Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

MỘT KHẢI TƯỢNG MỚI

 

 

   

 

     

 

 

 

 

 

Phong trào truyên giáo “Trở Lại Giê-ru-sa-lem” khởi sự vào những năm 1920 tại Trung Hoa trong nhiều thập niên, đã phải đi vào hoạt động bí mật thì nay hy vọng có thể gửi 100,000 giáo sĩ đến 51 quốc gia. Những người vẫn thường chỉ trích các nỗ lực truyền giáo là do chủ nghĩa đế quốc phương Tây, bây giờ sẽ thấy nhận định của họ là sai lầm khi thấy phong trào truyền giáo ngày nay do chính các Cơ-đốc nhân Trung Hoa phát động. Sau đây là bài phỏng vấn ông Paul Hattaway, người Tân Tây Lan đang phục vụ tại Á Châu, đã liên hệ với các cấp lãnh đạo của hội thánh Trung Hoa. 

 

Phong Trào Trở Lại Giê-ru-sa-lem là gì?

Điều đáng tiếc là danh xưng này khiến nhiều người lầm tưởng đây là phong trào truyền giáo cho Giê-ru-sa-lem hay Do-thái.   Khi người Trung Hoa nói “Trở Lại Giê-ru-sa-lem,” là họ có ý nói đến lịch sử phát triển Tin Lành về phương diện địa dư.  Tin Lành khởi sự từ Giê-ru-sa-lem tiến sang phía Tây, rồi lan dần qua Bắc Phi và Âu Châu.  Suốt dòng lịch sử, công việc Chúa tiếp tục tiến qua phía Tây vòng quanh địa cầu mà Trung Hoa là mức đến xa nhất.  Người Trung Hoa quan niệm rằng muốn hoàn tất Đại Mạng Lệnh thì Tin Lành phải được loan ra vòng quanh trái đất cho đến khi trở lại nơi xuất phát.  Mục tiêu của họ không phải Giê-ru-sa-lem hay Do-thái, nhưng là tất cả các quốc gia và các dân tộc chưa nghe Tin Lành đang sống ở phần đất giữa nước Trung Hoa và Giê-ru-sa-lem. Dọc theo con đường Tơ Lụa ngày xưa, con đường các thương gia di chuyển từ Trung Đông đến Trung Hoa, bạn sẽ thấy khoảng chừng 5,200 nhóm người và các bộ lạc khác nhau đang sống tại đó chưa hề nghe Tin Lành.

 

Phong trào này khởi sự như thế nào?

Phong trào này manh nha vào cuối năm 1920, khi một nhóm người được gọi là Gia đình của Chúa Giê-xu hình thành tại Trung Quốc.  Họ sống đúng theo tinh thần của hội thánh đầu tiên trong Công Vụ Các Sứ Đồ đoạn 2, chia xẻ, phân phát tài sản cho nhau, và rao giảng Tin Lành từ làng này qua làng khác.  Họ đối đầu với biết bao nhiêu thách thức.  Những người bị coi là “cặn bã” của xã hội, gồm những kẻ tàn tật, mù lòa, hay những kẻ hành khất mới chịu tin Chúa mà thôi.  Cho nên cả dân làng thường hay xua đuổi ném đá, liệng trái cây, rau cải hư thối vào người họ.

Họ tin rằng Chúa đã phán bảo hãy đi bằng đường bộ mà trở về Giê-ru-sa-lem rao giảng Tin Lành, thành lập hội thánh trong mỗi làng cho các bộ tộc trên suốt quãng đường họ đi qua. Nhưng những người tiên phong đó không bao giờ thấy khải tượng của họ hoàn tất.  Một nhóm nhỏ giáo sĩ đi đến được biên giới Trung Hoa, nhưng rồi khải tượng tàn lụi, công việc truyền giáo phải đi vào hoạt động bí mật từ đầu thập niên 50 đến cuối thập niên 80.

 

Khải tượng này tái xuất hiện lúc nào?

Một trong những nhân vật đem lại sức thúc đẩy lớn lao nhất là Simon Zhao, là một trong các nhà lãnh đạo của phong trào Trở Lại Giê-ru-sa-lem vào cuối thập niên 40 và đầu thập niên 50 đã bị bắt giam cùng với tất cả các nhà lãnh đạo khác khi đảng Cộng Sản chiếm đóng lục địa Trung Hoa.  Ông bị kết án 40 năm tù.  Câu chuyện thật cảm động.  Vợ ông đang mang thai – họ mới lập gia đình không lâu.  Bà cũng bị bắt rồi bị hư thai trong tù.  Vài năm sau bà qua đời, ông không hề được gặp mặt vợ.  Simon Zhao tâm sự có nhiều đêm bị giam giữ trong các trại giam, ông hướng về Giê-ru-sa-lem và thưa với Chúa rằng: “Đức Chúa Trời ơi, khải tượng  Chúa ban cho chúng con đã tàn lụi, nhưng con nài xin Ngài hãy dức dấy một thế hệ Cơ-đốc nhân Trung Hoa mới để làm trọn khải tượng này.”

