Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Nỗ Lực Hoàn Tất Ðại Mạng Lệnh

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Lời nói cuối cùng của một người rất quan trọng.  Các bậc vĩ nhân hiền triết hay những nhà lãnh đạo thế giới thường có những lời cuối để lại cho hậu thế trước khi qua đời. Những lời đó rất có giá trị. Chúa Giê-xu yêu quý của chúng ta cũng để lại những lời vô cùng quan trọng trước khi về trời, được Kinh thánh ghi lại như một Ðại Mạng Lệnh để noi theo, như một Lệnh Truyền phải tuân giữ. Từ đó đến nay hội thánh trải qua các đời trân trọng lời truyền đó và xem như là một phương châm để mở mang và phát triển Hội Thánh của Ðức Chúa Trời trên đất.

Ðại Mạng Lệnh này được chép trong Ma-thi-ơ 28:18-20 “Ðức Chúa Giê-xu đến gần phán cùng môn đồ như vậy. Hết thảy quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp têm cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế”. Và phạm vi của Ðại Mạng Lệnh này có chép trong sách Công Vụ 1: 8 “Nhưng khi Ðức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất”.

Ðể hội thánh sống mạnh và phát triển, tôi con Chúa phải thi hành Ðại Mạng Lệnh này. Ðể mỗi người được nghe Tin Lành cứu rỗi hội thánh phải rao truyền Ðại Mạng Lệnh này. Ðể ngày Chúa mau trở lại, hội thánh phải nỗ lực hoàn tất Ðại Mạng Lệnh này.  Và trái lại khi hội thánh không tuân giữ, tôi tớ Chúa không quan tâm thì hội thánh nguội lạnh, không phát triển, nhiều nan đề xảy ra và Danh Chúa không được tôn cao.

Ðể có thể thi hành được Ðại Mạng Lệnh này, để có thể hoàn tất Ðại Mạng Lệnh này, chúng ta phải nhờ cậy Ðức Thánh Linh là Ðấng ban năng lực khi bắt đầu thành lập hội thánh và cũng là Ðấng sẽ vùa giúp hội thánh có thể hoàn tất Ðại Mạng Lệnh của Chúa yêu quý chúng ta.

Khi bắt đầu thành lập hội thánh trong ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Linh bày tỏ qua ba biểu tượng và ba biểu tượng này thể hiện suốt dòng lịch sử Thánh Kinh: từ Cựu Ước đến Tân Ước và mãi cho đến hôm nay. Ðó chính là phương thức Ðức Chúa Trời sử dụng để hoàn tất chương trình của Ngài trên đất.  Nếu không hiểu rõ và chưa nắm vững yếu tố quan trọng này, Hội Thánh sẽ không đủ sức để làm công việc Chúa.

Sách Công Vụ 2: 1-13  ghi lại ba biểu tượng đó là: Gió, Lửa và Lời Nói.

 

I. Gió: Gió thổi ào ào - Tiêu biểu cho công việc bắt đầu.

Công-vụ 2:1, 2 “Ðến ngày Lễ Ngũ Tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ.  Thình lình có tiếng từ trời đến, như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi.”  Ðây là một biến cố vô cùng trọng đại, ứng nghiệm lời tiên tri Giô-Ên: “Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác thịt…” và lời hứa của Chúa Giê-xu trong Phúc Âm Giăng “Một Ðấng Yên Ủi khác sẽ ở với các ngươi đời đời…Thần lẽ thật sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật.”

Biểu tượng thứ nhất của Thánh Linh là Gió. Ðặc tính của gió là chúng ta nghe gió thổi nhưng không thấy gió.  Chúng ta cảm thấy sức mạnh của gió nhưng không thấy hình dạng của gió ra sao hay màu sắc như thế nào.  Nhưng không ai dám nói là không có gió  hoặc thách đố phải chứng minh sự thực hữu của gió. Ðức Thánh Linh cũng thể hiện như vậy chúng ta thấy công việc của Ngài dù không thấy Ngài.

