Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Qui Luật của Sự   Sống Trong  Hội  Thánh

 

 

   

 

     

 

 

 

 

 

Trong mùa Phục Sinh, chúng ta thường suy niệm về sự sống mới trong đời sống tín hữu.  Nhưng chúng ta cũng cần đi thêm một bước nữa nối kết sức sống tín hữu với sức sống Hội Thánh, vì tín hữu ở ngoài Hội Thánh hay ở trong mà tách rời Hội Thánh là tình trạng không phù hợp với những chân lý Chúa dạy về Hội Thánh: gốc nho và nhánh nho, chi thể và thân.  Chính sự sống của Chúa phục sinh trong tín hữu đem sức sống cho Hội Thánh vẫn được gọi là một cơ thể sống mà Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đầu.  Sức sống trong Hội Thánh được thể hiện ra nhiều cách và khía cạnh thường được trưng dẫn nhất là sự hiệp một và tình yêu thương. Tuy nhiên trong thực tại của một số Hội Thánh, đây lại là hai đặc điểm khó khẳng định nhất.  Như vậy có còn cách nào xác định “sự sống” trong Hội Thánh không?

Nếu coi Hội Thánh là một “sinh thể” (organism) như các vật sống thì dấu chỉ sự sống hiển nhiên nhất là tăng trưởng và sinh sản.  Sinh thể đơn giản nhất là tế bào.  Khi trưởng thành, tế bào sẽ tự phân đôi.  Loài vật trưởng thành đẻ trứng, sinh con.  Cây cối trưởng thành ra hoa, kết hột và chu trình của sự sống tiếp diễn.  Tuy nhiên, đối với con người, kinh nghiệm sinh nở là một kinh nghiệm hãi hùng với những cơn đau quặn thắt, dồn dập.  Phải chăng vì thế mà nhiều Hội Thánh tránh né sinh sản?

Hội Thánh bao gồm những người tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu và “được gọi ra khỏi” thế gian.  Sống quây quần với nhau trong cuộc sống mới, trong một cộng đồng yêu thương, khác hẳn với những cộng đồng bên ngoài, khuynh hướng thông thường là muốn giữ mãi tình trạng “son trẻ” đó, không muốn sinh con vì sợ nỗi đau đớn phải chia lìa.  Đối với một sinh thể, không sinh nở, không kết quả, không tăng trưởng là một tình trạng bất bình thường báo hiệu một sức khoẻ “có vấn đề!”

Trong nguyệt san Alliance Life số tháng Tư, 2003, trong mục xã luận tựa đề “Đường Lối Hay Nhất – Lập Hội Thánh đưa người đến  với Chúa Cứu Thế” (The Best Way – Planting churches brings people to Christ), Mục Sư Peter Nanfelt, Hội Trưởng Tổng Hội C&MA trích dẫn tiến sĩ Peter Wagner, chiến lược gia về Hội Thánh Tăng Trưởng và nguyên giáo sư Trường Truyền Giáo Thế Giới của chủng viện Thần Học Fuller đã mô tả công tác mở hội thánh mới là “phương pháp truyền giáo vĩ đại nhất dưới trời.”  Mục Sư Nanfelt nêu lên nhận định thông thường cho rằng khi nói đến chiến lược truyền giáo là người ta nghĩ đến những phương pháp chứng đạo cá nhân, mà ít khi cho rằng mở hội thánh mới là chiến lược truyền giáo.  Nhưng đây lại là chiến lược của Hội C&MA, không chỉ trong nội địa Hoa Kỳ mà nhất là ở hải ngoại.

Khi một hội thánh đã trưởng thành quyết định “mở hội thánh mới” hay nói cách khác, quyết định “sinh con,” trước mắt sẽ có nhiều đau đớn khi nhân sự, tài nguyên…bị cắt chia.  Hội thánh “mẹ” tưởng chừng như bị hụt hẫng, mất mát, thất thoát nhân, vật lực… nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả chỉ trong một thời gian ngắn vì sau đó, niềm vui lớn hơn và lâu dài hơn sẽ đến.  Sức khoẻ của Hội Thánh “mẹ” không chỉ phục hồi mà còn sung mãn hơn.  

Ngay sau khi “sinh,” cả hai hội thánh “mẹ” và nhất là “con” đều phải gia tăng nỗ lực làm chứng, truyền giảng, chăm sóc để tăng trưởng.  Chính vì thế, đến cuối cùng cả hai sẽ được tưởng thưởng.  Trước đây chỉ có một dàn nhân sự, từ khi mở thêm hội thánh mới công trường thuộc linh có thêm một dàn nhân sự nữa.  Những nhân tố trước đây đứng ở lực luợng trừ bị thì bây giờ có thể nắm giữ những vai trò then chốt trong Hội Thánh mới.  Những nhân sự trong Hội Thánh mẹ ra đi phiêu lưu trong việc mở Hội Thánh “con” cũng sẽ được Chúa ban cho những kinh nghiệm đức tin mới.  Những nhân sự ở lại cũng được trui rèn thêm để thích ứng với tình thế mới.

