![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Tại Sao Đức Chúa Trời Yên lặng |
|
|
|
(Ha-ba-cúc 1:1-17)
“Mắt
Chúa thánh sạch
chẳng
nhìn sự
dữ,
chẳng
có thể
nhìn
được
sự
trái ngược.
Nhìn vào tình hình thế giới với đủ loại hình thức bất ổn đang xảy ra ở nhiều nơi - tranh chiến vì hận thù, sử dụng bạo lực vô nguyên tắc bất chấp mức độ tàn phá và hậu quả theo sau, những bế tắc chính trị, kinh tế, những mâu thuẫn tôn giáo, chủng tộc trong các quốc gia, giữa các quốc gia, những hoạn nạn đã và đang xảy ra cho Hội Thánh từ những tác nhân bên ngoài và ngay cả do những tác nhân nằm trong Hội Thánh… Những người công chính đang ngước mắt lên trên núi kêu cầu và trông đợi Đức Chúa Trời cứu giúp, nhưng dường như Ngài không đáp ứng. Ngài quyết định yên lặng! Đây không phải là điều mới vì gần 2,700 năm trước, tiên tri Ha-ba-cúc đã kêu la van nài Đức Chúa Trời trong tình huống như vậy. Ha-ba-cúc là sách tiên tri thứ tám trong số 12 sách tiểu tiên tri. Ngoài tên được ghi trong sách, chúng ta không biết thêm gì nhiều về nhà tiên tri này. Sách chỉ có ba chương, trong đó chương thứ ba là lời cầu nguyện của nhà tiên tri, cũng là một bài ca, cho nên người ta cho rằng tác giả có lẽ là một người thuộc ca đoàn của chi tộc Lê-vi. Hầu hết các học giả nhận rằng sách tiên tri Ha-ba-cúc được viết vào thời đế quốc Canh-đê khởi phát, lúc đó đền thờ Sa-lô-môn vẫn còn. Nội dung sách Ha-ba-cúc xoay quanh những vấn nạn nhà tiên tri đặt ra với Đức Chúa Trời xin Ngài giải đáp. Cả hai lần ông nêu lên đều được Chúa trả lời. Trước hết, ông thắc mắc về những bạo ngược của kẻ thù và tội lỗi của tuyển dân Giu-đa. Tại sao kẻ ác không bị trừng phạt (1:2-4)? Đức Chúa Trời cho biết Ngài sẽ sai quân Canh-đê đến trừng phạt Giu-đa (1:5-11). Câu trả lời này càng làm Ha-ba-cúc bối rối. Ông đặt vấn đề gay gắt hơn hỏi rằng, tại sao Đức Chúa Trời công chính lại sử dụng một biện pháp như vậy? Tuyển dân của Chúa dù gian ác nhưng cũng còn thua xa gian ác của quân Canh-đê vô đạo. Tại sao Chúa lại dùng kẻ vô đạo sửa phạt dân Ngài? Đức Chúa Trời trả lời bảo rằng, rồi ra quân Canh-đê sẽ bị trừng phạt (2:1-20), và bởi lòng thành tín của Ngài, người công chính sẽ được sống bởi đức tin. Có tác giả cho rằng bối cảnh lịch sử của sách Ha-ba-cúc có lẽ là triều đại Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, một ông vua đầy tham vọng, tàn ác, cai trị một vương quốc bội đạo chống nghịch Đức Chúa Trời vào cuối thế kỷ thứ bảy trước công nguyên. Đặt vấn đề với Đức Chúa Trời tiên tri Ha-ba-cúc đã viết như sau, “Hỡi Chúa Hằng Hữu, tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài không giải cứu tôi! Nhân sao Chúa khiến tôi thấy sự gian ác, và Ngài nhìn xem sự ngang trái? Sự tàn hại bạo ngược ở trước mặt tôi; sự tranh đấu cãi lẫy dấy lên. Vậy nên luật pháp không quyền, sự chánh trực không hề tỏ ra. Kẻ hung ác vây chung quanh người công bình, vì cớ đó sự đoán xét ra trái ngược. Hãy nhìn trong các nước và xem, hãy lấy làm lạ lùng kinh ngạc! Vì ta đang làm ra trong ngày các ngươi một việc, mà dầu có ai thuật lại cho các ngươi, các ngươi cũng không tin. Nầy, ta khiến người Canh-đê dấy lên, nó là một dân dữ tợn lung lăng, hay đi khắp đất đặng chiếm lấy những chỗ ở không thuộc về mình... Hỡi Chúa Hằng Hữu, Đức Chúa Trời tôi, Đấng Thánh của tôi! Ngài không phải là từ đời đời vô cùng sao? Vậy chúng tôi sẽ không chết! Hỡi Chúa Hằng Hữu, Ngài đã lập dân này để làm sự phán xét của Ngài. Hỡi Vầng Đá, Ngài đã đặt nó để làm sự sửa phạt! Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công chính hơn nó, sao Ngài nín lặng?” (1:1-6, 12-13) Trên đây là những vấn nạn muôn đời: Kẻ gian ác dường như thường được may mắn, hưng thịnh, trong khi người lành lại gặp nhiều hoạn nạn. Những người tin kính Chúa bị bách hại, trong khi những kẻ vô thần đầy quyền thế vẫn an nhiên tự tại. Tất nhiên trong cái nhìn của đức tin, mọi sự đều có thể hiểu và chấp nhận, nhưng đối với những người đức tin chập chững, không phải lời giải đáp nào cũng có thể chấp nhận được. Cũng như chúng ta hôm nay, tiên tri Ha-ba-cúc đã cố gắng tìm hiểu vấn đề. Vì không ai có lời giải đáp, ông đã hành xử rất đúng khi đem trình tất cả những vấn nạn của mình cho Đức Chúa Trời. Khi nhìn sâu hơn vào vấn đề, chúng ta thấy cái khó hiểu không nằm ở tình trạng bất công, bất nghĩa hay tội ác, nhưng nằm ở mối quan hệ và sự hiểu biết của nhà tiên tri đối với Đức Chúa Trời. Ông không hiểu Đức Chúa Trời cho nên ông tiếp tục quay quắt với vấn nạn, tại sao tội ác lan tràn, tại sao người công chính phải bị đối xử bất công bất nghĩa? Nếu Đức Chúa Trời toàn năng, toàn ái đang tể trị thế giới và cả vũ trụ, nếu Đức Chúa Trời đang cầm quyền, Ngài là đấng chịu trách nhiệm tối cao, tại sao có những sự bất công này? Hiển nhiên sự hiện diện của điều ác trong thế giới chúng ta là một bí mật, hoàn toàn mâu thuẫn với một Thượng Đế toàn năng, toàn thiện. Có lẽ lý do duy nhất chúng ta có thể đưa ra là, ở trong tình trạng bất toàn hiện tại của con người, nếu không có tội ác, nếu không có những bất công bất nghĩa, có lẽ người công chính sẽ không bao giờ cần đến với Đức Chúa Trời. Trở lại với những vấn nạn Ha-ba-cúc nêu lên chúng ta thử hỏi những câu sau đây: 1) Liệu chúng ta có thể hối thúc hay bắt buộc Đức Chúa Trời hành động không? Tất nhiên là không! 2) Đức Chúa Trời có can thiệp tức khắc mỗi khi điều ác xảy ra không? Đôi khi chứ không luôn luôn. 3) Như vậy chúng ta có nên nhờ các thần thánh khác để trấn áp kẻ ác không? Câu trả lời là đừng bao giờ dại dột làm việc đó. Nhà tiên tri đang sống trong trong một xã hội hấp hối, bệnh hoạn, đầy tội ác và bạo lực trong đó những bất công xã hội lan tràn và nhân quyền bị chà đạp. Nhà cầm quyền đương thời đúng ra phải là những người đứng ra giải quyết và làm giảm bớt những cảnh đau thương đó thì lại chính là những kẻ góp phần làm tình trạng tệ hại hơn. Tội ác tràn lan không còn kiểm soát được, bạo lực gia tăng và bao nhiêu nạn nhân vô tội chịu đau đớn hàng ngày. Đây hiển nhiên là hình ảnh rất quen thuộc với chúng ta hôm nay. Giữa một xã hội u ám như thế Ha-ba-cúc cầu nguyện, ông kêu van xin Đức Chúa Trời giải quyết, nhưng dường như Ngài không nghe, Ngài yên lặng một cách thật lạ lùng, “Hỡi Chúa Hằng Hữu, tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài chẳng khứng giải cứu tôi!” Bây giờ hãy đặt mình vào vị trí của Đức Chúa Trời toàn năng, Đấng kiểm soát mọi sự, Đấng có thể thay đổi tâm trí, tấm lòng, cả những hành vi, lời nói của con người, Đấng có thể sáng tạo mọi điều từ hư vô, Đấng chữa lành mọi bệnh tật, làm sống người chết, điều khiển mọi trật tự vũ trụ, ban mưa nắng, làm khô hạn, điều khiển gió bão, động đất, núi lửa... Nếu bạn có tất cả những quyền lực đó trong tay chắc chắn khi đứng