![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Thờ Cúng Ma Quỷ Trong Ngoại Giáo (t.t.) Việt Hà biên soạn (Khởi đăng từ T.C. 161)
Cơ-đốc nhân phải nhận định về các tôn giáo khác như thế nào? Đây là câu hỏi được bàn cãi khá sôi nổi nhất là trong bối cảnh của thế giới ngày nay khi các thành viên của phong trào đại kết (ecumenism) hoạt động tích cực, khi chủ nghĩa tôn giáo đa nguyên (religious pluralism) trở thành cái nhiều người đắc ý, cho là giải pháp cho tình trạng phân hóa giữa các tôn giáo trong hiện tại. Những người chủ trương tôn giáo đa nguyên phủ nhận chân lý từ Đức Chúa Trời ban cho con người là qua một mặc khải duy nhất bởi Thánh Linh là Kinh Thánh. Thay vào đó họ tìm kiếm chân lý chuyển từ người qua người trong đối thoại về sự sống. Một phong trào như thế đại diện cho nỗ lực trong thế giới hôm nay nhằm lật đổ vị thế của bất cứ chân lý nào được trình bày như là “qui luật duy nhất của đức tin và thực hành.” Tất cả những ai hôm nay tôn trọng Lời Chúa, coi Lời Chúa là Lời được linh cảm và đầy thẩm quyền phải chấp nhận thuốc thử mà chính Kinh Thánh trình bày để quyết định điều gì đúng, điều gì sai trong tôn giáo nếu muốn tránh những bẫy rập lừa dối của ma quỉ. Tất cả những ai tôn quí Chúa Cứu Thế Giê-xu và Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời cũng sẽ đều đồng ý với Stuart P. Garver, chủ bút tờ Di Sản Cơ Đốc - Christian Heritage khi ông nhận định rất chính xác, “Chủ nghĩa tôn giáo đa nguyên không thể chấp nhận được mỗi khi nó phát biểu khác với điều Đức Chúa Trời bày tỏ trong Lời Ngài. Là một cộng đồng của đức tin, Hội Thánh của Chúa Giê-xu trung thành với Lời Chúa Giê-xu tuyên bố, “không một chấm một nét trong Lời Chúa qua đi mà không thành nghiệm.” Dù muốn hay không, chúng ta phải sống với Lời đó. Ý tưởng cho rằng Đức Chúa Trời có cách khiến cho nhà khoa học tự động loại bỏ những giả thuyết nào khác với trật tự vũ trụ do Đấng Tạo Hóa thiết định, nhưng lại không cung cấp cho các nhà thần học những dữ kiện đầy thẩm quyền và chính xác để thử nghiệm mức độ chính xác của những điều họ dạy là cả một sự sỉ nhục đối với sự khôn ngoan thiên thượng!” Chính những giới hạn của chủ nghĩa tôn giáo đa nguyên đem đến cho các hội thánh một thách thức lớn lao. Hiển nhiên là những mảnh vụn chân lý có thấy trong những bộ phận quảng bá của chủ nghĩa tôn giáo đa nguyên, nhưng đó lại chính là điều mà thánh Phao-lô gọi là “một tin lành khác.” Đó không phải là Tin Mừng thuần túy, đầy đủ, trọn vẹn nhưng là loại “tin mừng” đã bị bóp méo, bị pha trộn, bị thêm thắt và tô điểm bằng những sai lầm có khi kín đáo, có khi trắng trợn, vi phạm bản chất Lời Chúa liên quan đến thân vị vinh hiển của Chúa Cứu Thế Giê-xu và sự cứu chuộc đầy đủ, trọn vẹn, viên mãn trong Ngài (I Ti-mô-thê 3:16; I Giăng 2:1,2)
Ấn Độ Giáo Ấn-độ giáo là tôn giáo chính ở Ấn-độ với tỉ lệ tín đồ lên đến 90% dân số. Tỉ lệ này chiếm 95% tổng số những người theo Ấn-giáo trên toàn thế giới. Số 5% còn lại sống ở Pakistan, Tích Lan và những nhóm thiểu số ở Miến Điện, Mã-lai, Nam Phi, Đảo Fiji, Trinidad và các thuộc địa Anh ở Đông Phi. Như vậy, hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 400 triệu người theo Ấn-độ giáo. Tuy nhiên Ấn-độ giáo ngày nay là một tôn giáo pha trộn giữa Bà-la-môn và Phật giáo, thờ phụng vô số thánh thần mà người ta tin rằng cư trú trong những vật sống cũng như những vật vô tri giác (phiếm thần). Ấn-độ giáo thật