Tất nhiên cá nhân tín hữu là những người trực tiếp đến với cộng đồng nhưng nguyên tắc cơ bản là những tín hữu đó phải gắn bó với hội thánh địa phương, được hội thánh địa phương nuôi  dưỡng, huấn luyện, trang bị và sai phái để có thể “ra đi và kết quả.”  Trước khi về trời Chúa Giê-xu ban đại mạng lệnh “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ Ta.  Hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh mà làm báp-tem cho họ và dạy họ giữ tất cả mọi điều ta đã truyền cho các ngươi và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.”   Có người cho rằng đây cũng là mạng lệnh cho cá nhân tín hữu.  Tuy nhiên đúng hơn, chúng ta phải hiểu rằng đây là mạng lệnh cho Hội Thánh, vì Chúa truyền cho tập thể các sứ đồ vàø chỉ ít ngày sau đó trong lễ Ngũ Tuần, họ đã thành lập Hội Thánh địa phương đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem, và từ đó đạo Chúa lan ra, lan ra đến đâu, Hội thánh được thành lập đến đó.  Mạng lệnh này trên hết là cho Hội Thánh và phải là kim chỉ nam cho những tôi tớ, con cái Chúa lãnh đạo Hội Thánh địa phương.

Trong tâm trí của Phao-lô khi viết về Hội thánh, ông nghĩ đến hội thánh/các nhóm tín hữu tại các địa phương với những tên chúng ta đã quen tai, Hội Thánh Cô-rinh tô, Hội Thánh Giê-ru-sa-lem, Hội Thánh Ê-phê-sô, Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca, Hội Thánh Cô-lô-se… Những ân tứ Thánh Linh sứ đồ Phao-lô nói đến trong I Cô-rinh-tô đoạn 12 được hứa ban cho những thành viên trong Hội Thánh địa phương để phục vụ trong Hội Thánh địa phương.  Hội Thánh địa phương cũng được ví là thân thể Chúa, Ngài là Đầu và Ngài yêu Hội Thánh đến nỗi “phó chính Ngài vì Hội Thánh.”   Các tín hữu được ví là các chi thể trong thân là Hội Thánh.  Hiển nhiên Hội Thánh địa phương là những thành lũy của Nước Trời trong trần gian.  Đó là trung tâm huấn luyện, là bản doanh truyền giáo, là nhà trẻ, nhà thương, là pháo đài và tất nhiên cũng là mục tiêu tấn công của ma quỉ.  Vì vậy bằng mọi giá con dân Chúa cần phải

1.  Giữ mình gắn bó với Hội Thánh địa phương để được nuôi dưỡng, bảo vệ, huấn luyện, trang bị để có thể đưọc sai phái, trở thành dụng cụ hữu hiệu cho Chúa trong trần gian.

2.  Không bao giờ nên nói hay làm điều gì tổn hại cho Hội Thánh địa phương, tôn trọng trật tự và mọi thẩm quyền trong Hội Thánh.

3.  Giữ đúng thứ bậc và sử dụng mọi ân tứ Chúa ban- nếu không muốn mất - để góp phần xây dựng lẫn nhau trong Hội Thánh

Những điều trên tuy đơn giản và hiển nhiên, nhưng trong thực tế đôi khi rất khó thực hành, nhất là đối với một số các tín hữu có trình độ học thức, có địa vị xã hội, có một chút kiến thức Kinh Thánh, và nếu thêm vào một chút khác ý, một chút thành kiến với người hầu việc Chúa thì nan đề sẽ xuất hiện, nhất là trên vùng đất mà “tự do và dân chủ” được coi là chân lý, dù không nhất thiết là chân lý Kinh Thánh.

Điểm cuối cùng chúng ta cần nêu lên ở đây trong mùa Phục Sinh và trong những tháng chuẩn bị cho Hội Đồng Giáo Hạt lần thứ 29 với chủ đề “Hoàn Tất Đại Mạng Lệnh” đó là, những hội thánh đã thành lập lâu năm nhưng chậm lớn và chưa “sinh nở” cần được kiểm tra tình trạng sức khỏe thuộc linh, vì “tăng trưởng và sinh sản” là qui luật của sự sống. 

Thông Công