  Khi Chúa Giê-xu giải thích lẽ đạo tái sanh Ngài dùng biểu tượng gió, Ngài phán: “Các ngươi phải sanh lại, gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy” (Giăng 3:8).

Ðó là công việc của Ðức Thánh Linh. Ðối với thế gian, Ngài cáo trách tội lỗi. Ðối với hội thánh, Ngài biến đổi tội nhân thành thánh nhân. Ðối với người hầu việc Chúa, Ngài làm cho người nhút nhát, yếu đuối trở nên dạn dĩ, mạnh mẽ để làm chứng nhân cho Chúa, để giảng Tin Lành cứu tội nhân.  Các sứ đồ đạt kết quả lớn lao cho hội thánh đầu tiên mà sách Công Vụ đã ghi lại là một bằng chứng.

Công việc của Thánh Linh là biến đổi một người tầm thường trở nên phi thường.

Robert Coleman trong quyển “Master Plan of Evangelism” đã mô tả thành phần các sứ đồ như sau: 

Không một người nào có danh giá trong Nhà Hội hay thuộc dòng dõi tế lễ Lê-vi lúc bấy giờ. Phần nhiều họ thuộc hàng dân dã. Có lẽ họ cũng không thuộc thành phần chuyên nghiệp chỉ biết qua loa hay căn bản công  việc làm ăn  mà thôi. Có thể gia đình Xê-bê-đê khá giả nhưng chưa phải là giàu có. Họ không có trình độ cao về nghệ thuật, hay triết học trong thời đó. Phần đông xuất thân từ chốn bình dân, nghèo nàn ở quanh vùng Ga-li-lê. Chỉ một trong 12 người đến từ miền Giu-đê khá hơn, đó là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Theo tiêu chuẩn của nền văn hóa  thời đó cũng như hôm nay, họ thuộc thành phần thấp trong xã hội. Thêm vào đó họ lại có lòng tự ái, dễ nổi nóng và ham chức vị.  Nói một lời, Chúa lại chọn những người như thế để làm phụ tá cho Ngài…”

Chúng ta tự hỏi: Làm sao Chúa Giê-xu có thể dùng họ? - Gió Thánh Linh đã thổi qua cuộc đời họ, tái tạo tâm linh và biến đổi đời sống khi họ đặt niềm tin nơi Chúa. Sự biến đổi đó trong thần học gọi là tái sanh.

Khi được hỏi làm sao có thể biết một tín đồ tái sanh?  Một vị Mục sư trả lời: Dấu hiệu của một người thật sự được tái sanh là “ghét điều mình ưa thích trước kia và thích điều mình ghét trước kia.”  Như trước kia thích tội lỗi, vui chơi theo đời, nay sợ phạm tội và không muốn đến những nơi dễ bị lôi cuốn vào con đường tội lỗi. Như trước kia không muốn đi nhà thờ, nay vui thích đến Nhà Chúa. Ðó là dấu hiệu Ðức Thánh Linh biến đổi một đời sống tiếp nhận Chúa thực sự.  Thực tế cho biết “không gì nguy hiểm cho bằng một người tín đồ chưa tái sanh và một Mục sư không có sự kêu gọi.”  Vì người tín đồ chưa tái sanh và một Mục sư không được kêu gọi thì không ý thức công việc thuộc linh và thường ngăn trở việc thi hành Ðại Mạng Lệnh. Họ không đủ sức đi chứng đạo, sợ tổ chức truyền giảng.  Gió Thánh Linh rất cần thiết cho hội thánh ngày nay.  Nếu không, hội thánh chỉ còn hình thức mà thôi. Mặc dù danh hiệu còn đó, chức vị còn đó, hoạt động này sinh hoạt nọ nhưng trước mặt Chúa, họ chỉ giống như một trũng hài cốt khô.  Họ đang cần một cơn gió Thánh Linh thổi vào mới có thể chổi dậy hầu trở nên một đạo quân lớn chinh phục tội nhân cho Chúa (Ê-xê-chi-ên 37).  Ðức Chúa Trời bảo tiên tri Ê-xê-chi-ên hãy nói với hài cốt khô “…Hãy nói tiên tri cùng gió…và Chúa hứa Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi và các ngươi sẽ sống.” C 14.