trước lời kêu van của người cha cho đứa con hấp hối, bạn sẽ không im lặng mà sẽ hành động ngay. Khi nhìn thấy nước mắt của những đứa con bên người mẹ bị ung thư tàn phá, chắc chắn bạn sẽ can thiệp. Hiển nhiên nếu có được quyền năng của Đức Chúa Trời, bạn sẽ không thể ngồi yên thụ động, cho nên chúng ta sẽ phản ứng y như tiên tri Ha-ba-cúc, chúng ta sẽ thắc mắc cùng cực trước sự yên lặng của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời đã không yên lặng mãi, Ngài đã trả lời cho nhà tiên tri: “Hãy nhìn trong các nước và xem, hãy lấy làm lạ và kinh ngạc! Vì ta đang làm ra trong ngày các ngươi một việc, mà dầu có ai thuật lại cho các ngươi, các ngươi cũng không tin!” Đức Chúa Trời đã thực sự quan tâm và đang điều khiển thế giới. Ngài không bao giờ xao lãng, nhắm mắt hay cố ý bỏ ngoài tai mọi diễn tiến lớn hay nhỏ trong trần gian. Đức Chúa Trời hằng sống không phải là thần tượng câm, điếc như các hình tượng của dân ngoại. Dù việc gì xảy ra, dù tình hình như thế nào, dù có gì xảy ra cho chúng ta hay cho bất cứ ai, tất cả xảy ra trong sự tể trị không nhầm lẫn của Đức Chúa Trời. Chúng ta không hiểu chỉ vì chúng ta không phải là Đức Chúa Trời, chúng ta không có tâm trí của Đức Chúa Trời. Chúng ta không hiểu vì chúng ta đang ở trong thân xác, đang sống trong tất cả những giới hạn của cõi tạm trần gian, trong khi Đức Chúa Trời tể trị vũ trụ trong cái nhìn của một tâm trí vô hạn, trong cõi vĩnh hằng. Chúng ta không thấy Đức Chúa Trời hành động vì chúng ta bị giới hạn trong cái khung nhỏ hẹp của không gian và thời gian ngắn ngủi của đời người... Khi được biết Đức Chúa Trời sẽ hành động có lẽ Ha-ba-cúc thấy rất phấn chấn, lên tinh thần, tuy nhiên trong khoảnh khắc, khi ông biết rằng Đức Chúa Trời sẽ dùng “quân Canh-đê dữ tợn hung hăng” để trừng phạt tuyển dân thì Ha-ba-cúc sửng sốt, ngỡ ngàng. Đó là câu trả lời của Đức Chúa Trời, nhưng nó còn làm cho nhà tiên tri thêm nhiều thắc mắc hơn nữa. Làm sao Đức Chúa Trời lại dùng một dân vô đạo như dân Canh-đê trừng phạt tuyển dân? Giu-đa tuy bất công, gian ác, bội nghịch, nhưng vẫn còn công chính hơn thứ dân vô đạo kia. Tại sao Đức Chúa Trời lại phó dân Ngài cho những kẻ thờ hình tượng chuyên chém giết? Ông bảo rằng, “Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi?” Ha-ba-cúc không thể hiểu được cách Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện, vì nó ra ngoài tất cả mọi suy nghĩ, mọi dự liệu của ông. Ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời không thể nào dùng quân Canh-đê như một dụng cụ công lý vì chẳng khác gì đặt một tên tội phạm cướp của giết người lên làm quan tòa xét xử một lương dân lầm lỡ, hoặc dùng một người vô thần kết án một giáo hữu. Trong cái nhìn của lý trí, Ha-ba-cúc không thể hiểu nổi và cũng không thể chấp nhận việc này. Thật ra Ha-ba-cúc không phải là người duy nhất có những suy nghĩ đó. Đây có thể cũng là cách suy nghĩ của chúng ta. Nhìn những cảnh trái ngang xảy ra trước mắt và xung quanh, nhiều lần chúng ta đã thở than với Chúa như vậy. Có biết bao nhiêu điều chúng ta không hiểu, chúng ta thắc mắc tại sao Chúa để cho các tôi tớ Chúa, những người hầu việc Chúa, những người trung tín với Chúa gặp hoạn nạn mà dường như Ngài chậm giải cứu hoặc thậm chí không giải cứu! Trong đời sống đức tin, hiểm họa của lối suy luận trên là gì? 1) Trước hết, nó đưa chúng ta ra