Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Thượng Ðế Thành Người

 

 

   

 

     

 

 

 

Giăng 1:1-14

 

Bấm máy điện thoại cầm tay, ngồi trước TV, lái xe đi làm, mở CD nghe nhạc…thế giới trong thế kỷ 21 tràn ngập những thành quả kỹ thuật kỳ diệu dường như đã làm chúng ta đánh mất đi ý thức biết ngạc nhiên trước những thành quả đó.  Ðầu thế kỷ 19, chính phủ Anh Quốc thành lập một ủy ban đặc biệt nghiên cứu về phương tiện lưu thông mới rất thần kỳ dùng các đầu máy hơi nước kéo những toa xe lớn chở hành khách.  Giáo sư William Farish của Ðại Học Cambridge đã đến tường trình trước Ủy Ban, tuyên bố rằng xe lửa sẽ khó đóng góp thêm nhiều cho việc vận chuyển, vì thân thể con người không chịu đựng nổi vận tốc nhanh hơn 48km/giờ!

Bây giờ thử tưởng tượng vị giáo sư đó sẽ nghĩ gì nếu sống trong thời đại chúng ta!  Có lẽ ông sẽ kết luận rằng đây là thế giới đầy ma thuật.  Tôi từng nghe kể lại mới chỉ cách đây khoảng 50 năm, đồng bào sắc tộc ở nước ta còn rất ngạc nhiên lần đầu thấy máy hát quay đĩa.  Họ đi vòng quanh, rồi nhìn xuống gầm bàn cố tìm xem ai là người đang ngồi hát.  Tìm không được, họ sợ hãi, vùng bỏ chạy!

Hiển nhiên một người sống ở các thế kỷ trước khó có thể nào quan niệm được những phương tiện sinh hoạt kỳ diệu trong nhà chúng ta hôm nay.  Chỉ cần xoay một cái nút, chúng ta làm cho căn nhà ấm áp giữa mùa đông giá lạnh hay mát mẻ suốt mùa hè oi bức.  Chỉ cần bật công tắc, chúng ta biến đêm thành ngày.  Chỉ cần nhấn nút, chúng ta nghe một dàn nhạc giao hưởng, xem một vở kịch, một cuốn phim hay nghe tường thuật các trận tranh tài thể thao, xem tin tức về những gì đang xảy ra trên khắp thế giới.  Chỉ cần nhắc điện thoại chúng ta có thể nói chuyện với một người ở bên kia đại dương.  Nhưng đối với chúng ta, tất cả những dụng cụ kỳ diệu đó trở thành quá thông thường, quá quen thuộc, đương nhiên và không đáng ngạc nhiên!  Hiển nhiên, càng ngày chúng ta càng thấy khó làm cho con người hiện đại kinh ngạc.

Dù vậy, không phải là đã hết những điều kỳ diệu, vì có những điều kỳ diệu muôn đời được công bố trong Kinh Thánh nhưng rất tiếc là ngày nay người ta không mấy quan tâm.  Một trong những điều kỳ diệu được ghi trong Phúc  Âm Giăng chương 1 đó là Ngôi Lời Nhập Thể, hay nói cách khác, Ðức Chúa Trời, Ðấng Tạo Hóa quyền năng vô hạn, vĩnh hằng trở thành một con người, sống và lớn lên ở một làng quê nhỏ bên Do Thái, làng Na-xa-rét.  Con người đó tên là Giê-xu. Trước khi trở thành người, Ngài là “Ngôi Lời” (Logos trong Hi-văn, là “Lời Nói” hay “Lời Phán.”)  Giăng viết như sau, “Ngôi Lời đã trở nên xác thể, ở giữa chúng ta, đầy ân sủng và chân lý;  chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha.”

Ðây là một trong những câu Kinh Thánh tín hữu từng nghe đi nghe lại nhiều lần đến nỗi ngày nay khi đọc lên chúng ta không còn thấy được điều kỳ diệu hàm chứa trong đó.  Xin hãy dừng lại suy nghiệm sự kiện này:  Ðức Chúa Trời đã trở thành một người!  Một mục sư từng nói điều này với một đạo sĩ Ấn độ và bị  ông ta phản đối ngay, “Làm sao chuyện đó xảy ra được?” Vị mục sư bình tĩnh trả lời, “Con người không thể trở thành Thượng Ðế, nhưng Thượng Ðế toàn năng có thể trở thành người, và Ngài đã quyết định làm điều đó cách đây hai nghìn năm.”