Mãi tới năm 1983 ông mới được thả, không tiền, không gia đình, cũng không còn một tín đồ nào quen biết. Mọi người đều tưởng ông đã chết rồi.  Thế nên, ông phải tự kiếm sống qua ngày bên cạnh trại giam. Ông trú dưới môät lều vải cho qua mưa nắng, không biết phải đi đâu, làm gì và không một xu dính túi.  Mãi về sau có vài tín hữu nghe đồn về ông đem ông về, ông chia xẻ lại khải tượng ông đã cưu mang từ bấy lâu nay.  Đức Chúa Trời đã đại dụng ông làm sống lại khải tượng cho thế hệ trẻ ngày nay.  Ông qua đời trong năm vừa qua.

 

Làm sao chúng ta có thể nhận lãnh trọng trách nầy?

Thách thức này không chỉ về số lượng giáo sĩ  mà còn là phẩm chất, về tinh thần phục vụ nữa.  Theo quan điểm của tác giả, tính chất chịu khổ vì danh Chúa mà Đức Chúa Trời ban cho tín hữu Trung Hoa khiến họ có thể ảnh hưởng đến thế giới Hồi Giáo, Ấn Giáo và Phật Giáo mà hầu hết các tín hữu khác không thể thực hiện nổi.

Tôi tin các bạn đã nghe về những cuộc bách hại mà hội thánh Trung Hoa gánh chịu.  Hiện nay có hàng trăm mục sư  đang bị giam giữ.  Tuy nhiên, họ không coi việc bị tra tấn, tù đày là do  Sa-tan tấn công, nhưng còn xem đó là nơi Đức Chúa Trời rèn luyện, và qua lò lửa thử nghiệm họ sẽ trở nên tinh nhuệ hơn và làm chứng nhân hiệu quả hơn cho Ngài.  Hội Thánh Trung Hoa chỉ sai phái những người đã trải qua lò thử luyện và vẫn còn sẵn lòng dám chết vì Tin Lành.

Các tín hữu Trung Hoa không phải không biết rõ những khổ nạn này.  Họ hiểu rằng một khi đã dấn thân đến các quốc gia Hồi Giáo và các nước khác, họ sẽ phải đổ máu ra vì Tin Lành.

 

Thế thì vấn đề bị bách hại, hay có thể tử vì đạo, có thực sự là mối quan tâm hàng đầu cho phong trào này không?

Brother Yun, một trong các vị lãnh đạo của hội thánh tin rằng trong thập niên đầu tiên của phong trào này, có lẽ có khoảng 10,000 người tử đạo vì cớ Đấng Christ.  Một vài phương thức huấn luyện cho mục vụ mới này bao gồm cách chỉ dẫn làm thế nào để nói về Chúa trong bất cứ tình huống nào, và cách phải đối phó khi bị còng tay dẫn đến chỗ hành quyết.  Họ huấn luyện tín hữu cách tháo xiềng, cách nhảy ra khỏi tòa nhà hai tầng để thoát thân mà không bị gãy xương mắt cá.  Đây là điểm thần học đầy thích thú.  Một mặt, người Trung Hoa cho rằng có khi Đức Chúa Trời đưa họ vào chốn lao tù để giảng đạo.  Một mặt khác, họ cho rằng ma quỷ cũng có thể bắt họ vào tù để không còn giảng đạo nữa, vì thế họ cần nhờ Chúa phân biệt mỗi khi bị bắt để tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời.

 

Tại sao lại chọn mục tiêu đúng 100,000 giáo sĩ?

Con số 100,000 thực sự được đề ra là do các vị lãnh đạo cao cấp đã họp lại, cầu nguyện tìm kiếm ý Chúa cho vấn đề rắc rối khó khăn từ những nhóm cá biệt riêng rẽ của họ.  Rồi họ cảm thấy nên lấy theo số thập phân của một phần mười nhân sự mà họ đang có.  Cộng chung tất cả các nhóm lại, họ có khoảng chừng 1 triệu người hầu việc Chúa trọn thời gian, vì thế mới ra con số 100,000.

 

Có bao nhiêu vị đã ra đi?

