![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỉ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Việt
Hà Biên Soạn Trong
số các nền văn hóa bản thổ sơ khai, tôn giáo
được gắn liền với việc thờ cúng thánh
thần, các thói tục mê tín dị đoan và cả ma
thuật nữa.
Niềm tin tưởng và các tập tục tôn giáo
trong các vùng đất sơ khai ở dưới ảnh hưởng
nặng nề của thông linh thuật, dính dấp với vô
số các hữu thể thần linh.
Tôn giáo thờ vật linh sơ
khai cho rằng tất cả các đồ vật đều có
sự sống và có vô số thần linh trú ngụ bên
trong. Mọi
người đều kiêng sợ những quyền lực vô hình
này cho nên đã quay ra thờ cúng, khấn vái, dâng
lễ vật thường xuyên theo
“ý thích” của từng tà thần hay từng loại
tà thần. Có
tà thần “đòi” dâng cúng hoa quả, có loại
đòi dâng cúng gà vịt, thậm chí heo, bò, có
loại tà thần đòi cúng rượu.
Con người thường xuyên sống trong tinh
thần sợ hãi thần linh và không bao giờ muốn
thất lễ hay thiếu xót bổn phận thờ cúng.
Nếu sai
phạm, người ta cho rằng sẽ bị
“thánh vật,” bị trừng phạt, thường là
gặp tai nạn, đau ốm có khi chết.
Trong vòng những cộng đồng sơ khai đó cũng
thường xuất hiện những tay phù thủy, thầy bói,
thầy cúng, những kẻ sử dụng pháp thuật, làm
trung gian liên lạc với thần thánh để cầu cúng,
van nài cho những người gặp nạn, nhưng cũng có
khi để trả thù cá nhân, hoặc để củng cố
uy quyền. Các
dân tộc sơ khai không phân biệt tôn giáo với
ma thuật, nhưng cho rằng cả hai trộn lẫn vào
nhau.
Họ cũng coi tất cả những hiện tượng
thiên nhiên cùng mọi tác động vật lý là do
quyền lực của thần linh.
Họ cho rằng các diễn biến luân chuyển
trong thiên nhiên không do sự vận hành của các
qui luật thiên nhiên do Ðức Chúa Trời xếp đặt
an bài, mà do ma quỉ, thần thánh điều khiển tùy
tiện. Vì
vậy đặc trưng của các tôn giáo sơ khai là
thiếu hiểu biết, ngu
dốt, lệ thuộc vào nếp mê tín dị đoan phổ
biến truyền tụng trong cộng đồng.
Về hình thức, những loại mê tín dị đoan
đó có vẻ vô hại, nhưng thường khi nó trở thành
dấu hiệu mời gọi tà linh, ma quỉ đang lang
thang đây đó xâm nhập.
Thí dụ như ở Việt Một
trường hợp thờ cúng hình tượng tà thần đến
trở thành nô lệ được ghi nhận như sau.
Ông bà Hải (không phải tên thật) vốn là
ngư dân, sau biến cố năm 1975 đã rời quê hương
đi định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục nghề đánh
cá. Bản
chất hiền lành, siêng năng, ông Hải và người
con lớn đã xây dựng cuộc sống vật chất khá
vững chắc.
Tuy chưa bao giờ đến nhà thờ nhưng bà
Hải được bạn bè tặng một cuốn Tân Ứớc
nên bà vẫn thường đọc và nhận rằng trong đó
có nhiều điều hay, dù không hiểu hết nhưng bà
tỏ vẻ rất quí những điều Kinh Thánh dạy. Một
đặc điểm nổi bật trong nếp sống của gia đình
này là rất sùng bái thần thánh.
Ông bà Hải để nguyên
một phòng cạnh phòng khách làm nơi thờ tự.
Tại đây có nhiều bàn
thờ khác nhau với hàng chục hình tượng lớn,
nhỏ. Chung
quanh được giăng đèn kết hoa, lại dùng toàn
đèn đỏ khiến cho căn phòng đầy vẻ âm u bí
hiểm. Ðiều
làm cho tôi cũng như một số các con cái Chúa đến
thăm gia đình này cảm thấy buồn là, ngay tại
một đất nước văn minh kỹ thuật nhất thế
giới, trong một ngôi nhà khang trang, trông bên
ngoài không thua bất cứ một biệt thự nào
trong khu phố, nhưng bên trong lại có những con
người hiền lành, không tìm ra chân lý đến độ
phải thờ cúng biết bao hình tượng vô tri không
thấy, không nghe, không nói, y như Kinh Thánh mô
tả về hình tượng.
Dù
vậy, bản tâm ông bà Hải cởi mở cho nên để
con cái tự do chọn tín ngưỡng. Một
phần cũng vì lớn tuổi, ít được học hành,
trong khi đó con cái hầu hết đều đã thành tài
cho nên trong một số lãnh vực ông bà không có
ảnh hưởng đến con cái bao nhiêu. Chính
thái độ cởi mở của ông bà Hải đối với tôn
giáo đã giúp chúng tôi dễ chia xẻ về tình thương
và sự cứu rỗi của Chúa mà cả hai ông bà đều
sẵn lòng nghe.
Qua đời sống và những kinh nghiệm của
một con cái Chúa quen biết, ông bà Hải rất tin
tưởng vào sự cầu nguyện cho nên dù chưa công
khai tuyên xưng đức tin nhưng thường nhờ Hội
Thánh cầu nguyện cho sự học hành của con cái.
Mỗi lần thấy Chúa nhậm lời cầu
nguyện, ông bà lại dâng hiến tiền bạc cho
Hội Thánh, theo nếp suy nghĩ của nhiều người
Việt, trong tinh thần biết ơn đối với Ðấng
đã gia ơn cho mình. Thật ra đây là một thái độ
không đúng, củng cố cho một quan niệm cố
hữu vừa sai lầm vừa nguy hiểm khi chỉ thấy
Ðức Chúa Trời là một ông thần chuyên ban phước
hoặc giáng họa, và nhất là có thể được đền
đáp thậm chí mua chuộc bằng tiền bạc! Quan
niệm về Ðức Chúa Trờiø chỉ là Ðấng ban phước
và giáng họa trong cuộc đời trần gian thì
thật sai lạc.
Song song với quan niệm đó
về Ðức Chúa Trời là quan niệm về phẩm
chất đạo đức của cha mẹ, tô vẽ bằng lòng
thương con, tinh thần hy sinh lo lắng cho gia đình
là những điều được đương nhiên coi là cao
quí nhất trong bất cứ xã hội nào.
Kết hợp hai quan niệm này lại và nếu
thấy Ðức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu
đó, ban phước cho gia đình, phù hộ cho con cái
thì một người sẽ kết luận dễ dàng rằng Ngài
rất đáng tin thờ.
Ðây là âm mưu vô cùng thâm
độc của ma quỉ. Là
các hữu thể thần linh, ma quỉ có một số
quyền lực giới hạn, và với những quyền
lực đó, chúng cũng có thể ban phước và giáng
họa trong một mức độ giới hạn nào đó do Ðức
Chúa Trời qui định.
Những người ở trong
xiềng xích ma quỉ sẽ bị nó dùng phước họa
vật chất dẫn dụ.
Những người đến với Chúa do những động
cơ sai lạc trên, ma quỉ sẽ rất mừng.
Nó sẽ xui giục, khiến
cho người đó chỉ xin và trông mong những ơn phước
vật chất một cách dại dột và vị kỷ.
Vì Ðức Chúa Trời không phải là Ðấng
để con người lợi dụng như thế nên có
nhiều điều con người xin nhưng Chúa không cho.
Lúc đó ma quỉ sẽ nhảy vào lung lạc “đức
tin,” thậm chí nó còn ra tay “cứu độ”
một cách cụ thể hơn cả Ðức Chúa Trời, như
nó đã từng làm với hai con người đầu tiên.
Pháp chế của Ðức Chúa Trời không
những được minh thị ghi trong Kinh Thánh mà còn
được ghi khắc trong lương tâm con người.
Con người có bổn phận tôn thờ Chúa không
phải để đổi lấy những ơn phước vật
chất, nhưng sở dĩ con người phải tôn thờ Ðức
Chúa Trời vì Ngài là Ðấng Tạo Hóa, là Ðấng
cho con người hiện hữu, ban cho con người linh
hồn và sự sống. Ðiều
đầu tiên con người cần là xin Chúa tha thứ
khối lượng tội lỗi kinh khủng chất chứa
trong linh hồn từ bao nhiêu năm tháng qua.
Chỉ những người thấy rõ cái kinh khủng
của tội lỗi, nhất là tội không tôn thờ Ðấng
Tạo Hóa là Ðức Chúa Trời mà lại đi thờ
tạo vật, mới là người hiểu được lòng ăn
năn thật là gì.
Ông bà Hải có lòng tôn kính Chúa, nhưng
chỉ là lòng tôn kính đối với một ông thần
ban phước. Cả
hai vẫn cảm thấy việc thờ cúng hình tượng
chỉ là lòng mộ đạo, không thấy kinh khủng ghê
tởm như Lời Chúa dạy mà trái lại, còn có
vẻ hãnh diện về lòng mê tín của mình. Ở
trong sự tối tăm, bị ma quỉ là “chúa đời này”
làm mù mắt, mù lòng, họ không thể hiểu được,
cho nên khi ông bà Hải quyết định tin Chúa thì
dường như chỉ là tin thêm một vị thần nữa,
y như dân A-tên ngày xưa, thờ hàng trăm thần tượng
rồi mà còn sợ sót.
Với loại đức tin đó ông bà Hải đã đến
với Chúa, lại thêm chưa có cơ hội học biết
về Chúa qua Lời Kinh Thánh thì ma quỉ đã tấn
công tới tấp. Mấy
đêm liên tiếp ông Hải mất ngủ và ở trong tâm
trạng thường xuyên bất an.
Các con cái Chúa trong Hội Thánh thường
mời đi nhà thờ, nhưng hai ông bà cho biết chưa
sẵn sàng. Bà
cho biết còn có một vài việc chưa thu xếp xong,
nhưng không nói đó là việc gì.
Theo điều một con cái Chúa cho biết thì lý
do là vì “trong nhà còn nhiều bàn thờ quá, đợi
xong đám cưới con gái sẽ dẹp bàn thờ và lúc
đó đi nhà thờ mới yên tâm.” Khi
mục sư trở lại thăm thì thấy tình hình đổi
khác. Ông bà
vẫn ân cần tiếp đón, nhưng về sắc diện,
cả hai đều xuống thấy rõ.
Khi đề cập đến việc thờ phượng Chúa
thì bà đẩy qua ông.
Ông Hải với giọng rất ngại ngần cho
biết vì cả hai già rồi nên không muốn thay đổi
tôn giáo, mà chỉ mong cho các con cái theo Chúa, còn
ông bà muốn vẫn cứ giữ theo nếp thờ cúng cũ,
thờ cúng ông bà và các thánh thần như trước.
Khi được giải
thích, ông bà hiểu là phải thờ kính Ðức Chúa
Trời là Ðấng Tạo Hóa, Ðấng lớn hơn hết nhưng
vẫn không muốn dứt khoát với việc thờ hình
tượng. Khi
được hỏi có phải vì sợ không, thì ông xác
nhận là có, sợ thần thánh buồn.
Bà Hải kể lại cho biết nhiều chục năm
về trước, khi ông còn làm nghề đánh cá ở quê
nhà, có một lần bị bão chìm thuyền nhưng thoát
chết. Sau
đó ông đi coi bói để xem số mạng, thầy tướng
số cho biết ông phải thờ Quan Thánh thì mới
được yên ổn. Ông
Hải khởi sự thờ tượng Quan Vân Trường từ
đó, thêm vào với việc thờ cúng cả ông bà
tổ tiên và những thần tượng khác.
Có lẽ trong suy nghĩ của họ, càng thờ
nhiều chừng nào tốt chừng nấy chứ không có
hại gì. Càng
thờ nhiều, càng được nhiều thánh thần phò
hộ độ trì. Cứ
thế gia đình ông Hải ngày càng lậm sâu hơn
trong thói quen thờ cúng tà thần mà không thấy
nguy hiểm, dành riêng một phòng trong nhà để
dựng lên đủ loại bàn thờ, và khi được nghe
nói về Chúa ông bà đã sẵn lòng tin ngay, nhưng
có thể chỉ là theo dạng thức tin thờ như các
thần linh khác. Sau
khi ông bà Hải tiếp nhận Chúa Giê-xu, quyền
lực tối tăm phản ứng rất dữ dội.
Trước hết ông mất ngủ hai đêm liên
tiếp, sau đó rơi vào tâm trạng bất an, tranh
chiến trong lòng vì ma quỉ biết là nó có thể
sắp mất những người vốn đã từ lâu ở dưới
sự khống chế, áp bức của nó.
Khi mục sư đến thăm, sắc diện cả hai
đổi khác, hiện rõ vẻ lo lắng không dấu được.
Khi nói chuyện, ông tỏ vẻ lo sợ, và đến
cuối cùng thì ông đã xin trả lại quyển Kinh
Thánh được tặng khi tiếp nhận Chúa.
Dù đã được giải thích thần thánh chỉ
là vật thọ tạo, là ma quỉ, là các thiên sứ
sa ngã, trong khi Ðức Chúa Trời là Ðấng Tạo Hóa,
là Chân Thần, là Ðấng lớn hơn hết, và Chúa
Giê-xu mà ông bà đã đặt lòng tin cũng là Ðức
Chúa Trời là Ðấng mà khi nghe đến danh Ngài, “mọi
đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất
đều phải quì xuống,” ông Hải vẫn không
dứt được nỗi lo sợ vô hình đang vò xé tâm
can. Họ tin
nhận Chúa là Chân Thần, nhưng vẫn sợ ma quỉ.
Sau nhiều năm tháng thờ cúng tà thần,
những con người đơn sơ như ông bà Hải đã
bị cột trói, bị xiềng xích vào nếp sống nô
lệ tà linh đến nỗi không thể tự mình thoát
khỏi vòng xiềng xích đó nếu không được Chúa
cứu. Ðiều
đáng tiếc là họ đã không dứt khoát đặt lòng
tin nơi Chúa và Hội Thánh chỉ biết tiếp tục
cầu nguyện cho họ.
(Còn
tiếp) |
|
|
|