Hội thánh ngày nay phải cậy Chúa Thánh Linh để chỗi dậy, lắng nghe tiếng Chúa để đứng lên làm công việc Chúa.  Xin quyền năng Chúa Thánh Linh tác động trên những tâm hồn khô héo, mỏi mệt.  Sức sống của Thánh Linh sẽ đỡ “cánh tay yếu đuối và đầu gối lõng lẽo” khiến chúng ta có thể đứng lên hầu việc Chúa.

Nếu không có gió Thánh Linh, chúng ta sẽ dễ bị chao đảo bởi các thứ gió giáo lạ của đạo lạc. Nếu không có Thần Linh của Ðức Chúa Trời chúng ta sẽ sợ các thứ thần của đời này. Chưa bao giờ chúng ta thấy có nhiều gió giáo lạ như hiện nay. Chưa bao giờ chúng ta thấy có nhiều thứ thần như hiện nay. Người ta lợi dụng tôn giáo để kêu gọi khủng bố, giết người.  Người ta lợi dụng tự do tôn giáo để cổ súy mê tín dị đoan, thờ hình lạy tượng hay đua nhau theo chủ trương này tôn giáo nọ. Hội thánh ngày nay có người được Chúa biến đổi chưa?  Hội thánh ngày nay có những Mục sư sốt sắng để thi hành Ðại Mạng Lệnh Chúa chưa?

 

II.  Lửa -  Chính  là Quyền năng thi hành Ðại Mạng Lệnh

Biểu tượng thứ hai của Thánh Linh là Lửa.  Lửa có nhiều công dụng, tôi xin đề cập đến hai công dụng của lửa mà thôi. Phương diện tích cực: lửa hữu dụng.  Phương diện tiêu cực: lửa tàn phá.  Lửa hữu dụng phát ra ánh sáng và sức nóng; lửa tàn phá là lửa thiêu đốt và hình phạt.

Lửa hữu dụng phát ra ánh sáng và sức nóng sinh ra tác động.

“Các môn đồ thấy lửa rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa, đậu trên mỗi người trong bọn mình” (c.3). Kinh Thánh nói đến lửa rất nhiều.  Như trụ mây và trụ lửa ngày xưa đã dẫn đường cho dân Y-sơ-ra-ên khi lưu lạc trong đồng vắng. Trụ lửa soi sáng ban đêm có tác dụng sưởi ấm cho dân sự đi trong sa mạc.  Không chỗ nào nóng cho bằng sa mạc lúc ban ngày, cho nên Chúa cho trụ mây làm bóng che cho dân sự.  Trụ lửa ngày xưa ban cho tập thể là dân sự Chúa. Lửa Ngũ Tuần đậu trên từng cá nhân “lửa rời rạc từng cái một.”  Trụ lửa ngày xưa chấm dứt khi dân sự vào Ðất Hứa;  lửa Ngũ Tuần sẽ ở cùng Hội Thánh cho đến ngày hoàn tất Ðại Mạng Lệnh.

Thánh Linh ban xuống cho các sứ đồ để có năng lực. Trước kia còn hoang mang, nay giảng dạy đầy năng lực và thu hút. Trước kia sợ sệt, trốn tránh, nay giảng đạo cách dạn dĩ. Trước kia thất bại, muốn trở về làng cũ, nghề cũ, nay đứng lên giảng một bài có ba ngàn người tin! Và “mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào hội thánh” (Công Vụ 2:47).  Ðó là tác động của lửa mà hội thánh ngày nay đang cần.  Chúng ta cần năng lực để giảng dạy.  Chúng ta cần sức Chúa để kềm chế không cãi cọ nữa bèn đi ra làm chứng nhân cho Ngài.  Chúng ta cần sức mạnh để chổi dậy trở nên một đạo binh lớn chinh phục tội nhân cho Chúa.  Ma quỷ đang ru ngủ hội thánh.  Tội lỗi đang hoành hành khắp nơi. Tinh thần ham mê thế gian đang chiếm lấn tinh thần phục vụ của tôi con Chúa.  Thay vì làm tôi tớ thì muốn làm chủ. Thay vì phục vụ thì muốn được phục vụ.  Thay vì thuận phục thì chống trả, cứng lòng.   Phao-lô cho biết đó là dấu hiệu của thời kỳ sau rốt.  Chỉ có lửa Thánh Linh mới thay đổi đời sống và ban năng lực cho Hội Thánh Chúa mà thôi.

