh-tô
4:3-4, “Nếu
Tin mừng của chúng tôi còn che khuất là chỉ
che khuất cho những kẻ hư mất, cho những kẻ
chẳng tin mà chúa đời này đã làm mù lòng họ,
hầu cho họ không thấy sự vinh hiển chói lói
của Tin Mừng của Chúa Cứu Thế, là ảnh tượng
của Ðức Chúa Trời”.
Ma quỉ cũng lợi dụng tối đa các tôn giáo
của con người, thể hiện trong đó những yếu
tố thần bí, mê hoặc con người bằng những tác
động siêu nhiên, thuyết phục con người bằng
sự linh ứng, qua đó trói buộc con người trung
thành với những hệ thống tin tưởng sai lạc,
ngày càng xa cách với chân lý của Ðức Chúa
Trời. Qua
ngoại giáo, Sa-tan chiêu mộ, kết nạp con người,
lừa dối họ, đưa họ vào một lực lượng
nổi loạn chống nghịch với Ðức Chúa Trời mà
nhiều khi chính họ không biết.
Thánh Phao lô đã nói về việc thờ cúng
trong ngoại giáo đương thời như sau: “Của
cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng
có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người
ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ, chớ
không phải cúng tế Ðức Chúa Trời. Vậy tôi
không muốn cho anh em thông đồng với các quỉ”
(I Cô-rinh-tô 10:19,20). Trong
các hình thức thờ cúng của ngoại giáo ngày
nay, thần thánh được tôn thờ nhiều khi chỉ là
một nhân vật trong lịch sử, trong dã sử hay
trong truyền thuyết, huyền thoại được con người
tôn lên làm thần thánh.
Thật ra chính Sa-tan và thuộc hạ đã tác
động trong tiến trình hình thành hệ thống
thờ cúng như thế, và nhân vật con người tôn
thờ chính là ma quỉ trong danh xưng của nhân
vật lịch sử hay dã sử kia như Thánh Phao lô đã
khẳng định như trên, “đồ người ngoại
đạo cúng tế là cúng tế các quỉ, chứ không
phải cúng tế Ðức Chúa Trời.”
Ðối với người Việt chúng ta việc thờ
những nhân vật lịch sử hoặc dã sử được tôn
làm thánh khá phổ biến, với bàn thờ và hình
tượng đặt trong nhà, trong cửa tiệm để cầu
phúc, lộc. Ma
quỉ lợi dụng tối đa lòng tin tưởng này để
hưởng sự thờ cúng dâng lên tại những bàn
thờ đó hàng ngày. Chúng cũng dùng quyền lực
siêu nhiên để ban phúc, giáng họa, từng hồi
từng lúc linh ứng để giữ người thờ cúng
trong quĩ đạo của chúng. Ngay
từ khởi đầu lịch sử nhân loại, câu chuyện
trong vườn địa đàng đã cho chúng ta thấy
rất rõ mưu định của ma quỉ lừa dối con người,
khiến cho con người nghi ngờ tính thiện hảo
tuyệt đối của Ðức Chúa Trời. Sáng Thế Ký
3:1-13 ký thuật như sau: “Vả
trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ
quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng:
Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi
không được phép ăn các trái cây trong vườn
sao? Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái
các cây trong vườn, song về phần trái của cây
mọc giữa vườn, Ðức Chúa Trời có phán rằng:
hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên
đá động đến, e hai ngươi phải chết chăng.
Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi
chẳng chết đâu; nhưng Ðức Chúa Trời biết
rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó,
mắt mình mở ra, sẽ như Ðức Chúa Trời, biết
điều thiện và điều ác. Người
nữ thấy trái cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp
mắt và quí, vì để mở trí khôn, bèn hái ăn,
rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng
ăn nữa. Ðoạn mắt hai người đều mở ra,
biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng
khố che thân. Lối chiều nghe tiếng Giê-hô-va Ðức
Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình
trong bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa
Trời. Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi
ở đâu? A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa
trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi loã lồ, nên
đi ẩn mình. Ðức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã
chỉ cho ngươi biết mình loã lồ? Ngươi có ăn
trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng? Thưa
rằng người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi
cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi. Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời
phán hỏi
người nữ
rằng: Ngươi có làm điều chi vậy? Người nữ
thưa rằng: Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn
rồi.” Căn
cứ trong phần ký thuật trên chúng ta có thể
thấy kỹ thuật lừa dối của ma quỉ từ ban đầu
vô cùng hiểm độc, vô cùng tinh vi.
Chúng thừa biết Ðức Chúa Trời yêu thương
A-đam và Ê-va, là kiệt tác của Ngài, và trong
muôn loài vạn vật Ngài tạo dựng, A-đam và Ê-va
đứng đầu, thuộc một loại riêng được Ngài
vô cùng yêu quí. Ðức Chúa Trời đã tạo dựng
con người theo hình ảnh Ngài, ban cho quyền
quản trị muôn loài, tất nhiên Ngài không tiếc
gì với con người, cho phép con người không
những quyền quản trị mà còn sử dụng thế
giới Ngài tạo dựng.
Thế mà Sa-tan đã đặt một câu hỏi
hiểm độc, gieo nghi ngờ vào lòng Ê-va về tính
hiện hảo của Ðức Chúa Trời,
“Mà chi! Ðức Chúa Trời há có phán
dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây
trong vườn sao?” Nó khôn khéo không khẳng
định một điều dối trá như bảo rằng Ðức
Chúa Trời ích kỷ, cấm không cho loài người ăn
các trái cây ngon ngọt trong vườn, nhưng giả
vờ đặt một câu hỏi khiến cho Ê-va không nghi
ngờ dụng ý xấu xa của nó. Nó thừa biết Chúa
chỉ cấm ăn một loại trái cây, nhưng giả vờ
hỏi có phải Chúa cấm ăn tất cả các trái
cây trong vườn không? Ê-va ngây thơ không ngờ,
đã đối đáp với nó, nhưng trong câu trả lời
cũng đã có phần sai lạc. Trong phần ký thuật
của sách Sáng Thế 2:17, Chúa dặn “về cây
biết điều thiện và điều ác, thì chớ hề ăn
đến”, Ê-va đã thêm “và cũng chẳng nên
đá động đến”; Chúa khẳng định “một
mai ngươi ăn, chắc sẽ chết” thì Ê-va không
quả quyết như vậy, bảo rằng “e khi hai ngươi
phải chết chăng?” Thêm
bớt, sửa đổi lời Chúa luôn luôn là những
buớc đi vững chắc nhất dẫn đến thảm họa
trong mối tương giao với Chúa.
Khi nghe Ê-va trả lời lưng chừng như thế,
Sa-tan đã cướp ngay thời cơ, dốc toàn lực
tấn công như vũ bão.
Nó nói thẳng với Ê-va rằng: “Hai ngươi
chẳng chết đâu…” Thật là kinh khủng khi
chúng ta thấy vào lúc này Sa-tan đã dám nói ngược
hẳn lại với mạng lịnh Chúa truyền cho A-đam
và Ê-va. Chúa bảo “chắc sẽ chết” thì
Sa-tan bảo “không chết đâu”, nó còn
tiết lộ thêm một chi tiết hấp dẫn mà Ê-va có
lẽ không biết, đó là “nhưng Ðức Chúa
Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái
cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Ðức Chúa
Trời, biết điều thiện và điều ác.” Ðây
là một đòn trí mạng đối với Ê-va.
Qua lời con rắn là Sa-tan, Ê-va đã “khám
phá” ra rằng sở dĩ Ðức Chúa Trời cấm ăn
trái cây biết điều thiện và điều ác vì Ðức
Chúa Trời không muốn A-đam và Ê-va giống như
Ðức Chúa Trời, bằng Ðức Chúa Trời.
