![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Thờ Cúng Ma Quỷ Trong Ngoại Giáo (t.t.) Việt Hà biên soạn (Khởi đăng từ T.C. 161)
Thờ Cúng Trong Phật Giáo Học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần trong cuốn khảo luận “Phật Học Tinh Hoa” viết như sau: “Phật, tên thật là Siddhârtha, họ là Gautama, sinh vào khoảng thế kỷ thứ VI trước tây lịch kỷ nguyên, ở phía Bắc Ấn-độ. Cha là Suddhodana, trị vì dân tộc Sakya (chính là một phần đất xứ Népal ngày nay, dưới chân Hy-mã-lạp-sơn), còn mẹ là hoàng hậu Mayâ. Năm muời sáu tuổi, Thái tử lấy vợ là nàng Yasodharâ, và sống cực kỳ sang trọng trong cung điện. Nhưng bẩm tánh thái tử đa sầu đa cảm, khi nhận thấy thực trạng thống khổ của đời người xung quanh mình bèn quyết tâm đi tìm phương cứu khổ cho bản thân và cho nhân loại. Lúc thái tử bỏ nhà ra đi, chính là lúc mà vợ vừa hạ sinh đứa con trai đầu lòng và duy nhất: Rahula. Bấy giờ thái tử mới vừa được hai mươi chín tuổi. Sáu năm ròng rã, ông lang thang đây đó ở khắp thung lũng sông Hằng để cầu thầy học đạo và theo đủ mọi cách khổ hạnh cùng tu luyện của hầu hết mọi môn phái truyền thống mong tìm giải thoát nhưng không thỏa mãn. Ông bỏ tất cả các giáo phái truyền thống kia đi, và tự mình đi tìm Chân lý. Một đêm đang ngồi trầm mặc dưới gốc cây bồ đề, ông hốt nhiên đại ngộ. Bấy giờ ông mới vừa ba mươi lăm tuổi. Từ đó, người ta gọi ông là Phật, nghĩa là người giác ngộ, giác ngộ được cái nguồn gốc của Ðau Khổ và Sinh Tử. Sau khi đắc Ðạo, Phật thuyết pháp lần thứ nhất ở Cấp Cô-độc viên, gần thành Bénarès ngày nay, cho 5 nhà tu khổ hạnh, những bạn cũ cùng đi tìm đạo như Phật. Ròng rã suốt bốn mươi chín năm Phật không ngớt đem cái đạo diệt khổ giảng cho tất cả mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt nam nữ, già trẻ hay giai cấp sang hèn gì cả. Phật nhập diệt năm tám mươi tuổi ở Kusinarâs” (Phật Học Tinh Hoa, Trang. 31,32). Phật giáo chủ trương con người phải dựa vào chính mình trong nỗ lực tu học, vì chỉ những hiểu biết do chính mình tìm ra mới thật là hiểu biết. Phật học cũng chủ trương con người phải biết hoài nghi, phải xét lại tất cả những gì từ trước đến nay một người nhận là phải mới có thể hy vọng giác ngộ. Phật giáo nhấn mạnh đến kỷ luật tinh thần cũng như cuộc sống đạo đức theo quan điểm của Khổng Tử, và tất nhiên cũng đã khiến cho hàng triệu người có thể sống đời sống luân lý cao cả và cuộc sống thỏa mãn trong một giới hạn nhất định nào đó. Tuy nhiên một hệ thống tôn giáo do con người nghĩ ra và dựa vào nỗ lực loài người không thể đưa đến sự cứu rỗi. Ngay cả việc tuân giữ kỷ luật cá nhân và làm theo các giáo huấn của Phật, người tu học theo đạo Phật cũng chỉ có một hi vọng rất mong manh đối với việc thoát khỏi vòng luân hồi và đạt đến niết bàn. Chính niết bàn theo quan điểm Phật giáo cũng chỉ là một giấc mơ huyền hoặc. Cho dù có người suốt cả đời tu trì và cuối cùng đạt đến niết bàn, thì niết bàn ở đây cũng không có thật, không còn gì, vì đó là một nơi tịch diệt. Ðó là chưa kể tình trạng người tu học theo giáo lý Phật giáo không có một tiêu chuẩn nào để dựa vào hoặc đạt tới, ngoài việc