Lửa cũng có tác dụng tàn phá.  Ai ở miền Nam California đều chứng kiến điều này.  Mùa Hè bắt đầu là người ta lo sợ cháy rừng, cháy nhà. Lửa tiêu diệt tất cả những gì nó đi ngang qua. Mỗi năm có hàng trăm ngàn mẫu đất bị cháy rụi, hàng trăm ngôi nhà sang trọng bị thiêu hủy và nhiều người bị thương vong.

Kinh thánh chép: “Ðức Chúa Trời là đám lửa hay thiêu đốt.”  Nhiều lúc Chúa cũng dùng lửa đoán phạt trong trường hợp thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ.  Kinh Thánh chép “Mưa diêm sanh và lửa từ trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ hủy diệt hai thành này, cả đồng bằng hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất khô.”  Một trường hợp nữa về lửa có tác dụng hủy diệt hai con trai thầy tế lễ A-rôn là Na-đáp và A-bi-hu. Kinh Thánh chép: “Một ngọn lửa từ trước mặt Ðức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Ðức Giê-hô-va. (Lê-vi-ký 10: 2)

Ngày nay chúng ta không thấy rõ những sự đoán phạt như thời Cựu Ứơc, nhưng chúng ta biết đức thánh khiết của Chúa không thay đổi.  Chúng ta không còn thấy sự hình phạt chết thuộc thể như thời Cựu Ước.  Nhưng một số người ngã chết tâm linh.  Danh tánh chức vị còn đó nhưng công việc không còn hiệu quả nữa.  Ðời sống tâm linh cằn cỗi.  Mất niềm vui.  Chùn bước và nhiều lần muốn thối lui hay bỏ cuộc.  Chúng  ta cần lửa Thánh Linh trong đời sống và chức vụ.  Nếu không có lửa Thánh Linh chắc sẽ ngã quỵ và chuốc lấy thất bại mà thôi.

 Lửa phát ra ánh sáng. - Ánh sáng rất cần thiết cho mọi người.

Chúa Giê xu phán: “Ta là sự sáng của thế gian” và Chúa cũng phán: “Các ngươi là sự sáng của thế gian.”  Con dân Chúa khi được tái sanh được dự phần bản tánh của Ðức Chúa Trời trong tiêu biểu này.  Chúa là nguồn sáng và chúng ta chỉ phản chiếu ánh sáng của Ngài.  Lửa Thánh Linh chiếu rọi vào cuộc đời chúng ta để phản chiếu ánh vinh quang cho thế gian như sứ đồ Phao-lô đã nói.  Ðó là sự “vinh hiển chói lói của Tin Lành Ðấng Christ” (2 Cô-rinh-tô 4: 4).  Tuy nhiên hãy cẩn thận, chúng ta có thể làm phai mờ hay ngay cả làm mất ánh vinh quang đó khi chúng ta từ khước sự hướng dẫn của Thánh Linh, đi theo ý riêng hay phạm tội với Chúa.  Sự sáng của chúng ta phải tùy thuộc vào sự sáng của Chúa cũng như sự sáng của mặt trăng phụ thuộc sự sáng của mặt trời  Như mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời thể nào chúng ta phản chiếu ánh sáng của Chúa cho thế gian thể ấy. Ánh trăng êm dịu, thơ mộng khi mặt trăng tiếp tục đi trong quỹ đạo. Nếu như có một ngày nào mặt trăng không còn đi trong quỹ đạo của nó thì nó không còn phản chiếu ánh mặt trời nữa. Nó sẽ giống như “vì sao đi lạc” và sự tối tăm mù mịt đã dành cho chúng đời đời như  thư  Giu-đe câu 13 đã đề câïp đến.