Sa-tan đã bóp méo hình ảnh Ðức Chúa
Trời thiện hảo trong lòng Ê-va thành một Ðức
Chúa Trời vị kỷ, một Ðức Chúa Trời nói
dối và đã dấu Ê-va nhiều điều.
Có lẽ lúc đó Ê-va đã cám ơn con rắn đã
tiết lộ cho mình những điều bí mật mà Ðức
Chúa Trời đã dấu. Nhìn vào thực tế, khi
thấy trái cây “bộ ăn ngon, lại đẹp và quí
vì để mở trí khôn, bèn hái ăn…”
Những lời dối trá lừa gạt của Sa-tan
kinh khủng ở chỗ nó không hoàn toàn sai lạc
hay vô lý, nhưng dựa trên một phần sự thật
phiến diện, kết hợp với cái hấp dẫn quyến
rũ rất thật đối với dục vọng làm cho con người
vốn giới hạn, bất toàn không thể phân biệt
được. Tất
nhiên điều đó không có nghĩa là con người luôn
luôn bị khuất phục trước sức cám dỗ của
Sa-tan vì chúng ta có thể rút ra bài học và
giải pháp ngay trong cuộc chiến đầu tiên này.
Nguyên tắc cơ bản nhất là biết rõ
mạng lệnh của Chúa, biết rõ lời Chúa và bám
chặt vào đó. Thái
độ thiết yếu đối với Lời Chúa là tin cậy,
tuân giữ, dù chưa hiểu hết. Nguyên
tắc thứ hai là không để cho ma quỉ có cơ
hội dụ dỗ chúng ta. Cắt đứt mọi liên lạc
với ma quỉ, không quan hệ với ma quỉ bất cứ
là dưới hình thức nào.
Không bao giờ được phép quên rằng ma
quỉ là kẻ nói dối và là cha sự nói dối.
Con người không đủ khôn ngoan để quan
hệ với kẻ vô
địch lừa lọc là ma quỉ cho nên cách tốt
nhất là không dính dáng với nó, như Thánh Phao
lô căn dặn, “Tôi không muốn anh em thông đồng
với các quỉ.” Ðiều
sai lạc cơ bản trong ngoại giáo là thay vì thờ
phụng Chân Thần là Ðức Chúa Trời, con người
đã quay sang thờ tạo vật, thờ con người trong
danh nghĩa thánh nhân hay thờ chính mình, qua
việc chỉ lo làm thỏa mãn mọi dục vọng vị
kỷ như Phao Lô viết trong Rô-ma 1:21-25 như sau: “vì
họ dẫu biết Ðức Chúa Trời, mà không làm sáng
danh Ngài là Ðức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài
nữa, song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không,
và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ
tự xưng mình là khôn ngoan mà trở nên điên
dại; họ đã đổi vinh hiển của Ðức Chúa
Trời không hề hư nát lấy hình tượng của loài
người hay hư nát, hoặc của
điểu thú, côn
trùng. Cho
nên Ðức Chúa Trời đã phó họ sa vào sự ô
uế theo lòng ham muốn mình, đến nỗi tự làm
nhục thân thể mình nữa, vì họ đã đổi lẽ
thật Ðức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính
thờ và hầu việc tạo vật thế cho Ðấng tạo
Hoá, là Ðấng đáng ca tụng đời đời!
A-men.” Chân
lý Ðức Chúa Trời bày tỏ khẳng định rằng tôn
giáo chân thật là tôn thờ một chân thần duy
nhất là Ðức Chúa Trời hằng hữu, nhưng Sa-tan
đã nỗ lực huy động thuộc hạ là các tà linh
sa ngã để phá hoại, dụ hoặc con người rơi vào
bẫy thờ đa thần như những lời Kinh Thánh sau
đây: “Vả Ðức
Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau
rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các
thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ, bị
lầm lạc bởi sự giả hình của các giáo sư
dối, là kẻ có lương tâm đã lì…”
(I Ti-mô-thê 4:1-2); I Giăng 4:1-6 cũng cho biết
sự hiện hữu của các tà thần, và phải thử
cho biết thần nào đến bởi Ðức Chúa Trời: “Hỡi
kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng
hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi
Ðức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri
giả đã hiện ra trong thiên hạ. Bởi điều này,
hãy nhận biết Thánh Linh của Ðức Chúa Trời:
Phàm thần nào xưng Chúa Cứu Thế Giê-xu lấy xác
thịt mà ra đời, thần đó là bởi Ðức Chúa
Trời. Còn thần nào không xưng Chúa Cứu Thế Giê-xu,
chẳng phải bởi Ðức Chúa Trời. Ðó là thần
của kẻ địch lại Chúa Cứu Thế mà các con đã
nghe rằng hầu đến, và hiện nay đang ở trong
thế gian rồi.” Sách Khải Huyền cũng nói
về tình trạng thờ hình tượng như sau, “Còn
những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó
giết đi, vẫn không ăn năn những công việc
bởi tay chúng nó làm, cứ thờ lạy ma quỉ cùng
thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đá và
gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không
đi được” (Khải Huyền 9:20). Có
những lý thuyết xã hội ngày nay cho rằng
“giả thuyết về một chủ nghĩa độc thần sơ
khai là thiếu nền tảng và về bản chất là điều
bất khả”. Nói
cách khác, người chủ trương như thế phủ
nhận quan niệm độc thần là một quan niệm có
từ nguyên thủy và cho rằng con người đã
khởi sự thờ đa thần, rồi mới tiến dần đến
độc thần. Trong
khi đó Kinh Thánh đã nói ngược hẳn lại với
quan niệm đó khi cho biết Áp-ra-ham vào khoảng
2000 T.C. đã được Ðức Chúa Trời
gọi ra khỏi một xã hội suy thoái, đã
từ độc thần trở
thành thờ đa thần.
Mục đích Chúa kêu gọi Aùp-ra-ham là để
thành lập một chủng tộc tôn thờ chân thần
độc nhất là Ðức Chúa Trời. Do Thái cho đến
ngày nay vẫn là dân tộc thờ độc thần là Ðức
Chúa Trời hằng hữu. Sự
kiện con người thuở ban đầu thờ độc thần
là sự kiện vững chắc, hiển nhiên khi chúng ta
chấp nhận rằng con người trực tiếp do Ðức
Chúa Trời tạo dựng chứ không phải là sản
phẩm của một quá trình tiến hóa.
Lý thuyết cho rằng con người là kết
qủa của một quá trình tiến hóa là lý thuyết
đến từ ma quỉ.
Kinh Thánh cho biết hai người đầu tiên là
A-đam và Ê-va đã vui hưởng mối tương giao
với Ðấng Tạo Hóa suốt thời gian họ chưa
phạm tội. Chúa
đến với họ trong vườn Ê-đen trò chuyện, tâm
giao trong niềm vui thỏa trọn vẹn cho đến ngày
họ sa vào quỉ kế của Sa-tan, trái mạng Chúa,
tức khắc mối tương giao với Ðức Chúa Trời
đổ vỡ, khiến họ phải trốn tránh mặt Chúa.
Dầu vậy, hình thức thờ phượng Ðức Chúa
Trời là chân thần độc nhất vẫn tiếp tục
duy trì khi Thánh Kinh cho biết Ca-in và A-bên là
con cái A-đam đã thờ phượng Chúa bằng cách dâng
lễ vật và sinh tế cho Ðức Chúa Trời.
Tuy nhiên trong sự thờ phượng và dâng
hiến cho Chúa, Sa-tan đã dẫn dụ khiến cho Ca-in
ngay từ đầu đã rơi vào bẫy, đi con đường
sai lạc. Ðó
là thay vì dâng sinh tế là một con chiên bị
giết bày tỏ lòng tin nơi Ðấng Cứu chuộc vị
lai, Ca-in lại dâng thành quả công việc của tay
mình, một hình thức của công đức dựa vào mình
thay vì vào Chúa.
