![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Ma
Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay
|
|
|
|
Việt Hà biên soạn (Khởi đăng từ T.C. 161) Thò Cúng Ma Quỷ Trong Ngoại Giáo (t.t.)Thờ Cúng Trong Lão GiáoLão giáo hay Ðạo Giáo do Lão Tử lập ra. Ông là người đồng thời với Khổng Tử bên Trung Hoa. Học thuyết của Lão giáo trình bày trong cuốn Ðạo Ðức Kinh hàm chứa nhiều triết lý thâm trầm người thường khó hiểu tận tường. Tuy nhiên theo tác giả Toan Ánh trong Tín Ngưỡng Việt Nam chúng ta có thể tóm tắt tôn chỉ của đạo Lão như sau: “Ðạo Lão lấy thanh tĩnh tự nhiên làm tôn chỉ...Phải xét rõ việc đời, tình người để lấy sự nhạt nhẽo hư không mà đối với đời, không để một chút gì tơ tóc vướng víu đến mình ngõ hầu tận hưởng cái thú ung dung, nhàn nhã, sung sướng, khoan thai. Việc đời xảy tới đâu đối phó tới đó, không cần khó nhọc tâm cơ, hao tổn tinh thần, cứ lấy tự nhiên thù ứng các việc tự nhiên, rồi đâu sẽ ra đấy cả... Về phương diện triết lý, Lão Tử cho rằng đạo là một nguyên lý huyền diệu, vô hình, vô sắc, đã sinh ra âm dương trời đất và muôn vật. Muôn vật sinh ra khắp cả thế gian rồi lại quay trở về đạo, để lại hóa ra muôn vật, muôn loài, theo một cuộc tuần hoàn biến cải thiên nhiên. Tôn chỉ đạo Lão rất cao, ý tưởng rất lạ, duy đối với môn đồ Lão Tử thì phàm việc gì cũng cho là phù phiếm hư không, chỉ biết nhàn thân hưởng lấy mình, không thiết gì đến đời cho nên đạo Lão bị các người theo Nho học bác bỏ.” (Toan Ánh, Tín Ngưỡng Việt Nam (I) pp.203,204). Trên đây là tôn chỉ đạo Lão về phương diện lý thuyết, trong thực hành, ảnh hưởng của đạo Lão trong xã hội nước ta không giới hạn trong các tôn chỉ trên, nhưng đã chuyển sang các biến thể nghiêng hẳn sang chiều hướng thần bí. Toan Ánh ghi nhận như sau: “Riêng về đạo Lão, cái tôn chỉ cao xa của Lão Tử về sau đã bị các lưu phái biến thành lối thuật số, cách tu luyện đạo phù thủy với những điều dị đoan làm hư hại dân trí, không có ích dụng gì. Ðó chỉ là do các môn đồ đạo phái căn cứ theo tôn chỉ đạo Lão suy diễn ra một cách sai lầm vô tình hoặc cố ý”( Ibid. p.207). Toan Ánh cũng cho rằng các môn đệ đạo Lão đã lợi dụng lòng mê tín của quần chúng mà phát triển các hình thức pháp thuật như phù thủy, chiêu hồn, điều khiển âm binh, và nhất là cầu cơ và đồng cốt. Theo Phan Kế Bính thì “phù thủy có phép luyện âm binh, âm tướng, thường đêm khuya đến những nơi tha ma mộ địa, đốt hương khấn khứa, luyện phù luyện phép, để cầu cho các âm hôn phải theo hiệu lệnh của mình... Thầy phù thủy cũng có phép làm bùa yêu, bùa mê. Bùa yêu làm cho hai người ghét nhau phải thương nhau. Bùa mê làm cho người tỉnh trở nên mê mẩn, có khi hóa điên dại, phải có bùa mới hết. Người ta cũng lại nói rằng các thầy phù thủy có lắm phép kỳ lạ, sai khiến nổi âm binh làm những việc của người trần, nhưng phần nhiều thực hiện về đêm: sai âm binh đi tát nước vào ruộng, sai âm binh đi ném đá, gạch vào nhà người khác... Những thầy phù thủy mỗi khi điều khiển âm binh xong phải có lễ khao quân, nếu không âm binh sẽ phản lại đánh trả thầy, và mỗi khi sai âm binh thầy phù thủy phải canh chừng đừng để trời sáng, phải thâu âm binh về trước khi có ánh dương ló ra. Bị lộ thiên cơ, nghĩa là bị người trần trông thấy vào ban ngày, âm binh cũng đánh trả thầy” (Ibid. p.20). Sau đó Toan Ánh nhận định rằng, “Thuật phù thủy là một việc huyền ảo, thực thực, hư hư, các thầy phù thủy khéo thôi miên con người, nên thường được người đời tín nhiệm.” Thật ra nhận định như vậy cũng chỉ đúng một phần trong trường hợp các tay phù thủy bịp bợm, dùng những mánh khóe, xảo thuật để lừa dối giới bình dân trục lợi. Nhưng mặt khác, trong trường hợp thầy phù thủy là công cụ trong tay tà linh, ma quỉ thì những pháp thuật kia không phải là trò ảo thuật đâu mà là thể hiện quyền lực của sự tối tăm, của tà linh, của ma quỉ. Chính Toan Ánh cũng cho biết thêm rằng các thầy phù thuỷ đều lập những ngôi tĩnh, thường là một cái am hay một phòng nhỏ trong nhà để thờ các thánh thần trong đạo Lão như Thái Thượng Lão Quân, Ðộc Cước thần, Trương thiên sứ....”(p. 209). Trong ngôi tĩnh này thiết lập một “hương án, có bài vị, có tượng hoặc tranh vẽ vị thần thầy phù thuỷ thờ phụng, đặt trên một chiếc khám hoặc một chiếc ngai. Trước ngai là một hòm ấn kiếm, lẽ tất nhiên ấn gỗ và kiếm gỗ, tượng trưng cho uy pháp của vị thần...Ngôi tĩnh nào cũng có một chiếc kiểng. Trước khi cúng khấn thầy phù thủy bao giờ cũng đánh ba tiếng kiểng giáo đầu. Các bình hương ở một ngôi tĩnh luôn luôn ngày đêm thắp hương. Theo các thầy phù thủy nói, lúc nào ở tĩnh cũng có sự giáng lâm của thần hoặc của các bộ hạ ngài, do đó việc đèn nhang không thể sơ xuất được” (p. 210). Như vậy các hoạt động phù thủy thật ra chính là các hoạt động thờ cúng tà thần để được ban quyền lực pháp thuật thực hiện những hành vi siêu nhiên, qua đó lôi cuốn, thuyết phục được nhiều người sống trong sự tối tăm, từ đó giữ họ trong xiềng xích bền chắc của ma quỉ. Những hoạt động thần bí khác như lên đồng, cầu hồn, phụ tiên, bói toán, xin xâm, quẻ thẻ... đều là những hình thức thờ cúng trong các sinh hoạt thần bí xuất phát từ Lão giáo.
Thờ Cúng Trong Thần Ðạo Nhật Bản Cho đến thế chiến thứ hai, Thần Ðạo (Shintoism) là quốc giáo tại Nhật Bản chủ trương thờ đa thần, nhưng thần linh đứng đầu là Nữ Thần Mặt Trời Amatesaru. Cùng với việc Nhật thất trận trong thế chiến thứ hai, Thần Ðạo không còn được coi là quốc giáo tại Nhật nữa, cho nên việc quản lý, điều hành các ngôi đền được chuyển giao cho các hội đoàn tư nhân. Thần đạo là một tôn giáo cổ vũ lòng yêu nước và tính chất siêu đẳng của dân tộc Nhật Bản, vì thế tôn giáo này chỉ giới hạn trong biên cương quốc gia này mà thôi. Truy nguyên, thần đạo là một tôn giáo thờ thiên nhiên, coi các năng lực trong thiên nhiên đều là thần thánh mà mặt trời là thượng đẳng thần. Cho đến thế chiến thứ hai, hoàng đế Nhật Bản được thờ cúng và coi là có nguồn gốc thần linh. Nữ thần Mặt Trời Amatesaru được coi là thần ban cho hoàng đế Nhật Bản thẩm quyền cai trị. Tuy nhiên năm 1946, trong một chương trình phát thanh toàn quốc Nhật Bản, hoàng đế Hirohito đã tuyên bố trước quốc dân từ bỏ nguồn gốc thẩm quyền thần linh đó. Dầu vậy, cho đến nay dù không còn tuyệt đối tin vào nguồn gốc thần linh của hoàng đế, dân chúng Nhật Bản vẫn giữ lòng tôn kính đối với nhà vua. Mặt khác vì niềm tin tưởng cổ truyền vẫn tiềm tàng trong quảng đại quần chúng Nhật Bản cho nên họ vẫn kêu cầu, tin thờ thần thánh đủ loại tùy theo nhu cầu cá nhân và gia đình. Nhiều nhà có bàn thờ tuy nhiên nơi thờ cúng linh thiêng vẫn là đền thờ Thần đạo tại mỗi địa phương. Ðền thờ linh thiêng nhất là ở tại Ise cách thủ đô Tokyo hơn 300 km về phía Tây Nam. Ðây là nơi hàng năm người Nhật Bản khắp nơi trong nuớc đến hành hương. Nhiều người sùng kính Thần Ðạo cũng thường tham gia vào các hoạt động thần bí, bói khoa, thông linh, quỉ thuật, chiêu hồn... như đa số các dân tộc chịu ảnh hưởng các ngoại giáo khác, vì vậy, Thần Ðạo của Nhật Bản cũng là một đầu cầu thuận lợi cho các hoạt động của ma quỉ trong việc khống chế đời sống người dân Nhật Bản Hirohito mà chỉ có Tin Mừng cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê-xu mới có thể giải phóng họ được mà thôi.
Quyền Lực Tối Tăm Trong Hồi Giáo Hồi giáo là một tôn giáo có hệ thống giáo lý và thực hành dựa vào lời dạy của Mohammed, người được xưng tụng là tiên tri cuối cùng của Thượng Ðế sống trong khoảng 570-632 S.C. Ngày nay có khoảng 1 phần năm dân số thế giới theo đạo Hồi, tập trung tại các nước Bắc Phi và Tây Á, trải dài qua Ấn Ðộ, đến Mã lai, Indonesia và Phi-luật- tân. Dù Hồi giáo là một phong trào tôn giáo độc thần cực đoan, chống đối mãnh liệt các tôn giáo thờ đa thần, nhưng Hồi giáo lại mang dấu hiệu không thể nhầm lẫn được là một tôn giáo có nguồn gốc từ ma quỉ. Dù chủ trương độc thần, nhưng Hồi giáo lại phủ nhận thần tính của Chúa Cứu Thế Giê-xu và hạ thấp Ngài xuống chỉ còn là một người, một tiên tri và thậm chí vai trò tiên tri của Ngài còn thấp hơn cả Mohammed nữa. Theo kinh Koran, Mohammed đã tự xưng là “dấu ấn của các tiên tri”, là tiên tri cuối cùng và lớn nhất. Ông tự nhận là dòng dõi của “tiên tri” Ích-ma-ên, con trưởng của Áp-ra-ham. Mohammed cũng dạy rằng kinh Koran do ông trứ tác trong 23 năm là nguồn mặc khải duy nhất. Ông cũng tự nhận là sứ đồ cuối cùng của mọi thời đại. Theo Kinh Thánh thuốc thử tà giáo là tín niệm về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bất cứ giáo lý nào phủ nhận thần tính, nhân tính hay cả hai bản tính thần nhân nơi Chúa đều là “giáo lý của quỉ dữ” ( I Ti-mô-thê 4: 12; I Giăng 4: 1-3). Kinh Koran phủ nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu là Con Ðức Chúa Trời dù có nói đến sự giáng sinh đồng trinh đề cập trong Lu-ca 1:26-38 (Surah 3:45-47). Kinh Koran gọi Chúa Giê-xu là một tiên tri, đồng đẳng với Áp-ra-ham, Giô-na và những tiên tri khác, nhưng lại đặt Ngài ở chỗ thấp hơn Muhammed. Sách Surah bảo rằng “Giê-xu... chỉ là một sứ giả của Allah...không thể là con của Allah siêu việt vinh quang.” Muhammed cũng hoàn toàn không đề cập gì đến những lời tuyên xưng của Chúa Giê-xu như trong Giăng 10:30 “Ta với Cha là một”; Giăng 14:9 “Ai thấy ta là đã thấy Cha”; Giăng 8:58 “Trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta.” Kinh Thánh tuyên bố rằng chính Ðức Chúa Trời gọi Chúa Giê-xu là Con Ngài (Ma-thi-ơ 17:5). Ma quỉ run sợ khi thấy Chúa Giê-xu và chúng nhận ra Ngài là Con Ðức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 8:29). Thô-ma là vị sứ đồ hoài nghi nhưng cũng đã xưng nhận Chúa Giê-xu là “Chúa tôi và Ðức Chúa Trời tôi” (Giăng 20:28). Sứ đồ Giăng xác định Chúa Cứu Thế là tạo hóa của vạn vật “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi lời ở cùng Ðức Chúa Trời và Ngôi Lời là Ðức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Ðức Chúa Trời. Muôn vất bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài…” (Giăng 1:1-5). Phao-lô cũng khẳng định như vậy nói rằng Chúa Giê-xu chính là “hình ảnh của Ðức Chúa Trời không thấy được…” (Cô-lô-se 1:15-17) Với những bằng chứng tiêu biểu trên trong Thánh Kinh về Chúa Cứu Thế, người ta không có cách nào khác hơn để phủ nhận ngoài ra cách đã làm trong kinh Koran đó là bỏ qua, không đề cập gì đến những bằng chứng đó và coi như không có! (còn tiếp) Thông Báo Kính mời quí độc giả Thông Công vào mạng lưới www.codocnhan.com để đọc và nghe Kinh Thánh, Thánh Ca, các bài giảng luận, bài học Kinh Thánh, các chương trình phát thanh và các bài thi văn nâng đỡ đời sống tâm linh. |
|
|
|