Chúng ta có đang đi trong quỹ đạo của Chúa không?  Hay đã tẻ tách rồi?  Xin hãy mau trở lại kẻo bị xa cách đời đời chăng!

 

III.  Lời Nói - là sự phô bày sứ điệp của Ðại Mạng Lệnh

Biểu Tượng thứ ba của Thánh Linh là Lời Nói.  Trong ngày Lễ Ngũ Tuần các môn đồ “nói các thứ tiếng khác.”  Công Vụ 2: 6 “Lúc tiếng ấy vang ra, dân chúng chạy đến, ai nấy đều sững sờ, vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng xứ mình.”

Câu 8  “Vậy thì tại sao chúng ta  nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ.”

Câu 11 “chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Ðức Chúa Trời.”

Có nhiều lời giải khác nhau về khúc Kinh Thánh này.  Tuy nhiên có hai ý chính.  Thứ nhất, các sứ đồ được đầy dẫy Thánh Linh sử dụng một ngôn ngữ mà cả 15 sắc dân từ các nơi đến dự lễ Ngũ Tuần đều nghe và hiểu như hiểu tiếng mẹ đẻ.  Thứ hai, các sứ đồ được ân tứ nói 15 loại ngôn ngữ để sắc dân nào cũng hiểu được. Nói một lời, các sứ đồ nói và tất cả đều hiểu vì họ “nói thứ tiếng của xứ chúng ta sinh đẻ” (8).

Hôm nay chúng ta không luận về sự khác biệt giữa các khuynh hướng nói tiếng mới hay tiếng lạ này.  Chúng ta chú ý đến một điều quan trọng hơn.  Ðó là các môn đồ nói điều gì?  Mục đích của sứ điệp của họ là gì?  Lời nói của họ có kết quả như thể nào?

Trong câu 11 có ghi “Họ nói những sự cao trọng của Ðức Chúa Trời.” Ðây là trọng tâm lời giảng dạy của các sứ đồ.

Lời nói “Những sự cao trọng của Ðức Chúa Trời” -  là nói những gì? Trong bài giảng của sứ đồ Phi-e-rơ có ghi lại những điều ông đã nói: Ông giảng về sự chết của Chúa Giê-xu trên thập tự giá.  Ông xác chứng Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại.  Ông đã chứng minh Thánh Linh được ban xuống để ứng nghiệm lời các tiên tri trong Cựu Ước cho biết thời kỳ sau rốt đã đến, hãy nỗ lực hoàn tất Ðại Mạng Lệnh của Chúa Giê-xu.  Ðó là Tin Lành vinh hiển.  Ðó là sự cao trọng của Ðức Chúa Trời.

Lời nói rất quan trọng.  Ngày xưa Ðức Chúa Trời phán: “Thế gian được dựng nên.” Các tiên tri nói hay dự ngôn, ý định Chúa được thành hay ứng nghiệm.  Trong ngày sau rốt “Ngài phán dạy chúng ta bởi Con Ngài” và Con Ngài chính là Chúa Giê-xu. Ngài được gọi là Ngôi Lời  - Logos - The Word - La Parole - Lời Nói.  Lời giảng của sứ đồ Phao-lô được xem như lời của Ðức Chúa Trời cho kẻ tiếp nhận (1Tê-sa-lô-ni-ca 2:13).  Ngày nay Chúa dùng lời nói, sự giảng dạy của mỗi tôi con Chúa để nói ra sự cao trọng của Ðức Chúa Trời.  Chúng ta nói gì? Mục đích dùng cho sự cao trọng của Chúa hay để chúng ta được tôn trọng? Chúng ta nói ra Lời Chúa hay sự khôn khéo của loài người? Nói lời xây dựng hay chê bai người khác? Lời nói nâng đỡ kẻ mệt mỏi hay làm đau lòng người nghe?  Lời nói của người có Chúa Thánh Linh sẽ dẫn đưa người khác đến với Chúa.