Thật ra khái niệm nhập thể hay là thần linh trở thành người  không phải là điều hoàn toàn xa lạ đối với tâm trí con người, kể cả những con người từ thời cổ đại.  Chúng ta có thể thấy khái niệm này trong các tôn giáo đông phương:  Ấn độ giáo, Phật giáo, Thần đạo, Hồi giáo…  Ngày nay, khái niệm này được nhiều người biết đến, tuy không có gì bảo chứng nhưng vẫn tin như hiện tượng phật sống hay Ðạt-lai-lạt-ma của Tây Tạng đã nhiều năm sống lưu vong ở nước ngoài từ khi Tây Tạng  bị Trung Quốc xâm lăng.  Ông được nhiều người tin là hóa thân của Phật.  Thần thoại trong Ấn-độ giáo cũng cho rằng có các vị thần linh avatar sống trên thế gian trong hình thể con người. 

Khác với tất cả những truyền thuyết có tính cách thần thoại trên, sự nhập thể của Ngôi Lời trong Cơ-đốc Giáo là một sự kiện lịch sử và Chúa Giê-xu là Ngôi Lời nhập thể hơn hai nghìn năm qua trong đêm Giáng Sinh.  Ngôi Lời  hay logos đơn giản có nghĩa là lời nói hay lời phán (của Ðức Chúa Trời).  Thánh Giăng đã viết như sau, “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi lời ở cùng Ðức Chúa Trời và Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời.  Ban đầu Ngài ở cùng Ðức Chúa Trời.  Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.”

Trong những lời trên, hiển nhiên Giăng xác định Ngôi Lời chính là Ðức Chúa Trời.  Ðối chiếu với chương đầu sách Sáng Thế Ký, chúng ta thấy Ðức Chúa Trời đã tạo dựng thế giới từ giữa hư vô toàn bằng lời phán: “Ðức Chúa Trời phán rằng, phải có sự sáng, thì có sự sáng…” Như vậy Ngôi Lời hay Lời Phán của Ðức Chúa Trời thể hiện chính Ðức Chúa Trời đầy quyền năng,  Ðấng đã sáng tạo vũ trụ qua Lời Phán.

Ðể có thể hiểu khái niệm này, chúng ta liên hệ đến lời nói của con người.  Lời nói một người thể hiện chính người đó.  Một lĩnh tụ có uy quyền, lời nói của người đó mang đầy đủ uy quyền không kém.  Mệnh lệnh của một tướng lãnh có thể điều động cả một binh đoàn.  Án lệnh của thẩm phán quyết định số phận của phạm nhân.

Giăng viết tiếp như sau, “Ngôi Lời đã trở nên xác thể, ở giữa chúng ta đầy ân sủng và chân lý; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha.  Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Ấy là về Ngài mà ta đã nói:  Ðấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta.  Vả bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được và ơn càng thêm ơn.  Vì luật pháp đã ban cho bởi Môi-se, còn ân sủng và chân lý bởi Chúa Cứu Thế Giê-xu mà đến.  Chẳng hề ai thấy Ðức Chúa Trời, chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Ðấng giãi bày Cha cho chúng ta biết.”

 

Chúa Cứu Thế Giê-xu

Là Ai?

Trước khi nhập thể nghĩa là trước khi mang thân xác con người, Chúa Giê-xu là Ngôi Lời, là Lời phán của Ðức Chúa Trời, Ngài ở cùng Ðức Chúa Trời.  Ngôi Lời đồng đẳng, đồng quyền, đồng hiện hữu với Ðức Chúa Trời từ trước vô cùng.  Ðức Chúa Trời có danh hiệu là Ðấng Tự Hữu Hằng Hữu (Yahweh - Giê-hô-va) nghĩa là Ðấng tự có và còn đến đời đời.  Ngôi Lời cùng chia xẻ tất cả những thuộc tính đó của Ðức Chúa Trời cho nên Giăng đã khẳng định rằng Ngôi Lời cũng chính là Ðức Chúa Trời.  Một tà giáo xuất phát từ Hoa Kỳ là Chứng Nhân Giê-hô-va đã phủ nhận điều này, không thừa nhận Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời, cho nên đã dịch Giăng 1:1 trại đi, bảo rằng Ngôi Lời chỉ là một thần linh thọ tạo (a god).

Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Ngôi Lời hiện thân.  Ngài đã mượn lòng trinh nữ Ma-ri ở một làng quê Do Thái, sinh ra như một hài nhi, lớn lên tại Na-xa-rét, sống với mẹ và cha nuôi là ông Giô-sép, làm nghề thợ mộc.  Ngôi Lời đã trở thành người không chỉ mang hình ảnh con người là ảo thân như một số tà giáo chủ trương nhưng là một người thật, một người hoàn toàn, hơn nữa một người vô tội.  Không có một con người nào tinh sạch như Chúa Giê-xu,  không có một con người nào toàn hảo như Chúa Giê-xu.  Ngài vốn là Ngôi Lời, Ngài vốn là Ðức Chúa Trời nhưng Ngài đã trở thành người, với tất cả những giới hạn của con người.  Ngài biết mỏi mệt, đói khát.  Ngài vui, Ngài buồn, Ngài khóc và có lúc giận.  Ngài trở thành người không chỉ trong một giai đoạn, nhưng thành người vĩnh viễn.

Chính trong  những năm tại thế, Ngài sống như một người bình thường nhưng cũng đồng thời minh chứng Ngài là Ðức Chúa Trời qua những phép lạ, những việc quyền năng phi thường ghi trong các sách Phúc Âm.  Người đương thời từng công nhận như thế như lời luật gia Ni-cơ-đem, “Tôi biết thầy là giáo sư từ Ðức Chúa Trời đến, vì những phép lạ thầy làm đó, nếu Ðức Chúa Trời chẳng ở cùng thì không ai làm được” (Giăng 3:2).  Chính Chúa Giê-xu cũng đã viện dẫn những phép lạ Ngài làm để con người tin rằng Ngài đến từ Thượng Ðế, “…dầu các ngươi chẳng tin ta, hãy tin những việc ta, để các ngươi hiểu và biết rằng Cha ở trong ta và ta ở trong Cha” (Giăng 10: 38).  Sau khi bị con người vu cáo, Ngài bị bắt, bị kết án, bị giết trên thập hình.  Người ta đem chôn Ngài trong mộ đá, niêm phong rất chắc chắn.  Nhưng đến ngày thứ ba Ngài đã đạp tung xiềng xích của sự chết, thi thố quyền năng tối thượng của Ðức Chúa Trời và phục sinh vinh quang.  Sau khi ở với môn đồ 40 ngày, minh chứng cho họ Ngài đã sống, Chúa Cứu Thế Giê-xu thăng thiên, ngồi bên hữu ngai Ðức Chúa Trời trong thân xác phục sinh vinh hiển. 

Tại sao Ngài trở thành người?  Ðây là một câu hỏi quan trọng, một trong những  câu hỏi quan trọng nhất.  Mục Sư Billy Graham có lần dắt con dạo chơi trong vườn, vô ý dẫm phải một tổ kiến.  Tổ vỡ, kiến chạy tán loạn.  Con nhìn kiến rồi nhìn cha hỏi thật ngây thơ, “Làm sao giúp kiến xây lại tổ hở ba?”  Ông điềm tĩnh trả lời, “ba phải trở thành kiến mới có thể giúp nó được con ạ!”  Nhưng đó chính là điều Ðức Chúa Trời đã làm trong chương trình cứu chuộc loài người.  Ngôi Lời phải nhập thể.  Ðức Chúa Trời phải trở thành người.

Trở lại với những chân lý quan trọng Giăng nêu lên trong phần tiểu dẫn.  Trước hết ông khẳng định, “Ban đầu có Ngôi Lời” nghĩa là Ngôi Lời đã hiện hữu từ ban đầu.  Theo H. Bietenhard, từ ngữ “ban đầu” ở đây là một khái niệm quan trọng trong triết học Hy-lạp, kết hợp với động từ “en” trong văn phạm Hy lạp mà chúng ta dịch là “có” chỉ thị một sự hiện hữu vĩnh hằng trước cả buổi ban đầu, trước cả buổi sáng thế, chỉ thị khoảng trống mênh mông vô hạn của cõi vĩnh hằng, có thể nói đó là “từ trước vô cùng.”  Ðức Chúa Trời là Ðấng vô thủy vô chung và Ngôi Lời đồng hiện hữu với Ðức Chúa Trời trong cõi vô thủy vô chung đó.  Nói cách khác, lúc nào cũng có Ðức Chúa Trời và lúc nào cũng có Ngôi Lời.