Ma quỉ và thuộc hạ luôn luôn nỗ lực
tối đa để làm con người mù mắt, mù lòng, không
thấy được tình yêu thương, phẩm tính công chính,
thánh khiết của Ðức Chúa Trời, bị ngăn cách
với Ðức Chúa Trời do cố ý, cứng lòng hoặc
do tội lỗi. Dâng
sinh tế là con đường duy nhất nối lại tương
giao với Ðức Chúa Trời, nhưng Sa-tan đã dẫn
dụ, lừa gạt Ca-in, khiến cho thay vì dâng một
con chiên chịu giết, là biểu tượng của Chúa
Cứu Thế chịu chết trong tương lai, Ca-in lại dâng
thổ sản của đồng ruộng là thành quả công
việc tay mình. Cho
đến nay, ma quỉ vẫn tiếp tục sử dụng quan
điểm sai lạc này để đẩy con người ra xa
khỏi Ðức Chúa Trời, để con người đứng độc
lập với Ðức Chúa Trời, dựa vào khả năng và
sức lực của mình thay vì dựa vào Ðức Chúa
Trời. Ma
quỉ cũng cố ý hạ thấp mọi lý tưởng của
con người, giới hạn mọi mục tiêu đời người
vào các giá trị vật chất trần gian, trong cõi
tạm, để con người hướng mọi nỗ lực vào
đó, thực hiện những mục tiêu thấp thỏi
tầm thường, ngắn hạn, để không còn tâm trí
thì giờ hoặc năng lực suy nghĩ gì đến cõi vĩnh
hằng. Lý
do ma quỉ không muốn con người suy nghĩ đến cõi
đời đời là vì trong chiều hướng tư duy đó,
con người sẽ mau chóng nhận ra những giới
hạn đáng tội nghiệp của mình, nhưng đồng
thời lại ý thức rất rõ rằng cõi vĩnh hằng
là nơi mình phải bước vào nhưng không biết cách
chuẩn bị. Nhận định này cuối cùng sẽ thúc
đẩy con người đến chỗ tìm kiếm, nhờ cậy
Ðức Chúa Trời là điều ma quỉ lo sợ hơn
hết, vì một khi con người đã kêu cầu Chúa, dù
chỉ là một tiếng kêu rất yếu ớt, khắc
khoải trong linh hồn, Chúa cũng nghe và Ngài sẽ
tức khắc đáp ứng, vì có lời Chúa phán rằng
“Ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được
cứu”. Lúc
đó mọi công trình, mọi kế hoạch lừa dối
tinh vi của ma quỉ xây dựng và che dấu hàng bao
nhiêu năm ngăn cản con người đến với Ðức
Chúa Trời sẽ bỗng nhiên tan thành mây khói. Như
vậy hành động của Ca-in dùng thành quả công
việc của tay mình thay vì dùng huyết sinh tế dâng
lên, chính là thể hiện thái độ từ chối ân
sủng Chúa, và đó là bài giáo lý đầu tiên
của quỉ dữ. Thái
độ gạt bỏ Ðức Chúa Trời sang một bên là
đặc trưng của con người từ Ca-in cho đến
thời Nô-ê, rồi tiếp nối đến thời tháp Ba-bên,
khi con người họp nhau xây một cái tháp “cao
lên đến tận trời”, thách thức Ðức Chúa
Trời. Ðến
thời Áp-ra-ham thì nhân loại đã rơi vào khuynh
hướng thờ đa thần phổ biến đến nỗi Ðức
Chúa Trời phải kêu gọi Áp-ra-ham ra khỏi quê hương
dòng tộc để đi theo Ngài là Chân Thần.
Áp-ra-ham đã trở thành người đầu tiên
được Ðức Chúa Trời coi là công nghĩa bởi đức
tin giữa cả một thế
giới chìm đắm trong ngoại giáo bị cắt
đứt liên lạc với Ðức Chúa Trời. (Còn
tiếp) |
|
|
|