Thánh Linh thôi thúc phải nói: Tiên tri Giê-rê-mi có một thôi thúc phải nói: Chương 20: 9 chép: “Nếu tôi nói: Tôi sẽ chẳng nói đến Ngài nữa; tôi sẽ chẳng nhơn danh Ngài mà nói nữa, thì trong lòng tôi như lửa đốt cháy, bọc kín trong xương tôi, vì tôi mệt mỏi vì nín lặng, không chịu được nữa” (20: 9). Một thôi thúc như lửa cháy trong lòng khiến ông không nín lặng được.

Sứ đồ Phi-e-rơ và Giăng trả lời trước tòa công luận “Vì về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe” Công Vụ 4:19,20.

Sứ đồ Phao-lô: “Ví bằng tôi rao truyền Tin Lành, tôi chẳng có cớ gì khoe mình, vì có lẽ cần buộc tôi, còn không rao truyền Tin Lành, thì khốn khó cho tôi thay” (I Cô-rinh-tô 9:16.)

Nói về Chúa, làm chứng nhân cho Chúa cách hăng say, rao truyền Tin Lành cách dạn dĩ là dấu hiệu của sự đầy dẫy Thánh Linh.

Tạ ơn Chúa, Hội Thánh bắt đầu hình thành bằng công việc của Thánh Linh.  Ngài thể hiện rõ ràng qua ba tiêu biểu rõ ràng và linh động: Gió, Lửa và Lời Nói.  Ðó là công thức đầu tiên và cũng là cuối cùng để Hội Thánh thi hành hầu hoàn tất Ðại Mạng Lệnh của Chúa Cứu Thế.  Như có chép… “Nếu chẳng ai rao giảng thì nghe làm sao? Lại nếu chẳng ai được sai đi thì rao giảng thể nào?...vì đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Ðấng Christ được rao giảng” (Rô-ma 10:17.)

D.L. Moody, nhà Truyền Ðạo nổi tiếng vì đã giảng cho nhiều người nghe Tin Lành nhất trước thời có máy vô tuyến truyền hình (TV).  Người ta ước lượng có khoảng 100 triệu người nghe Tin Lành qua chức vụ của nhà Truyền đạo vĩ đại này.  Nhưng có lần ông rất ân hận khi giảng tại thành phố Chicago vào ngày 8 tháng 10 năm 1871.  Bài giảng của ông có chủ đề “What Will You Do Then with Jesus Who Is Called The Christ”.  Ông đã nói một điều mà ông chưa bao giờ nói và sẽ chẳng bao giờ nói nữa. Ðó là “Bây giờ tôi cho quý vị một tuần để suy nghĩ và sẽ đáp ứng sứ điệp này khi chúng ta lại gặp nhau”  (Now I give you a week to think that over.  And when we come together again, you will have opportunity to respond).  Kế đó, Ira Sankey lên bắt đầu hát và trước khi bài hát chấm dứt người ta nghe tiếng còi xe chữa lửa vang lên inh-ỏi khắp đường phố Chicago và một đám cháy khủng khiếp xảy ra khiến  khoảng 100,000 người không chỗ ở và hàng trăm người chết trong cơn hỏa hoạn này.  Sau đó, Moody nhắc lại biến cố này và ông quyết định sẽ không bao giờ để người nghe Tin Lành lần lữa tiếp nhận nữa vì có lẽ nhiều người chết trong trận hỏa hoạn đó đã nghe Tin Lành mà chưa có dịp tin Chúa.

Cầu xin Chúa Thánh Linh đến với mỗi tôi con Chúa qua tiêu biểu Gió, Lửa và Lời Nói để chúng ta có thể sống đắc thắng, hoạt động hăng say và rao giảng sứ điệp cứu rỗi mạnh mẽ hầu đưa dắt nhiều người đến với Chúa để cùng nhau hoàn tất Ðại Mạng Lệnh của Chúa yêu quý chúng ta.

Mục Sư Nguyễn Anh Tài