![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Nhận Ðịnh |
|
|
|
Sức Nâng Của GióVà
100 Năm Ngành Hàng Không Con
người có thể đi, chạy, nhẩy, leo trèo và
nếu chịu khó tập, có thể bơi lội trong nước.
Nhưng con người có thể bay được không?
Cách đây 100 năm Orville và anh là Wilbur
Wright đã trả lời “được” cho câu hỏi này. Với
khả năng đặc biệt về cơ khí, và sau nhiều
năm tự tìm tòi nghiên cứu, thí nghiệm với các
loại diều lướt gió (glider), hai anh em Wright
đã tự làm chiếc máy bay thành công đầu tiên
với chi phí chưa đến 1,000 đô-la.
Ngày 17/12/1903, Orville điều khiển chiếc
máy bay mỏng manh, nặng khoảng 750 cân Anh, có
sải cánh 12 mét làm bằng khung gỗ và vải
muslin, với sức đẩy do một động cơ nổ 12
mã lực tự tạo, cất cánh từ một bãi cát
ở Kitty Hawk, tiểu bang North Carolina và bay được
37 mét trong 12 giây.
Cũng trong ngày hôm đó, hai anh em Wright đã
cất cánh thêm ba lần nữa. Lần lâu nhất do
anh Wilbur điều khiển, bay được 260 mét trên
không trong 59 giây. Thời
gian và quãng đường của những chuyến bay đầu
tiên này không đáng kể so với khái niệm quan
trọng hơn anh em Wright khẳng định với thế
giới đó là con người có thể tạo ra phương
tiện để di chuyển trong không khí.
Nói cách khác, con người có thể bay. Kết
quả là chỉ trong mười lăm năm tiếp theo đó
thành công của chiếc “máy bay” đầu tiên
đã kích thích “khát vọng muốn bay” của
con người và
đã thúc đẩy con người có những nỗ lực vượt
bực cải thiện kỹ thuật sản xuất máy bay.
Trong thời gian thế chiến thứ nhất từ
1914-1918, các nhà máy ở Pháp, Ðức, Anh và
Mỹ đã cho xuất xưởng tổng cộng hơn 200,000
chiếc máy bay khá nhiều hạng loại. Giai
đoạn kế tiếp từ 1919 - 1930 nhiều phát minh,
sáng kiến, cải thiện đóng góp trong kỹ
nghệ hàng không khiến người ta có thể bay quãng
đường rất xa như James Doolittle vào năm 1922
đã bay xuyên lục địa Bắc Mỹ mất chưa đến
24 giờ, và năm 1929 có thể bay “mù” nghĩa là
hoàn toàn dựa vào phi cụ từ lúc cất cánh đến
khi hạ cánh. Từ
năm 1931 đến 1957 là giai đoạn đột phá của
ngành hàng không.
Thế chiến thứ hai, tiếp nối với
chiến tranh lạnh đã khiến cho các nước kỹ
nghệ hóa phát triển tối đa ngành hàng không
để đưa vào sử dụng những máy bay quân sự
có khả năng bay nhanh hơn với tầm hoạt động
xa hơn, khởi đầu kỷ nguyên máy bay với động
cơ phản lực đạt vận tốc vượt tường âm
thanh. Năm
1957 cũng là năm hãng Boeing tung ra thị trường
máy bay Boeing 707, thiết định tiêu chuẩn cho
ngành hàng không dân dụng thế giới hiện đại.
Từ
1958 đến nay, máy bay, phi thuyền, hỏa tiễn,
vệ tinh cùng chia xẻ một không gian đã bắt
đầu trở nên chật hẹp.
Những tiến bộ kỹ thuật trong ngành hàng
không đã giúp con người sản xuất ra đủ
loại máy bay dùng cho những mục tiêu khác nhau,
vận tải, chiến đấu, khoa học... Những
chiếc máy bay thần kỳ, nhất là những máy
bay quân sự có thể bay nhanh hơn vận tốc âm
thanh, bay cao vượt tầm hỏa tiễn phòng không.
Những oanh tạc cơ và chiến đấu cơ
phản lực siêu thanh “tàng hình” như chiếc
F/A 22 Raptor trị giá đến 120 triệu đô-la, có
hình dáng góc cạnh và những lớp sơn đặc
biệt radar không thể phát hiện sẽ được không
lực Mỹ dự trù đưa vào sử dụng trong năm
2005. Một
trăm năm trước, chiếc máy bay đầu tiên chở
được một người, bay một khoảng ngắn 37 mét
trong một khoảnh khắc 12 giây.
Ngày nay người ta dự định bay thử vào
năm 2005 chiếc Airbus 380 nặng hơn một triệu cân
Anh, chở được 550 hành khách (820 nếu xếp
ghế đồng hạng) và tầm hoạt động hơn 9000
dậm Anh. Với
kích thước đó chúng ta có thể mường tượng
Airbus 380 là một khách sạn ba tầng bay trên không. Từ
rất lâu con người đã quan sát loài chim bay lượn
nhẹ nhàng trên
bầu trời bao la và mong ước có thể “cất cánh
bay cao như chim ưng.”
Con người lần hồi khám phá ra rằng
chim bay được nhờ đôi cánh.
Ðức Chúa Trời đã tạo nên cánh chim có
một cấu trúc đặc biệt với độ dầy và
cong ở viền cánh để tạo sức nâng và
khiến động tác vỗ cánh tạo sức đẩy.
Chiếc Boeing 747 chở hành khách lớn
nhất hiện nay nặng hơn 800,000 cân Anh được
nâng trong không khí là nhờ áp suất không khí
tác dụng vào sải cánh dài 211 bộ.
Ðộ cong của mặt trên cánh máy bay gây
chênh lệch áp suất không khí lúc máy bay di
chuyển trên đường băng, tạo ra lực nâng vào
mặt dưới hai cánh.
Tốc độ di chuyển càng cao, lực nâng
của không khí càng lớn cho đến lúc lực nâng
lớn hơn trọng lượng máy bay, hiện tượng
cất cánh xảy ra.
Lúc đó máy bay được nâng bổng lên
khỏi mặt đất và lực đẩy của động cơ
khiến máy bay lướt đi trong đệm không khí.
Ðức Chúa Trời đã dùng không khí để
nâng cánh chim và Ngài cũng đã và đang dùng không
khí để nâng cánh hàng trăm nghìn máy bay đủ
loại trên bầu trời. Ðức
Chúa Trời tạo dựng con người khi sinh ra là
một tạo vật nhỏ bé, mỏng manh yếu ớt hơn
hầu hết các loài động vật.
Con người trưởng thành không có cánh,
không vây, không sừng, không nanh vuốt, không có
sức mạnh như sư tử, không chạy nhanh như
ngựa, không bơi lặn như cá, không bay được
như chim nhưng được
Ðức Chúa Trời ban cho khả năng quản trị muôn
loài! Ðức
Chúa Trời phú ban cho con người trí thông minh
và khả năng sáng tạo - như chính Chúa là Ðấng
Tạo Hóa. Ðây chính là điều Kinh Thánh bảo
rằng Ðức Chúa Trời tạo dựng con người “như
hình Ðức Chúa Trời“ (Sáng Thế Ký 2:26,
27), không giống về vóc dáng vì Ðức Chúa
Trời là Thần, nhưng giống khả năng sáng
tạo và quyền quản trị muôn loài.
Lệnh truyền của Chúa trong Sáng Thế Ký
1:28b là “hãy làm cho đất phục tùng, hãy
quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên
trời cùng các vật sống hành động trên mặt
đất.” Ngày
nay không ai có thể phủ nhận những sự kiện
này. Con
người còn giống Ðức Chúa Trời ở ý thức
đạo đức (Sáng Thế Ký 3:22), có lương tri,
biết phân biệt đúng sai, phải trái, trong khi
loài vật chỉ sinh tồn theo bản năng: đói ăn,
khát uống, mạnh được, yếu thua.
Tuy
nhiên nét đặc trưng nơi con người giống Ðức
Chúa Trời quan trọng hơn cả là tính vĩnh
hằng, như Chúa là Ðấng vĩnh hằng.
Con người được Ðức Chúa Trời tạo
dựng để sống đời đời mà cái chết chỉ
là kết thúc giai đoạn I, giai đoạn tạm
thời trên trần gian.
Từ biệt thế giới, con người sẽ bay
bổng sang cõi vĩnh hằng.
Trong
ý nghĩa đó, con người thật ra đã có thể
“bay” từ khởi thủy, “bay” từ đất đến
tận trời, bay từ cõi hữu hình sang cõi vô hình,
bay từ những hầm hố thấp thỏi đau thương
của trần gian đến tấm lòng cao cả dịu êm
của Ðức Chúa Trời.
Ðức Chúa Trời ban khả năng này để
con người có thể tương giao với Ðức Chúa
Trời bằng cách tạo một khoảng trống trong
linh hồn con người, khoảng trống lớn đến
nỗi chỉ có thể lấp đầy bằng chính Chúa.
Ðiều đáng tiếc là khoảng trống dành
cho Ðức Chúa Trời đã bị ma quỉ và chính
con người dành để chất chứa tội lỗi và
tham dục. Những
thứ này rất nặng, trì kéo, cột chặt con người
vào trần gian, và lần hồi có thể dìm con người
chìm xuống tận đáy địa ngục trong cõi vĩnh
hằng. Chỉ
khi tội lỗi bị tiêu trừ bằng huyết chuộc
tội của Chúa Giê-xu, khoảng trống đó mới
được phục hồi. Ðối với con dân Chúa, khoảng trống trong lòng, sẽ tạo ra tình trạng chênh lệch áp suất - khi khoảng trống lớn đủ, khi những khao khát tâm linh về Chúa mạnh hơn những khát khao của bản ngã, của trần gian, người tin Chúa sẽ được nâng bổng lên, sẽ cất cánh “bay cao như chim ưng” để có thể tiếp tục cuộc lữ hành trên trần gian mà không mòn mỏi, không mệt nhọc (Ê-sai 40:31) Thông
Công |
|
|
|