![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Lạc Trên Triền Núi Hi-mã-lạp-sơn |
|
|
|
(tiếp
theo kỳ trước)
Tóm
tắt kỳ trước:
James Scott là một
sinh viên y khoa người Úc trong chuyến leo núi tại
Nepal đã đi lạc trong vùng sườn núi tuyết phủ
suốt 42 ngày không thực phẩm, không đủ quần áo
ấm mà vẫn sống sót.
Nạn nhân kể lại, tin rằng đó là phép lạ
diệu kỳ Ðức Chúa Trời đã làm trong đời sống
anh, cũng đã thôi thúc chị Joanne có quyết tâm cao độ
phi thường không bỏ cuộc trong nỗ lực tìm kiếm, dù
trong trong giai đoạn cuối, mọi người cho rằng hoàn
toàn vô ích.
Thế
mà đã bốn tuần James lạc trên triền núi băng
tuyết.
Tìm được một gờ đá lớn
anh trú ẩn trong đó với hy vọng sẽ có ngày được
toán cấp cứu tìm ra.
Trong suốt một tháng, mỗi ngày James bò ra ngoài
vo tuyết thành từng viên để
tan ra và uống nước tuyết cầm hơi.
Anh đã thử ăn mọi thứ kiếm được: lá cây,
cỏ, rêu và có lần đã ăn một con sâu.
Thể lực suy kiệt, James nằm
thoi thóp nghĩ rằng đây là những ngày cuối của đời
anh. **** James
đọc đi đọc lại mấy cuốn truyện đem theo, đọc
cuốn “Những Ước Mơ Lớn” của Charles Dickens đến
lần thứ tư, mỗi lần cố tìm ra những chi tiết
mới, và hy vọng rằng
cũng giống như Pip, nhân vật anh hùng trong truyện
sẽ được giải cứu
đúng vào giờ cuối.
Có lẽ điều cũng giúp anh khá
nhiều đó là tinh thần kỷ luật anh học được
trong thời gian tập Karate.
Anh quyết tâm sẽ không bỏ
cuộc khi cuộc chiến đấu còn tiếp diễn.
Nhưng khi sức khoẻ cạn dần, James nhìn bầu
trời vần vũ báo hiệu một đợt bão tuyết nữa
ập tới, có lẽ sẽ kéo dài cả tuần, anh thấy
mục tiêu sống sót xa dần, không còn là tia
nắng le lói nữa mà chỉ còn là một giấc mộng tàn.
James biết rằng bão kéo đến
lúc này là một trở ngại lớn cho mọi nỗ lực tìm
kiếm anh. Trong
khi đó tại Vài
ngày sau khi đến Napal, Andrew, cùng với Graeme Fay và
hai người mới thuê quyết định làm một chuyến bay
bằng trực thăng trên vùng James mất tích.
Họ đi từ 10 giờ sáng, đến 1 giờ trưa trở
về, chị Joanne chạy ra đón trông tin, họ lắc đầu
cho biết không thấy tăm hơi gì. Nhưng chị Joanne
hỏi: “Nhưng địa thế vùng đó ra sao?”
Andrew cho biết chưa bao giờ
thấy một địa thế hiểm trở như vậy và ngay cả
người địa phương cũng không thể sống nổi chứ
đừng nói gì đến du khách.
Với những con đường núi dốc đứng, trơn
trợt phủ đầy băng tuyết, Andrew bảo rằng James có
điên khùng mới đâm đầu vào triền núi đó, và
cậu cho rằng chắc James đã ngã xuống một khe vực
nào đó. Cuộc
tìm kiếm bằng các phương tiện khác vẫn cứ tiếp
diễn một cách âm thầm và vô cùng chậm chạp.
Hằng ngày chị Joanne trông ngóng
tin tức từ các toán thám hiểm gửi về.
Ðến ngày 12 tháng Giêng, chị gửi điện thư
về cho gia đình bên Úc như sau:
“Chúng ta phải chấp nhận tình huống này.