Khải tượng này vẫn còn mới.  Con số gần đây nhất mà tác giả thu thập được chỉ trên dưới độ 1,500 người, gồm các giáo sĩ phục vụ xuyên văn hóa thực sự rời khỏi Trung Quốc.  Rất khó biết con số chính xác, vì nhiều người đến rồi đi.  Họ đến các nước láng giềng ở đó sáu tháng rồi về lại Trung quốc.

 

Họ có nhận được nguồn tài trợ nào từ các hội thánh đã sai phái họ không?

Có.  Từ sáu đến bảy mạng lưới truyền thanh lớn nhất thuộc các hội thánh nổi cũng như các hội thánh thầm lặng hoàn toàn đứng sau lưng khải tượng này.  Mỗi mạng lưới có hàng triệu tín hữu.  Họ cùng đứng chung với nhau để gởi nhân sự hoàn thành khải tượng này.

Theo điều tác giả nhận thấy, thực ra họ không có một cơ cấu hoạch định rõ ràng nào về tài khoản cung lương cho các nhân sự.  Chắc hẳn họ không ngửa tay trông chờ sự giúp đỡ từ bên ngoài đâu.  Họ cũng không bàn tính lập ngân sách như chúng ta thường làm ở Âu Mỹ.  HoÏ chỉ ngửa trông nơi Chúa và tin rằng nếu Ngài sai họ đi đâu thì Ngài sẽ cung cấp nhu cầu cho họ. Và thật vậy, Ngài không thất tín đối với họ.

 Nhiều người đã ra đi nhận lấy trọng trách.  Họ không thấy bị ngăn trở gì đối với chức vụ này. Trái lại họ thấy dễ dàng hơn trong việc xin thông hành và chiếu khán xuất cảnh.  Chính quyền Trung Quốc chú tâm vào lãnh vực kinh tế quốc gia hơn là bận tâm gạn lọc người xin xuất ngoại.

 

Các nhà lãnh đạo hội thánh có chú trọng phép lạ và điềm lạ là trung tâm của việc truyền giảng không?

Họ không đặt nặng vấn đề phép lạ trong công cuộc truyền giảng, nhưng họ xem đó là kết quả tất nhiên của việc truyền bá Phúc Âm.  Ngay cả trong các hội thánh tư gia cũng có nhiều phe nhóm và niềm tin khác nhau.  Nói chung, người Trung Hoa không nhắm vào phép lạ.  Họ đặt trọng tâm vào việc công bố Phúc Âm cứu vớt tội nhân.  Khi họ đã công bố Phúc Âm cứu vớt tội nhân, thì quyền năng lời Chúa cặp theo và phép lạ xảy ra. Họ tin phép lạ không xảy ra trong hội thánh mà xảy ra cho người ở ngoài cần xác chứng niềm tin.  Một số tín hữu thường hỏi: “Tại sao chúng ta không thấy phép lạ xảy ra ở Âu Mỹ như ở Trung Hoa?”  Rồi ông hỏi tiếp. “Bạn có thật sự đang công bố Phúc Âm cho nhân loại đang hư mất trên thế gian này không?” Bạn phải có thời gian sống gần gũi với tín hữu Trung Hoa mới thấy rõ việc tìm kiếm người hư mất là động lực rất mạnh mẽ của chức vụ họ.  Nhiều nhân sự thường chào hỏi nhau trên đường phố, “Hôm nay bạn đã đưa dẫn bao nhiêu người đến với Chúa?”- “hôm nay”, ngày hôm nay chứ không phải sáu hay mười hai tháng về trước. 

Còn chúng ta như thế nào? Có ý thức sự hư mất tâm linh đời đời của người chưa hề nghe Tin Lành cứu rỗi? Khải tượng hội thánh của bạn là gì? Chúng ta đang làm gì đối với việc tìm kiếm người đang bị đùa vào sự chết tâm linh? Nhờ ơn Chúa chúng ta tiếp tay với tín hữu Trung Hoa bằng sự cầu nguyện cho khải tượng giảng Tin Lành cho các nước Hồi giáo nằm giữa nước Trung Hoa và kinh thành Giê-ru-sa-lem.  Phần chúng ta có một Giê-ru-sa-lem thuộc linh nào đó mà Chúa muốn chúng ta phải đến để làm chứng nhân, để giảng Tin Lành hầu hoàn tất Đại Mạng Lệnh của Chúa trong bối cảnh lịch sử riêng tư của mình. Cầu xin Chúa cho chúng ta có thể bắt đầu công việc Chúa trong tinh thần này hôm nay.

Mục Sư Nguyễn Anh Tài/Viện trưởng

(Theo tài liệu của báo Christianity Today, 

A Captivating Vision, April, 2004)