![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
Môn Ðồ Im Lặng |
|
|
|
Có một câu chuyện ngụ ngôn bảo rằng sau khi Chúa Giê-xu chịu khổ nạn, chịu chết, phục sinh và về trời, thiên sứ Gáp-ri-ên ra cổng thiên đàng đón rước. Nhìn những nét đau thương còn phảng phất trên gương mặt Chúa, thiên sứ Gáp-ri-ên hỏi: - Con người đối xử với Chúa tệ bạc lắm phải không? - Phải. Ta bị phản bội, bị bắt, bị đánh và họ đã đóng đinh ta như một tên gian phạm. - Thế họ có biết là Chúa yêu thương họ không? - Có. Nhưng chỉ ít người thôi. - Vậy làm sao cho cả thế giới biết …? - Ta có các môn đồ – Giăng, Phi-e-rơ, Gia-cơ… - Nhưng nếu mấy người đánh cá này mệt mỏi, xao lãng, quên… thì làm sao những người khác biết tình thương của Chúa? Chúa có kế hoạch nào khác không? - Không. Ta không có kế hoạch nào khác. Ta tin tưởng họ.
*** Hai mươi thế kỷ sau, Chúa Giê-xu vẫn không có kế hoạch nào khác. Chúa vẫn tin tưởng những người Ngài đã cứu chuộc, tin rằng họ sẽ nói về tình thương và sự cứu rỗi của Ngài cho người thân, cho bạn bè, cho thế giới hư vong. Nếu họ bận việc, bận nuôi con, bận làm thêm giờ hay đi nghỉ hè… thì Chúa vẫn tin tưởng họ và vẫn đợi chờ cho đến khi nào họ “rảnh”, họ sẽ nhớ lại Ðại Mạng Lệnh Ngài đã truyền “Hãy đi khiến muôn dân trở nên môn đồ ta…” (1) và để ý đến lời than thống thiết, “Những chiên ta đi lạc trên mọi núi và mọi đồi cao. Những chiên ta tan tác trên cả mặt đất, chẳng có ai kiếm, chẳng có ai tìm…” (2) Ngày nay Chúa Giê-xu có nhiều môn đồ trên thế giới nhưng đa số là những môn đồ im lặng. Tại sao họ im lặng là câu hỏi rất khó có câu trả lời chung, vì dường như mỗi người đều có lý do riêng. Tuy nhiên lý do đơn giản nhất là “quên” và nhiều môn đồ Chúa Giê-xu đã “quên” nói về Chúa trong nhiều năm tháng. Với lý do này người ta nghĩ rằng có thể trút bỏ trách nhiệm thật dễ dàng! Ðối với những người thật sự quan tâm đến việc hoàn tất Ðại Mạng Lệnh của Chúa thì đây là viễn ảnh đáng buồn. Chúng ta cần trở lại với phong trào truyền giảng tin lành trong thời kỳ đầu để xem thế hệ đầu tiên đã tuân giữ mạng lệnh Chúa như thế nào. Hội Thánh ban đầu mới thành lập tại Giê-ru-sa-lem không bao lâu thì bị bách hại dữ dội và máu người tử đạo đầu tiên đã đổ. Bách hại không chỉ đến từ chính quyền đô hộ La-mã, nhưng còn do giới lãnh đạo Do-thái giáo khiến cho “hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri…những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng tin lành…” (3). Ðiều gì đã thôi thúc các tín hữu bị bách hại, phải chạy tan lạc khắp nơi mà vẫn rao giảng tin mừng? Ai buộc họ nói? Ai trả lương cho họ? Ai khen ngợi họ? Ðộng cơ nào đã khiến họ rao giảng tin mừng một cách hăng hái, nhiệt thành? Cho đến nay, khi một tình huống tương tự được lặp lại thì đối với những người vô tín, đây vẫn là một tình huống khó hiểu. Khi một người tự nguyện, hăng hái, nhiệt thành nói một điều gì thì đó phải là điều họ biết rất rõ do học tập và do kinh nghiệm. Ít ai dám nói điều mình không nắm vững. Hiển nhiên, các tín hữu đầu tiên đã biết rất rõ tin lành họ rao giảng, vì sau khi tiếp nhận Chúa, đã có một thời gian họ được học, được dạy, được chia xẻ, được kinh nghiệm niềm tin mới trong một môi trường tối ưu là Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem. Họ “bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh và sự cầu nguyện… Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà…” (4). Không bao lâu những gì họ đã học thấm nhập vào tâm hồn và trở thành lý tưởng sống khiến cho việc nói về Chúa không còn là “công tác” nhưng là nếp sống. Chỉ khi việc rao giảng tin lành trở thành “nếp sống” họ mới có thể đi đâu cũng nói về Chúa một cách tự nhiên và dễ dàng, thể hiện đúng điều Chúa Giê-xu từng dạy, “các con là muối của đất, là ánh sáng của trần gian.” Cho đến khi nào việc rao giảng tin lành, việc nói về Chúa hay “làm chứng về Chúa” trở thành lối sống (lifestyle) của con cái Chúa, lúc bấy giờ Hội Thánh mới có thể trông mong có được một sức thu hút, một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với cộng đồng. Mới đây, Giáo Hạt đưa ra chỉ tiêu “dắt đưa 2000 người tiếp nhận Chúa làm của lễ tạ ơn” trong đại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ sẽ tổ chức vào tháng 7, 2005 và khích lệ toàn thể tôi con Chúa dốc toàn lực thực hiện chỉ tiêu trên. Ðây không phải là điều khó nếu chúng ta tuân theo các nguyên tắc môn đồ ban đầu đã theo: 1. Mỗi tín hữu được nuôi dưỡng đầy đủ, được trang bị chu đáo trong Hội Thánh địa phương bằng Lời Chúa và bằng mối thông công sinh động. Trách nhiệm nuôi tín hữu bằng lời Chúa phần lớn là trách nhiệm của những người có chức năng giảng và dạy trong Hội Thánh. Trách nhiệm vun xới mối thông công là của tất cả mọi người. 2. Có tình yêu chân thật đối với những người hư vong khi tập nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giê-xu, “Khi Ngài thấy đám dân đông thì động lòng thương xót, vì họ cùng khốn và tan lạc như chiên không có kẻ chăn” (5). Cầu nguyện xin Chúa ban tình yêu này và đồng thời hành động để bày tỏ tình yêu: đi thăm, gọi điện thoại, kết bạn… 3. Coi việc nói về Chúa hay làm chứng nhân cho Chúa không phải là công tác gắng gượng, nhất thời nhưng là nếp sống. Sẽ không có “nếp sống chứng nhân” nếu trong Hội Thánh địa phương có quá ít người tích cực làm chứng cho Chúa. Vì vậy vai trò hỗ trợ triệt để, thường xuyên và bền bỉ của Hội Thánh địa phương cho chứng nhân là thiết yếu. Ðể khởi đầu, cần có một vài gương mẫu. Ai sẽ là những gương mẫu đó? Một tân tín hữu gia nhập Hội Thánh dần dần sẽ biết cầu nguyện, dâng hiến, phục vụ vì hầu hết các tín khác đều làm như vậy. Nhưng rất tiếc, trong Hội Thánh thường rất ít tín hữu có nếp sống chứng nhân tích cực cho nên tân tín hữu không có cơ hội học hỏi, tập tành nói về Chúa. Lâu dần họ cũng lại sẽ trở thành “môn đồ im lặng.” 4. Chú ý nguyên