ra là một lối sống với những quan niệm bao trùm nhiều lãnh vực của hoạt động con người, ngoài phạm vi của hầu hết các tôn giáo khác. Cần phân biệt giữa người theo Ấn-độ giáo chính thống tuân giữ theo cổ lệ và những người thuộc thành phần mới, có học, vẫn tự nhận là người theo Ấn-độ giáo, nhưng đã không còn giữ nhiều tục lệ và truyền thống cổ. Những đặc điểm của Ấn-độ giáo cổ truyền bao gồm một số giáo lý và niềm tin tưởng như sau: 1. Tin vào giáo lý cho rằng linh hồn sẽ đầu thai vào một thân xác khác khi con người chết. 2. Hệ quả của giáo lý trên là niềm tin cho rằng tất cả các sinh vật đều có bản thể giống nhau. 3. Ấn độ giáo chủ trương đa thần, phức hợp, đã đưa tất cả vào chung trong một cái khung độc thần bằng cách dạy rằng tất cả các thần cấp dưới là những khía cạnh phụ tùy của một Thượng Đế duy nhất. 4. Một khuynh hướng bắt rễ sâu xa trong chủ nghĩa thần bí và triết học nhất nguyên cho rằng chỉ có một loại vật chất hay tinh thần, với mỗi sinh vật cố đi tìm sự giải thoát khỏi vòng luân hồi để có thể kết hợp với đại ngã là vũ trụ. 5. Hệ thống giai cấp trong xã hội. 6. Khuynh hướng pha trộn để đồng hóa hơn là tách biệt và loại trừ, tương phản với Cơ-đốc giáo và Do-thái giáo. Trong bộ kinh Bhagavad Gita, thần Krishna nói rằng: “Dù con người có khẩn cầu thần nào đi nữa thi ta vẫn là đấng trả lời.” Dù người ta có nói gì về Ấn-độ giáo thì hiển nhiên tôn giáo này đã giúp người đời chịu đựng nổi cuộc sống trong thế giới bị rủa sả vì tội lỗi này, nếu không thì nó đã không thể tồn tại suốt bao nhiêu thế kỷ, mệnh danh là một thứ sức mạnh tinh thần. Tuy nhiên đối chiếu Ấn-độ giáo với những tiêu chuẩn của Lời được linh cảm của Đức Chúa Trời, chúng ta phải kết luận rằng cái thần lực đàng sau Ấn-độ giáo là sức mạnh không đến từ Đức Chúa Trời. Đây cũng là tôn giáo phủ nhận thân vị Chúa Cứu Thế Giê-xu cũng như công tác cứu chuộc toàn vẹn của Ngài. Như thế, trong Ấn-độ giáo không có sự cứu rỗi cá nhân, không có sự sống lại của thân xác, không có sự giải phóng tâm linh để tương giao với Đức Chúa Trời, không có một hi vọng nào về thiên đàng. Nhưng liệu Ấn-độ giáo có cho con người những kinh nghiệm siêu việt không? Nó có thể giúp con người tiếp xúc với thế giới siêu nhiên không? Nó có thể ảnh hưởng đến những đổi thay của đời sống không? Tất nhiên, câu trả lời là có, vì đàng sau Ấn-độ giáo cũng như tất cả những tôn giáo giả hiệu khác là sức mạnh của ma quỉ, của các tà thần không đến từ Đức Chúa Trời (I Giăng 4:1,2). Những tà thần này chống nghịch với ý muốn Đức Chúa Trời và Lời Ngài, nhưng không phải tất cả những tà thần đó đều có tư cách thấp kém, ti tiện đâu. Nhiều tà linh có cá tính rất chau chuốt, thậm chí “hiền lành” trong một nghĩa rất giới hạn. Chẳng thế mà Kinh Thánh bảo rằng ma quỉ, ngay cả quỉ vuơng Sa-tan cũng đội lốt, ra dáng hiền thục như các “thiên sứ sáng láng.” Chính điều này giải thích được một phần tình trạng lộn xộn của các tà giáo ẩn nấp dưới danh hiệu Cơ-đốc giáo và giải thích tại sao những tôn giáo cổ của Đông phương có thể xâm nhập vào những quốc gia mệnh danh là các quốc gia Cơ-đốc giáo ở phương Tây. Một thí dụ điển hình là môn yoga, một ngành của triết học Hin-đu, dạy về một Hữu Thể Tối Cao, “dạy người ta chế ngự trí óc, các giác quan và thân thể để tạo ra những thể nghiệm thần bí và sự kết hợp linh hồn cá nhân với tinh thần vũ trụ” (định nghĩa trong Từ Điển Tiếng Việt). Tạp chí Life - Đời Sống |