Với thời gian trôi qua, cơ
hội tìm được James càng ít dần, tuy nhiên con không
mất hy vọng và sẽ bằng mọi cách, tiếp tục công
việc cho đến cùng.” Xin
đừng bỏ tôi ở đây! James
kể tiếp tình huống của anh trong những ngày cuối
trên triền núi: Ánh
sáng xuyên qua túi ngủ cho James biết anh lại bước vào
một ngày nữa, một ngày tốt trời, tuy nhiên anh không
muốn dậy, anh không đủ sức dậy và không biết có
bao giờ anh dậy nữa hay không.
Ðột nhiên anh nghe tiếng động
âm u từ xa, âm thanh anh chưa từng nghe trong nhiều
tuần qua trên vùng băng giá hẻo lánh này.
Tiếng ù ù, đều đều to dần.
James bật dậy như một cái lò xo:
“Máy bay trực thăng!”
Ôi chao! Thế là cuối cùng họ
đã tìm được đến đây.
James suy nghĩ rằng chắc chắc đây là chiếc máy
bay phái đi tìm anh. Chiếc
trực thăng nhắm thẳng tới rồi bắt đầu bay vòng
quanh. Với
cái túi ngủ màu xanh nước biển và bộ quần áo
ngủ màu đỏ nâu James hy vọng người ta sẽ nhìn
thấy anh. James
loạng choạng dùng hết sức quơ cái túi đeo lưng đến
khi mệt lả thì chiếc trực thăng cũng bay xa dần
rồi mất hút. James
khóc nấc lên: “Xin đừng bỏ tôi ở đây!”
James kiệt quệ, lết trở lại
nơi trú ẩn. Trong
lúc ra dấu cho máy bay, anh bị tuột mất một chiếc
giày dưới lớp tuyết bên ngoài.
Anh dùng tay thọc sâu
xuống tuyết để tìm, nhưng tay anh đã mất hẳn
mọi cảm giác. James
càng đau khổ hơn, vì anh định rằng ngày hôm nay
sẽ cố gắng bò xuống triền dốc may ra có thể đến
được một làng nào gần đó.
Nhưng bây giờ mất chiếc giày,
anh không biết làm sao. Ðộ
ba hay bốn hôm sau, một lần nữa James lại nghe
tiếng động cơ trực thăng.
Từ trong hang, anh chạy như điên ra khoảng
trống, quơ chiếc túi đeo lưng màu xanh.
Anh không thể để mất cơ
hội cuối cùng này.
Chiếc trực thăng bay thẳng tới anh, ngay phía
trên đầu, anh nhìn thấy rõ hai viên phi công trên đó,
nhưng họ nhìn thẳng phía trước và dường như không
có vẻ gì là đang tìm kiếm ai cả.
Khi chiếc máy bay mất hút, anh đứng thẫn thờ.
Dường như hy vọng cuối cùng
đã ra đi. Anh
định thần nghĩ lại.
Anh đã lạc hơn một tháng
rồi, làm gì còn chuyện đi tìm.
Chắc chắn sau hai tuần họ
kể như anh mất tích và đã chết.
Khi loạng choạng trở lại nơi
trú ẩn, anh bỗng nhìn thấy gót chiếc giày anh bị
mất dưới tuyết ló lên một chút.
Vậy là ít ra anh đã tìm lại được chiếc giày
anh rất cần lúc này! Ba
đêm sau, khi
nằm nhìn trăng nhô lên trên bầu trời xa
xăm, James thầm tính, vậy là anh đã lạc gần sáu
tuần. Anh nằm yên
suy nghĩ về tình trạng sức khỏe suy kiệt,
thân nhiệt xuống dần.
Ðể tay vào đùi, anh không
còn thấy ấm nữa. Hai
ống chân anh và hai đùi chỉ còn như hai khúc củi.
Mông không còn chút thịt nào
khiến anh nằm ở tư thế nào cũng thấy đau.
Anh thường xuyên có cảm giác
buồn nôn, người cứ run lên và ậm ọe luôn.
Anh biết cái chết đã gần
kề. Thân
xác anh đang chuẩn bị đầu hàng. James
biết anh không thể nào sống cho đến khi tuyết tan,
nếu muốn tồn tại, anh phải hành động ngay trước
khi chút sức tàn này cạn tắt.
Suốt đêm James suy tính lối
thoát rồi anh lại tự trách tại sao mình không hành
động sớm hơn mà để đến lúc này.
Càng nghĩ ngợi anh càng thấy
luẩn quẩn. Nhưng
đến sáng, anh quyết định đi.
Vừa đứng dậy anh hoa mắt nhìn
thấy hình đôi.
Cái túi đeo lưng chỉ có
khoảng hơn ba kí mà như cả tấn.
Anh phải cúi mình về phía trước
để giữ thăng bằng.
Chỉ đi có mấy bước anh đã
lún sâu trong tuyết đến gần ngang thắt lưng.
Anh nghiến răng cương quyết đi
tới. Ðược
độ một giờ, cơn buồn nôn trở nên dữ dội, nước
miếng ứa ra trong miệng, anh nhổ xuống tuyết thì
kinh ngạc thấy màu đỏ lòm toàn máu.
Một cơn gió ào tới làm anh cứng người, lại
thổi bay chiếc nón rơm ra xa.
Anh nhìn theo, không có
sức nào để đến lượm lại.
Anh nghĩ đến việc bỏ cuộc,
nằm thẳng ra đây để tuyết phủ lên và thế là
xong, kết thúc mọi đau đớn phải chịu hơn một tháng
qua. Nhưng
rồi bản năng sinh tồn trổi dậy, James quay lại nơi
trú ẩn, nhưng quyết định sẽ không uống nước
tuyết nữa, mà cứ để cho cơ thể khô dần và
chết. Có
lẽ đó là cách chết tốt nhất. Trong
khi đó chị Joanne ở Chị
Joanne cố cầm nước mắt.
Như vậy là bỏ cuộc sao?
Làm thế nào chị có thể về
dự buổi lễ đó sau bao nhiêu nỗ lực mà không được
gì, không được một chút gì?
Chị chưa thể dự buổi lễ tưởng
niệm đó được, chị chưa sẵn sàng vĩnh biệt
James. Chị
không thể chấp nhận sự việc rồi đây vào Xuân
trong mùa tuyết tan, rồi người ta sẽ tìm ra xác
James và rồi gia đình lại có thêm một tang lễ nữa.
Ai mà chịu nổi!
Buổi chiều ba chị từ Úc gọi điện thoại
cho chị. Ông không
nói gì về dự định làm lễ tưởng niệm James, nhưng
bảo rằng: “Chỉ khi nào con rời Nepal thì bố mẹ
mới biết rằng không còn hy vọng gì về James nữa.” Chị
quyết định làm một nỗ lực tìm kiếm cuối cùng
bằng trực thăng trên cả hai vùng Phedi và Talu. Trong
lúc đó James đã ngưng không uống nước tuyết trong
36 giờ và cơ thể đã suy kiệt của anh lại suy
kiệt nhanh chưa từng thấy.
James ngạc nhiên thấy như vậy là cái chết cũng
dễ đến quá chứ đâu có khó.
Anh nằm yên cầu nguyện và nghĩ về gia đình,
về người yêu và có thể đây cũng là những suy nghĩ
hạnh phúc cuối cùng.
Ðêm đó anh nằm mơ thấy mình và người yêu
Gaye đang ngồi bên nhau ở ngoài hàng hiên nói chuyện
về ngày đám hỏi. Một
buổi tối thật hạnh phúc, thật êm đềm.
Khi thức giấc James thấy tất cả những hình
ảnh trong giấc mơ thật là rõ ràng và sống động
như thật, như vừa mới xảy ra hôm qua.
Anh bỗng nghĩ lại: “Tại sao mình phải chết?
Tại sao mình không thể sống và trở về?
Tại sao mình lại quyết định bỏ xác tại đây?”
Anh tự trách đã có quyết định ngu dại là
tuyệt ẩm. Anh
lết ra cửa hang và lại gom tuyết làm nước để
uống. Mặt
trời lên cao và những giọt nước mát lại làm cho
anh phục hồi hy vọng. Ở
Kathmandu hôm đó, chị Joanne nhìn Ðại tá Pun chuẩn
bị lên trực thăng cho chuyến tìm kiếm cuối cùng như
dựï định. Ông
dặn chị ở lại trạm và trực máy vô tuyến.
Thời gian lặng lẽ trôi qua, bỗng chị nghe
tiếng máy vô tuyến xào xạc “Tổng Ðài, Tổng Ðài!
Ðây là Army 29!” Tiếng Ðại Tá Pun nghe thật xa xôi.
Ông nói mấy câu bằng tiếng Pali, rồi người
chuyên viên vô tuyến trao cho chị Joanne chiếc
microphone. Tim
chị đập rối loạn.
Chị nghe tiếng Ðại Tá Pun: “Joanne! Ðây là
Ðại Tá Pun. Chúng
tôi thấy một người ở phía bắc Talu.
Anh ta còn sống.
Rất có thể làm James.
Hết.” Cả
người chị Joanne run lên.
Chị nghĩ “Có
phải là tôi đang nằm mơ không?
Không! Tôi
vừa nghe Ðại Tá Pun nói mà?
Làm sao James còn sống được?
Hôm nay là ngày 2 tháng 2, nghĩa là 42 ngày sau
khi James mất tích. Không
lửa, không thực phẩm, làm sao sống được trên vùng
băng giá đó? Suốt
thời gian đó James trốn lạnh ở đâu, lấy gì ăn mà
sống? Nước
mắt ràn rụa, chị quay sang giải thích cho người
chuyên viên vô tuyến:
“Người ta bảo là đã thấy em tôi còn sống!”
Tiếng Ðại Tá Pun lại vang lên: “Tôi lập
lại: chúng tôi đã thấy một người trên triền núi
phía bắc Talu. Rất
có thể là em cô. Mười
phút nữa chúng tôi sẽ về Kathmandu để lấy thêm
dụng cụ. Hết
và chấm dứt.” Tiếng
trực thăng rõ dần. Chị
Joanne chạy ra. Ðại
Tá Pun cho biết: “Anh ta nhìn thấy chúng tôi và quơ
chiếc túi đeo lưng màu xanh, sau đó ngã quỵ.” Buổi
chiều hôm đó, khi James chui vào túi ngủ và bắt đầu
lời cầu nguyện hàng ngày cho gia đình, cho người yêu,
anh bỗng nghe có tiếng người từ xa.
Anh tưởng mình mơ.
Anh cố chú ý lắng nghe.
Có tiếng từ xa vọng lại: “Namaste” James la
lên đáp lại, giọng khản đặc: “Namaste! Namaste!”
Nhiều tiếng khác đáp lại anh.
James cuống cuồng lục trong túi đeo lưng quyển
hướng dẫn du lịch Napal tìm câu: “Xin cứu tôi!”
Anh liên tiếp kêu lên bằng tiếng Pa-li “Xin
cứu tôi! Xin cứu tôi!” Bỗng
có hai người xuất hiện ở phía trên gờ đá.
Một người đội chiếc nóm rơm James bị mất
hôm nọ. Họ chào
anh “Namaste! Namaste!”
Anh đáp lại “Namaste!”
Họ hỏi anh có phải James Scott người Úc không.
Anh bảo phải. Toán
người Nepal cho biết anh đã mất tích 42 ngày và
bảo rằng, không ai sống được từng đó ngày trên
núi Hy-mã-lạp-sơn. Họ
nói “Ông Scott, ông là thần linh!”
James không biết trả lời bằng tiếng Pa-li, nên
nói bằng tiếng Anh: “Không, chính Ðức Chúa Trời
đã bảo tồn sự sống tôi.” Hảo
Minh lược dịch
(còn
một kỳ nữa) |
|
|
|