khỏi phạm trù của đức tin. Pascal, nhà toán học và triết gia Pháp từng nói rằng, “thành quả lớn nhất của lý trí là giúp con người biết rằng lý trí có giới hạn.” Chính ở chỗ tận cùng của lý trí, đức tin vươn tới. Có người bảo rằng đức tin chính là cánh tay vươn dài của lý trí. Như vậy khi lý trí không thể hiểu được, như trường hợp Ha-ba-cúc, mà chúng ta dừng lại, quẩn quanh với những bế tắc đó là đang đi lệch hướng, vì trong mọi mối quan hệ với Đức Chúa Trời chúng ta luôn luôn phải vận dụng đức tin. Những hiểu biết của chúng ta về Đức Chúa Trời nếu chỉ dựa trên lý trí thì hiểu biết đó không chỉ hạn hẹp mà nhiều khi méo mó. Chúng ta cần phải biết Chúa bằng đức tin, là cách Chúa muốn, mới có thể thực sự được tự do để vươn tới cõi vô hạn. Lý trí là nền tảng bước đầu, tuy nhiên phải cần có cánh tay vươn dài của đức tin để nối kết với Đức Chúa Trời. Câu chuyện Áp-ra-ham là một minh họa cụ thể hơn hết. Khi Áp-ram được Đức Chúa Trời kêu gọi ra khỏi quê hương U-rơ ông đã 75 tuổi. Chúa cũng hứa sẽ khiến cho dòng dõi ông đông như sao trên trời như cát bãi biển, và muôn dân trên thế giới sẽ nhờ dòng dõi ông mà được phước. Sau 25 năm mỏi mòn chờ đợi, ông và Sa-ra đã chứng kiến phép lạ của Đức Chúa Trời ngay trong thân thể mình khi Ngài cho Sa-ra mang thai và sinh nở Y-sác trong tuổi già. Như vậy đối với Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời thành tín đã khởi sự tiến trình làm thành lời hứa của Ngài. Tuy nhiên, khi Y-sác bước vào tuổi thiếu niên, Đức Chúa Trời lại hiện ra với Áp-ra-ham bảo ông phải đem Y-sác giết đi, dâng lên làm sinh tế cho Ngài. Thật là kinh khủng và cũng thật là vô lý. Nếu sử dụng lý trí, Áp-ra-ham sẽ chỉ thấy toàn là vô lý. Y-sác chính là đứa con Đức Chúa Trời hứa ban, bây giờ Ngài lại bảo giết đi, trong khi cả Áp-ra-ham và Sa-ra đều đã già trên trăm tuổi! Như vậy lời hứa của Đấng thành tín sẽ ra sao? Tuy nhiên chính trong chỗ tận cùng của lý trí đó, Áp-ra-ham đã vận dụng đức tin, và con đường đã mở ra. Chúng ta cần nhớ rằng con đường đức tin là con đường kinh khủng, con đường đau thương, con đường Áp-ra-ham dẫn Y-sác lên núi Mô-ri-a để chịu giết. Áp-ra-ham đã lên đường, không nghe theo lời khuyên của lý trí, nhưng nghe theo tiếng gọi của đức tin. Chính vì vậy vào trong giây phút cuối, khi cha già trói con, và thậm chí đã giơ dao lên thì thiên sứ của Đức Chúa Trời ngăn lại. Áp-ra-ham thực sự đã đi một bước phiêu lưu thật xa với Đức Chúa Trời, không bằng lý trí, nhưng bằng đức tin. Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho Áp-ra ham một con chiên đực, sừng bị mắc trong bụi gai, và ông đã bắt con chiên đó dâng lên làm tế lễ thiêu thay cho con trai mình. Như vậy câu chuyện minh giải này hiển nhiên cho chúng ta thấy rằng có những trường hợp chúng ta chỉ có thể hiểu Đức Chúa Trời và hành động của Ngài bằng “tâm trí của đức tin.” Có lẽ cũng cần nêu lên rằng với loại “đức tin sống” này Áp-ra-ham không chỉ “nghe” được lệnh truyền của Chúa mà còn “cảm nhận” được sự hiện diện uy nghiêm của Ngài trong lệnh truyền cho nên việc ông nhanh chóng vâng lệnh không phải là đức tin “mù quáng” (Sáng thế ký 22:3ff.) 2) Thứ hai, cần ý thức rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa vô hạn. Là tạo vật hữu hạn chúng ta không thể hiểu tâm ý Đức Chúa Trời nếu không được chính Ngài mạc khải. Có nhiều trường hợp chúng ta cần kiên nhẫn chờ đợi, nhưng cũng có những trường hợp Chúa không bày tỏ, có thể vì Ngài thấy chúng ta không cần biết những điều Ngài không mạc khải. Chúng ta cần tin nơi tình thương và sự quan phòng của Ngài. Có bao nhiêu điều, bao nhiêu dự định, bao nhiêu toan tính cha mẹ không thể nói hết cho con cái, nhất là khi chúng còn thơ ấu. Chúa Giê-xu cũng từng nói với các môn đệ như vậy. Ngài có nhiều điều muốn nói, nhưng trong giai đoạn đó họ chưa thể hiểu được. Vì vậy đến cuối cùng, đức tin vẫn là con đường giúp chúng ta có thể hiểu những điều bế tắc đối với lý trí. Bây giờ trở lại với tiên tri Ha-ba-cúc. Về phương diện lý trí, hiển nhiên chúng ta thấy những vấn nạn của ông cũng là những vấn nạn của chúng ta, nhưng chi tiết quan trọng nhất trong vấn đề này là gì? Đó là Ha-ba-cúc không đặt vấn đề “tội ác lan tràn và kẻ ác hưng thịnh” với con người, nhưng ông nêu lên với Chúa. Riêng điều này đã cho thấy giữa nhà tiên tri với Đức Chúa Trời có một mối tương giao đặc biệt như thế nào, và tất nhiên cốt lõi của mối tương giao đó là đức tin. Lời kêu van của Ha-ba-cúc với Chúa không có tính cách chất vấn nhiều cho bằng khẩn nguyện với một đức tin sâu sắc đặt nơi một Đức Chúa Trời ông tin cậy hoàn toàn. Ông không hiểu nổi tâm ý Chúa và cũng không có lời giải thích nào, nhưng ông tin cậy Ngài. Chính vì vậy đức tin đã đưa ông đi rất xa với Chúa, và ít nhất trong hoàn cảnh hiện tại, giúp ông có thể kiên trì chịu đựng nổi những cảnh bất công, những tội ác diễn ra trong nỗi đau thương thống khổ của những người công chính. Đời người ngắn ngủi nên chúng ta thường sốt ruột, muốn thấy quả báo nhãn tiền cho kẻ ác, nhưng trong cái nhìn của Đấng Vĩnh Hằng thì không có gì phải vội! Công lý của Ngài chắc chắc chắn sẽ được thi hành đến nơi đến chốn, không đời này thì đời sau trong lần phán xét chung thẩm vô cùng chính xác, vô cùng chi ly như Chúa Giê-xu từng tiết lộ, “Đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mình đã nói” (Ma-thi-ơ 12:36). Không chỉ những “lời nói hư không”, những lời nói xấu sau lưng, những lời vu cáo quỉ quyệt, mà chúng ta tin rằng cả những ý tưởng hư không, những động cơ xấu xa, những hành động ném đá giấu tay, những tham dục thầm kín cũng đều được phơi bầy trước toà chung thẩm, vì lúc đó, “các sách mở ra” – đây là các sách của Đức Chúa Trời ghi lại cuộc đời từng người, có lẽ không đẹp như những tập hồi ký, tự truyện hay tiểu sử do con người viết, nhưng điều chắc chắn là trung thực hơn và chính xác tuyệt đối! Đức Chúa Trời sẽ phán xét căn cứ trên “những lời đã biên trong những sách ấy” (Khải Huyền 20: 11-15). Cuối cùng, những vấn nạn Ha-ba-cúc nêu lên với Đức Chúa Trời thật ra không phải là những thắc mắc của lòng vô tín, nhưng là kết quả của một mối tương giao sâu đậm nhưng bất cân xứng giữa một bên là Đức Chúa Trời quá thánh khiết, quá công chính, quá yêu thương và đầy quyền năng và bên kia là nhà tiên tri nhỏ nhoi, hạn hẹp. Đức Chúa Trời không yên lặng trước tiếng kêu của nhà tiên tri, và của bao nhiêu con dân Chúa đang bị bách hại, ngược đãi và gặp hoạn nạn, Ngài đang cầm quyền tể trị tối cao, Ngài đang chăm sóc thế giới theo cách riêng của Ngài rất cần mẫn, rất tỉ mỉ. Chúng ta tưởng Ngài lãnh đạm và không hành động gì. Thật ra Ngài đang yên lặng chăm chú viết từng trang sách, ghi lại từng diễn tiến trong cuộc đời mỗi chúng ta. Mục Sư Nguyễn Đăng Minh
|
|
|
|