dựa vào chính mình, vì vậy con người hoàn toàn không có một chỗ dựa nào cho hy vọng hướng về cõi vĩnh hằng. Ðối chiếu với ánh sáng được bày tỏ trong Lời Chúa về thân vị và công tác chuộc tội của Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta có thể thấy ngay những quan niệm nhà Phật là một hệ thống triết lý dựa vào nỗ lực cá nhân đưa tới một kết luận hoàn toàn bấp bênh về một niết bàn không hiện hữu. Hệ thống triết lý dựa vào con người này không thể đổi mới linh hồn, cũng không đem lại sự sống vĩnh hằng. Phật giáo là một tôn giáo dựa vào sức người, dựa vào công đức cá nhân, tuy có vẻ hợp lý vì thỏa mãn lòng kiêu hãnh của con người, nhưng tất nhiên sẽ không đi đến đâu vì sức người có hạn mà con người lại không thể biết phải làm công đức bao nhiêu mới là đủ cho được siêu thoát. Vì vậy con người cứ mãi tiếp tục khắc khoải trong một niềm tin không định hướng. Cũng vì thế ma quỉ đã lợi dụng tối đa tình trạng mơ hồ của sự cứu rỗi trong Phật giáo để đẩy con người xa khỏi Ðức Chúa Trời. Thật ra đây đã là nỗ lực từ đầu của ma quỉ: khiến con người tách rời khỏi Ðức Chúa Trời và đứng độc lập với Ngài. Ma quỉ cũng khích động để con người dựa vào công đức riêng, vào khả năng cá nhân với một ảo tưởng rằng một ngày kia qua nhiều kiếp tu sẽ trở nên toàn hảo. Với cả một hệ thống thờ tự qui mô, các chùa chiền Phật giáo là nơi đầy dẫy hình tượng đã khiến cho con người lậm sâu trong những tội phạm nặng nề đối với Ðức Chúa Trời, thay vì thờ phượng Ðức Chúa Trời là chân thần, con người lại cầu khấn, thờ lạy những pho tượng vô tri bằng gỗ, bằng đất. Chúng ta cần được nhắc lại rằng ma quỉ đã lợi dụng tình trạng mê muội của con người để ẩn nấp đằng sau những hình tượng vô tri và hưởng lấy sự thờ phượng của con người. Bản chất cơ bản của ma quỉ là kiêu ngạo. Từ buổi ban đầu cũng vì lòng kiêu ngạo mà ma quỉ đã đòi nhắc ngai của nó lên ngang hàng ngai Ðức Chúa Trời nên đã bị Ngài trục xuất khỏi thiên đàng (Ê-sai 14: 12-15). Khi cám dỗ Chúa Giê-xu, ma quỉ đã không nén nổi lòng ham muốn được thờ lạy, nó đã nói ra mong muốn đó và bị Chúa quở trách nặng nề. Cho đến nay bản tính ấy vẫn không thay đổi, nó đã dụ hoặc con người qua nhiều tôn giáo thờ hình tượng để qua đó nhận sự thờ phượng của con người. Chính Phao-lô đã khẳng định như sau: “Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi, vậy nên hãy tránh khỏi sự thờ lạy hình tượng...Của cúng thần tượng có giá trị gì và thần tượng có ra gì chăng? Chắc là không; nhưng đồ người ngoại đạo cúng tế là cúng tế các quỉ chứ không phải cúng tế Ðức Chúa Trời. Vậy tôi không muốn anh em thông đồng với các quỉ...” (I Cô-rinh-tô 10: 14, 20). Như vậy điều chúng ta cần lưu ý là sự thờ cúng hình tượng trong các tôn giáo ngoại đạo đều có dính dấp đến ma quỉ, và Kinh Thánh đã khẳng định rằng Chúa không bao giờ muốn con cái Ngài thông đồng với ma quỉ. (Còn tiếp)
Thông Báo Kính mời quí độc giả Thông Công vào mạng lưới www.codocnhan.com để đọc và nghe Kinh Thánh, Thánh Ca, các bài giảng luận, bài học Kinh Thánh, các chương trình phát thanh và các bài thi văn nâng đỡ đời sống tâm linh. (còn
tiếp) |
|
|
|