Chân lý quan trọng thứ hai Giăng nêu lên cũng trong câu 1 và nhắc lại trong câu 2  “Ban đầu Ngài ở cùng Ðức Chúa Trời.  Ngôi Lời “ở cùng” Ðức Chúa Trời, kết hợp trong mối tương giao gắn bó mầu nhiệm mà tâm trí con người không thể hiểu thấu.  Khía cạnh quan trọng của chân lý này là ở chỗ Giăng phân biệt Ðức Chúa Trời và Ngôi Lời.  Ngôi Lời ở cùng Ðức Chúa Trời.  Ngôi Lời không tan biến hay hòa lẫn trong Ðức Chúa Trời nhưng là một Ngôi Vị tương đồng và cộng đồng hiện hữu.

Chân lý quan trọng thứ ba là trong câu 3 “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.”  Chân lý này  khẳng định Ngôi Lời là Tạo Hóa,   Ngài không phải là một tạo vật trung gian hay là “Thợ Cả” như danh hiệu một tà giáo gán ghép cho Ngài, vì Ngài là Ðức Chúa Trời và vốn hiện hữu từ trước vô cùng như Ðức Chúa Trời. 

Hiển nhiên tất cả những chân lý này liên quan chặt chẽ với giáo lý Ðức Chúa Trời ba ngôi, nghĩa là Ðức Chúa Trời là một nhưng Ngài thể hiện ra trong ba ngôi vị và cả ba ngôi vị Ðức Chúa Cha, Ðức Chúa Con và Ðức Thánh Linh kết hợp một cách mầu nhiệm trong một Ðức Chúa Trời là chân thần duy nhất.  Tâm trí hữu hạn của con người không thể hiểu hết về Ðấng vô hạn.  Con người là tạo vật không thể hiểu hết về Ðấng tạo dựng nên mình.  Tuy nhiên Ðức Chúa Trời khi tạo dựng, đã ban cho con người khả năng suy tìm hướng về nguồn cội của chính mình là Ðức Chúa Trời.  Khái niệm về Ðức Chúa Trời ba ngôi đối với tâm trí con người mới nhìn có vẻ phi lý, tuy nhiên chúng ta có thể dùng một vài hình ảnh thô thiển ngay trong thiên nhiên để có thể hiểu phần nào rằng khái niệm Ðức Chúa Trời ba ngôi không hoàn toàn khó hiểu đến độ vô lý như có người đã kết luận.  Nước là một trong những nguyên tố có sớm nhất trên địa cầu thể hiện ra trong ba trạng thái khác nhau: thể đặc là nước đá, thể lỏng là nước thường và thể hơi là hơi nước.  Tất cả đều là H2O.   Một thí dụ khác.  Khi chúng ta đưa một thỏi sắt vào lò nung đỏ lên chúng ta sẽ có ba yếu tố khác nhau nhưng không thể tách rời: trước hết là thỏi sắt, thứ hai là hơi nóng tỏa ra và thứ ba là ánh sáng. Cả ba yếu tố đó kết hợp trong một thỏi sắt độc nhất. Hình ảnh tương tự khác là mặt trời, ánh sáng và hơi nóng.  Cả ba phân biệt nhưng ở trong một mặt trời. Những hình ảnh trên giúp chúng ta có thể hiểu phần nào khái niệm Ngôi Lời phân biệt với Ðức Chúa Trời nhưng Ngôi Lời cũng là Ðức Chúa Trời.  Nói cách khác Chúa Giê-xu là người nhưng cũng chính là Ðức Chúa Trời và danh hiệu “thần nhân” chỉ thị Chúa Giê-xu có lẽ là ngắn gọn nhất. 

Như vậy, chúng ta tiến đến khái niệm quan trọng hơn hết phát biểu rằng chính Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời đó đã nhập thể, nghĩa là mặc lấy xác thân và trở thành người, trở thành một con người như chúng ta, nhưng là một con người thánh khiết, toàn hảo.  Trong câu 14, sứ đồ Giăng viết, “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta đầy ân sủng và chân lý; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài , thật như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha.”  Giăng đã sử dụng từ ngữ rất cẩn trọng.  Ông không bảo rằng “Ngôi Lời trở nên một người” nhưng bảo rằng “Ngôi Lời trở nên xác thịt” nghĩa là khía cạnh thể chất, xương thịt của Ngài được nhấn mạnh.  Ngôi Lời không chỉ có hình dáng một người, không chỉ là ảo thân như tà giáo Cơ-đốc Khoa Học chủ trương, nhưng Ngài thật là một người bằng xương bằng thịt.  Hơn nữa Ngài đã được sinh ra như một người và lớn lên như Lu-ca mô tả, “Ðức Chúa Giê-xu khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Ðức Chúa Trời và người ta.”

