Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Ma Quỉ Trong Thế Giới Ngày Nay

 

 

   

 

     

 

 

 

Việt Hà Biên Soạn
(Khởi đăng từ T.C. 161)

 

Trong số các nền văn hóa bản thổ sơ khai, tôn giáo được gắn liền với việc thờ cúng thánh thần, các thói tục mê tín dị đoan và cả ma thuật nữa.  Niềm tin tưởng và các tập tục tôn giáo trong các vùng đất sơ khai ở dưới ảnh hưởng nặng nề của thông linh thuật, dính dấp với vô số các hữu thể thần linh.  Tôn giáo thờ vật linh sơ khai cho rằng tất cả các đồ vật đều có sự sống và có vô số thần linh trú ngụ bên trong.  Mọi người đều kiêng sợ những quyền lực vô hình này cho nên đã quay ra thờ cúng, khấn vái, dâng lễ vật thường xuyên theo “ý thích” của từng tà thần hay từng loại tà thần.  Có tà thần “đòi” dâng cúng hoa quả, có loại đòi dâng cúng gà vịt, thậm chí heo, bò, có loại tà thần đòi cúng rượu.  Con người thường xuyên sống trong tinh thần sợ hãi thần linh và không bao giờ muốn thất lễ hay thiếu xót bổn phận thờ cúng.   Nếu sai  phạm, người ta cho rằng sẽ bị “thánh vật,” bị trừng phạt, thường là gặp tai nạn, đau ốm có khi chết.  Trong vòng những cộng đồng sơ khai đó cũng thường xuất hiện những tay phù thủy, thầy bói, thầy cúng, những kẻ sử dụng pháp thuật, làm trung gian liên lạc với thần thánh để cầu cúng, van nài cho những người gặp nạn, nhưng cũng có khi để trả thù cá nhân, hoặc để củng cố uy quyền.

Các dân tộc sơ khai không phân biệt tôn giáo với ma thuật, nhưng cho rằng cả hai trộn lẫn vào nhau.  Họ cũng coi tất cả những hiện tượng thiên nhiên cùng mọi tác động vật lý là do quyền lực của thần linh.  Họ cho rằng các diễn biến luân chuyển trong thiên nhiên không do sự vận hành của các qui luật thiên nhiên do Ðức Chúa Trời xếp đặt an bài, mà do ma quỉ, thần thánh điều khiển tùy tiện.  Vì vậy đặc trưng của các tôn giáo sơ khai là thiếu hiểu biết, ngu dốt, lệ thuộc vào nếp mê tín dị đoan phổ biến truyền tụng trong cộng đồng.  Về hình thức, những loại mê tín dị đoan đó có vẻ vô hại, nhưng thường khi nó trở thành dấu hiệu mời gọi tà linh, ma quỉ đang lang thang đây đó xâm nhập.  Thí dụ như ở Việt Nam , một số nhà gắn gương hay  bùa bát quái trên đầu cửa hay treo mấy nhánh xương rồng để trừ tà.  Nhưng có thể đó lại chính là dấu hiệu cho các tà linh ghé lại, vì biết rằng chủ nhân căn nhà đó ít ra là có tinh thần kiêng nể hay sợ hãi thần linh.  Có người cho con đeo bùa là một sợi dây ở cổ tay hay trên cổ, có khi đeo một túi nhỏ có mấy tép tỏi để ma quỉ không dám bắt.  Ở nhà quê trước kia do mê tín dị đoan, cha mẹ thường đặt cho con những tên xấu xí thô thiển để đánh lạc hướng chú ý của ma quỉ.  Những niềm tin tưởng thô sơ đó cũng  cách thể hiện một hình thức tôn giáo trong dạng thức mê tín dị đoan tuy đối với thế giới văn minh chỉ là do thiếu hiểu biết và không có gì đáng sợ.  Ðối với những người có tinh thần khoa học, giải pháp cho xã hội sơ khai chỉ là khai hóa bằng giáo dục và bằng nếp sống văn minh.   Nhưng trong thực tế, đối với những người bình dân ít học,  khai hóa không phải là giải pháp triệt để, vì có những người đã thực sự bị quyền lực của ma quỉ cột trói đến độ không thể dứt ra khỏi những quan niệm thô thiển và nỗi sợ hãi đối với thần linh họ đã từ lâu thờ cúng.  Chúng ta cũng cần nhớ rằng ma quỉ và tà linh là các thiên sứ  sa ngã luôn luôn tìm đủ mọi cơ hội để xâm nhập và khống chế con người, không những chỉ qua các hoạt động thông linh nhưng còn qua những tập tục mê tín dị đoan, làm cho những tập tục đó có lúc linh ứng khiến cho ai đã tin thì càng tin tưởng hơn còn ai chưa tin thì ở trong trạng thái hoang mang nhưng lại không dám phủ nhận.

Một trường hợp thờ cúng hình tượng tà thần đến trở thành nô lệ được ghi nhận như sau.  Ông bà Hải (không phải tên thật) vốn là ngư dân, sau biến cố năm 1975 đã rời quê hương đi định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục nghề đánh cá.  Bản chất hiền lành, siêng năng, ông Hải và người con lớn đã xây dựng cuộc sống vật chất khá vững chắc.  Tuy chưa bao giờ đến nhà thờ nhưng bà Hải được bạn bè tặng một cuốn Tân Ứớc nên bà vẫn thường đọc và nhận rằng trong đó có nhiều điều hay, dù không hiểu hết nhưng bà tỏ vẻ rất quí những điều Kinh Thánh dạy. Một đặc điểm nổi bật trong nếp sống của gia đình này là rất sùng bái thần thánh.  Ông bà Hải để nguyên một phòng cạnh phòng khách làm nơi thờ tự.  Tại đây có nhiều bàn thờ khác nhau với hàng chục hình tượng lớn, nhỏ.  Chung quanh được giăng đèn kết hoa, lại dùng toàn đèn đỏ khiến cho căn phòng đầy vẻ âm u bí hiểm.  Ðiều làm cho tôi cũng như một số các con cái Chúa đến thăm gia đình này cảm thấy buồn là, ngay tại một đất nước văn minh kỹ thuật nhất thế giới, trong một ngôi nhà khang trang, trông bên ngoài không thua bất cứ một biệt thự nào trong khu phố, nhưng bên trong lại có những con người hiền lành, không tìm ra chân lý đến độ phải thờ cúng biết bao hình tượng vô tri không thấy, không nghe, không nói, y như Kinh Thánh mô tả về hình tượng. 

Dù vậy, bản tâm ông bà Hải cởi mở cho nên để con cái tự do chọn tín ngưỡng. Một phần cũng vì lớn tuổi, ít được học hành, trong khi đó con cái hầu hết đều đã thành tài cho nên trong một số lãnh vực ông bà không có ảnh hưởng đến con cái bao nhiêu. Chính thái độ cởi mở của ông bà Hải đối với tôn giáo đã giúp chúng tôi dễ chia xẻ về tình thương và sự cứu rỗi của Chúa mà cả hai ông bà đều sẵn lòng nghe.  Qua đời sống và những kinh nghiệm của một con cái Chúa quen biết, ông bà Hải rất tin tưởng vào sự cầu nguyện cho nên dù chưa công khai tuyên xưng đức tin nhưng thường nhờ Hội Thánh cầu nguyện cho sự học hành của con cái.  Mỗi lần thấy Chúa nhậm lời cầu nguyện, ông bà lại dâng hiến tiền bạc cho Hội Thánh, theo nếp suy nghĩ của nhiều người Việt, trong tinh thần biết ơn đối với Ðấng đã gia ơn cho mình. Thật ra đây là một thái độ không đúng, củng cố cho một quan niệm cố hữu vừa sai lầm vừa nguy hiểm khi chỉ thấy Ðức Chúa Trời là một ông thần chuyên ban phước hoặc giáng họa, và nhất là có thể được đền đáp thậm chí mua chuộc bằng tiền bạc!

Quan niệm về Ðức Chúa Trờiø chỉ là Ðấng ban phước và giáng họa trong cuộc đời trần gian thì thật sai lạc.  Song song với quan niệm đó về Ðức Chúa Trời là quan niệm về phẩm chất đạo đức của cha mẹ, tô vẽ bằng lòng thương con, tinh thần hy sinh lo lắng cho gia đình là những điều được đương nhiên coi là cao quí nhất trong bất cứ xã hội nào.  Kết hợp hai quan niệm này lại và nếu thấy Ðức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu đó, ban phước cho gia đình, phù hộ cho con cái thì một người sẽ kết luận dễ dàng rằng Ngài rất đáng tin thờ.  Ðây là âm mưu vô cùng thâm độc của ma quỉ.

Là các hữu thể thần linh, ma quỉ có một số quyền lực giới hạn, và với những quyền lực đó, chúng cũng có thể ban phước và giáng họa trong một mức độ giới hạn nào đó do Ðức Chúa Trời qui định.   Những người ở trong xiềng xích ma quỉ sẽ bị nó dùng phước họa vật chất dẫn dụ.  Những người đến với Chúa do những động cơ sai lạc trên, ma quỉ sẽ rất mừng.  Nó sẽ xui giục, khiến cho người đó chỉ xin và trông mong những ơn phước vật chất một cách dại dột và vị kỷ.  Vì Ðức Chúa Trời không phải là Ðấng để con người lợi dụng như thế nên có nhiều điều con người xin nhưng Chúa không cho.  Lúc đó ma quỉ sẽ nhảy vào lung lạc “đức tin,” thậm chí nó còn ra tay “cứu độ” một cách cụ thể hơn cả Ðức Chúa Trời, như nó đã từng làm với hai con người đầu tiên.  Pháp chế của Ðức Chúa Trời không những được minh thị ghi trong Kinh Thánh mà còn được ghi khắc trong lương tâm con người.  Con người có bổn phận tôn thờ Chúa không phải để đổi lấy những ơn phước vật chất, nhưng sở dĩ con người phải tôn thờ Ðức Chúa Trời vì Ngài là Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng cho con người hiện hữu, ban cho con người linh hồn và sự sống.

Ðiều đầu tiên con người cần là xin Chúa tha thứ khối lượng tội lỗi kinh khủng chất chứa trong linh hồn từ bao nhiêu năm tháng qua.  Chỉ những người thấy rõ cái kinh khủng của tội lỗi, nhất là tội không tôn thờ Ðấng Tạo Hóa là Ðức Chúa Trời mà lại đi thờ tạo vật, mới là người hiểu được lòng ăn năn thật là gì.  Ông bà Hải có lòng tôn kính Chúa, nhưng chỉ là lòng tôn kính đối với một ông thần ban phước.  Cả hai vẫn cảm thấy việc thờ cúng hình tượng chỉ là lòng mộ đạo, không thấy kinh khủng ghê tởm như Lời Chúa dạy mà trái lại, còn có vẻ hãnh diện về lòng mê tín của mình.

Ở trong sự tối tăm, bị ma quỉ là “chúa đời này” làm mù mắt, mù lòng, họ không thể hiểu được, cho nên khi ông bà Hải quyết định tin Chúa thì dường như chỉ là tin thêm một vị thần nữa, y như dân A-tên ngày xưa, thờ hàng trăm thần tượng rồi mà còn sợ sót.  Với loại đức tin đó ông bà Hải đã đến với Chúa, lại thêm chưa có cơ hội học biết về Chúa qua Lời Kinh Thánh thì ma quỉ đã tấn công tới tấp.  Mấy đêm liên tiếp ông Hải mất ngủ và ở trong tâm trạng thường xuyên bất an.  Các con cái Chúa trong Hội Thánh thường mời đi nhà thờ, nhưng hai ông bà cho biết chưa sẵn sàng.  Bà cho biết còn có một vài việc chưa thu xếp xong, nhưng không nói đó là việc gì.  Theo điều một con cái Chúa cho biết thì lý do là vì “trong nhà còn nhiều bàn thờ quá, đợi xong đám cưới con gái sẽ dẹp bàn thờ và lúc đó đi nhà thờ mới yên tâm.”

Khi mục sư trở lại thăm thì thấy tình hình đổi khác.  Ông bà vẫn ân cần tiếp đón, nhưng về sắc diện, cả hai đều xuống thấy rõ.  Khi đề cập đến việc thờ phượng Chúa thì bà đẩy qua ông.  Ông Hải với giọng rất ngại ngần cho biết vì cả hai già rồi nên không muốn thay đổi tôn giáo, mà chỉ mong cho các con cái theo Chúa, còn ông bà muốn vẫn cứ giữ theo nếp thờ cúng cũ, thờ cúng ông bà và các thánh thần như trước.  Khi được  giải thích, ông bà hiểu là phải thờ kính Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa, Ðấng lớn hơn hết nhưng vẫn không muốn dứt khoát với việc thờ hình tượng.  Khi được hỏi có phải vì sợ không, thì ông xác nhận là có, sợ thần thánh buồn.   Bà Hải kể lại cho biết nhiều chục năm về trước, khi ông còn làm nghề đánh cá ở quê nhà, có một lần bị bão chìm thuyền nhưng thoát chết.  Sau đó ông đi coi bói để xem số mạng, thầy tướng số cho biết ông phải thờ Quan Thánh thì mới được yên ổn.  Ông Hải khởi sự thờ tượng Quan Vân Trường từ đó, thêm vào với việc thờ cúng cả ông bà tổ tiên và những thần tượng khác.  Có lẽ trong suy nghĩ của họ, càng thờ nhiều chừng nào tốt chừng nấy chứ không có hại gì.  Càng thờ nhiều, càng được nhiều thánh thần phò hộ độ trì.  Cứ thế gia đình ông Hải ngày càng lậm sâu hơn trong thói quen thờ cúng tà thần mà không thấy nguy hiểm, dành riêng một phòng trong nhà để dựng lên đủ loại bàn thờ, và khi được nghe nói về Chúa ông bà đã sẵn lòng tin ngay, nhưng có thể chỉ là theo dạng thức tin thờ như các thần linh khác.

Sau khi ông bà Hải tiếp nhận Chúa Giê-xu, quyền lực tối tăm phản ứng rất dữ dội.  Trước hết ông mất ngủ hai đêm liên tiếp, sau đó rơi vào tâm trạng bất an, tranh chiến trong lòng vì ma quỉ biết là nó có thể sắp mất những người vốn đã từ lâu ở dưới sự khống chế, áp bức của nó.  Khi mục sư đến thăm, sắc diện cả hai đổi khác, hiện rõ vẻ lo lắng không dấu được.  Khi nói chuyện, ông tỏ vẻ lo sợ, và đến cuối cùng thì ông đã xin trả lại quyển Kinh Thánh được tặng khi tiếp nhận Chúa.  Dù đã được giải thích thần thánh chỉ là vật thọ tạo, là ma quỉ, là các thiên sứ sa ngã, trong khi Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa, là Chân Thần, là Ðấng lớn hơn hết, và Chúa Giê-xu mà ông bà đã đặt lòng tin cũng là Ðức Chúa Trời là Ðấng mà khi nghe đến danh Ngài, “mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất đều phải quì xuống,” ông Hải vẫn không dứt được nỗi lo sợ vô hình đang vò xé tâm can.  Họ tin nhận Chúa là Chân Thần, nhưng vẫn sợ ma quỉ.  Sau nhiều năm tháng thờ cúng tà thần, những con người đơn sơ như ông bà Hải đã bị cột trói, bị xiềng xích vào nếp sống nô lệ tà linh đến nỗi không thể tự mình thoát khỏi vòng xiềng xích đó nếu không được Chúa cứu.  Ðiều đáng tiếc là họ đã không dứt khoát đặt lòng tin nơi Chúa và Hội Thánh chỉ biết tiếp tục cầu nguyện cho họ.

 

(Còn tiếp)