tắc “người này gieo, người kia gặt” (6). Nói về Chúa cho người khác là “gieo” và không nhất thiết là chúng ta sẽ được gặt chỗ chúng ta gieo. Rất nhiều khi chúng ta sẽ gặt nơi người khác gieo. Ðặc điểm của nguyên tắc này là giúp chúng ta không nản lòng khi không thấy kết quả trước mắt và cũng không “lên mình kiêu ngạo” khi có nhiều người tin Chúa. Tuy nhiên điều cần nhấn mạnh là nếu Hội Thánh nào không có người trung tín gieo thì không nên trông mong có mùa gặt lớn. Ðây cũng là lẽ công bằng! 5. Trên hết mọi sự Ðức Thánh Linh là Ðấng nắm vai trò quyết định trong sứ mạng rao giảng tin lành. Ngài thôi thúc, soi sáng chứng nhân và dạy chứng nhân những lời phải nói. Ðức Thánh Linh cũng là Ðấng khai mở tâm trí, tâm linh đối tượng để có thể hiểu và tiếp nhận Tin Lành. Không có tác động của Thánh Linh người nghe sẽ không hiểu, không ăn năn, đức tin không xuất hiện. Không có tác động của Thánh Linh mọi kế hoạch rao giảng của chúng ta không có kết quả lâu bền. Chúa Giê-xu hứa với các sứ đồ rằng khi cần, Ðức Thánh Linh sẽ ban cho họ những lời cần nói, “Ấy chẳng phải các ngươi tự nói đâu, song là Thánh Linh của Cha các ngươi sẽ từ trong lòng các ngươi nói ra” (7). Hơn bao giờ hết chúng ta cần quen biết Ðức Thánh Linh, cần hiểu rõ chức năng và công việc của Ngài trong đời sống mình và trong Hội Thánh. “Hội chứng môn đồ im lặng” không phải là tình trạng bình thường nhưng là dấu hiệu của bịnh hoạn chỉ có thể được chữa lành khi tôi con Chúa ý thức tình trạng ngưng trệ, sa sút tâm linh và ăn năn, sửa đổi. Mỗi người quyết tâm lập lại bàn thờ đổ nát trong đời sống. Thiết lập hay chỉnh đốn giờ tĩnh nguyện cá nhân và chính tại đây Ðức Thánh Linh sẽ khai mở cho chúng ta con đường phục hồi tương giao với Chúa, với chính mình và với người. Một khi mọi mối tương giao được khai thông, chúng ta sẽ ra khỏi cái im lặng của mặc cảm hổ thẹn và sẵn sàng chia xẻ tin mừng đầy ắp trong lòng một cách thật tự nhiên. Một người kia bước lên chuyến xe buýt đông khách, tìm được một ghế trống trên đó có một truyền đạo đơn ai để lại. Ông ta ngồi xuống và bắt đầu đọc. Nửa giờ sau đến trạm, ông bước xuống và trở thành một người mới. Ông gia nhập một Hội Thánh gần nhà, trung tín thờ phượng Chúa và không lâu vợ ông và các con cũng đều tin Chúa. Ðời sống ông thể hiện ra một tình yêu rất đặc biệt với Chúa và với tha nhân. Trong túi ông lúc nào cũng có sẵn truyền đạo đơn, và không người nào gặp ông mà không được nghe ông nói về Chúa, Ðấng ông rất mực tôn kính, yêu thương. Một ngày kia trong buổi mạn đàm, có người hỏi ông khi vào thiên đàng gặp Chúa thì câu đầu tiên ông sẽ nói với Chúa là gì. Ông trả lời không do dự, bảo rằng ông sẽ hỏi Chúa ai là người đã để tờ truyền đạo đơn trên ghế xe buýt để ông được biết Ngài. Thông Công
(1) Ma-thi-ơ 28:19-20 (2) Ê-xê-chi-ên 34:6 (3) Công-Vụ 8:1-4 (4) Công-Vụ 2:42-47 (5) Ma-thi-ơ 9:36 (6) Giăng 4:37, 38 (7) Ma-thi-ơ 10:20
|
|
|
|