Chúa Giê-xu không chỉ là người về phương diện thể xác mà thôi, nhưng Ngài là người từ trong ra ngoài.  Ngài không chỉ trở thành người tạm thời, nhưng Ngài vĩnh viễn trở thành người từ ngày Ngài nhập thể.  Sau khi chịu đóng đinh trên thập hình, dâng chính Ngài làm sinh tế chuộc tội cho loài người, Ngài đã phục sinh, thăng thiên và hiện nay ngồi bên hữu Ðức Chúa Cha cũng trong thân xác phục sinh vinh hiển đó.

Ngôi Lời vốn ở cùng Ðức Chúa Trời đã bằng lòng bước vào trần gian, vĩnh viễn trở thành người, nhưng Ngài cũng vẫn là Ðức Chúa Trời.  Ngài luôn luôn hoàn toàn là Ðức Chúa Trời nhưng đồng thời Ngài cũng hoàn toàn là người và Ðấng Thần Nhân là “thuật ngữ thần học” để chỉ Chúa Cứu Thế Giê-xu.  Ðây là một mầu nhiệm con người không thể hiểu được, tuy nhiên chính vì vậy Ngài mới có thể là Ðấng Trung Bảo duy nhất giữa con người và Ðức Chúa Trời.  Là Ðấng Thần Nhân, Chúa Giê-xu là cây cầu duy nhất đem con người đến với Ðức Chúa Trời như lời Ngài tuyên bố, “Ta là con đường, chân lý và sự sống, không bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.”  Ðó là lý do Ngài nhập thể để đem con người đến với Ðức Chúa Trời “ngang qua xác Ngài” nghĩa là qua sự chết chuộc tội cho con người (Hê-bơ-rơ 10:19,20.)  Con người tội lỗi không thể đến gần Ðức Chúa Trời.  Tội lỗi phải được xóa bỏ bằng án phạt,  sinh tế phải chết, huyết phải đổ ra mới có thể chuộc tội được và đó là huyết Chúa Giê-xu, huyết của Ngôi Lời nhập thể đổ ra trên thập hình.

Không có một giáo chủ nào trên trần gian giống như Chúa Giê-xu, không có tình thương nào kỳ diệu như thế.  Ngôi Lời đã đi một chặng đường thật xa, đã chấp nhận một thân phận thấp hèn, vô cùng giới hạn trong thân xác để đem tội nhân, là bạn và tôi đến với Ðức Chúa Trời.  Và đó là ý nghĩa cứu rỗi trong biến cố nhập thể, Thượng Ðế trở thành người.

Tất cả những gì Ðức Chúa Trời đã làm trong biến cố nhập thể đều vô ích nếu bạn không đáp ứng. Chỉ ngồi chiêm ngưỡng liều thuốc trường sinh sẽ chẳng ích lợi gì.  Bạn phải uống liều thuốc đó.  Ðức Chúa Trời đã phải mang lấy thân xác con người, từ trời bước xuống trần gian để bạn có thể đến với Ngài, không đến bằng những bước chân hành hương hay bằng công quả, nhưng bằng tấm lòng tin cậy chân thành. Kinh Thánh chỉ rõ phương cách ấy, “Vì Ðức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy, không bị hư vong mà được sự sống vĩnh hằng.”  Và đây là lời cảnh cáo, “Ai tin Con thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con thì không thấy sự sống đâu nhưng cơn giận của Ðức Chúa Trời vẫn ở trên người đó” (Giăng 3:16,36).  Mong bạn sẽ tin rằng Chúa Giê-xu chính là Ðức Chúa Trời nhập thể, đã nhận án chết trên thập hình thay cho bạn.  Tin như vậy, bạn được Ðức Chúa Trời tha thứ, phục hồi, và không còn ở dưới cơn giận của Ngài.  Cuộc đời của bạn sẽ vĩnh viễn thay đổi. Nhưng nếu không tin, bạn có lý do nào biện minh cho quyết định từ khước của mình không?

Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh