![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
Trưởng Thành Trong Ðức Tin |
|
|
|
Ga-la-ti 4:8-20“…Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Ðấng Chrsit thành hình trong các con...” Ga-la-ti 4:19
Trưởng thành là môt khái niệm quan trọng trong đời sống. Hình ảnh đơn giản nhất của trưởng thành là trái cây chín mọng, ngon ngọt. Sau vườn nhà tôi có một cây hồng, tuy không sai trái nhưng quả khá to. Tôi thường cắt vào giấu cho chín khi còn cứng, nhưng năm nay tôi để lại vài trái để xem hồng chín trên cây như thế nào và tôi đã được tưởng thưởng đích đáng! Nói về người thì người trưởng thành là người đã trải qua giai đoạn chuẩn bị, đã học xong, đã vào đời và đang thành công trong nghề nghiệp. Về phương diện tâm lý, người trưởng thành là một người có cuộc sống khôn ngoan, quân bằng, là gương mẫu, là tiêu chuẩn sống cho đám hậu sinh và các thành phần khác. Về phương diện đức tin, người trưởng thành là người có lập trường vững chắc, không bị dẫn dụ bởi bất cứ một giáo thuyết sai lạc nào. Ngưởi trưởng thành trong đức tin là người biết rõ Chúa, biết và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Cơ-đốc nhân trưởng thành là người có cuộc sống kết quả, một người hữu dụng cho Chúa trong Hội Thánh, trong gia đình, trong mọi hoàn cảnh và mọi môi trường sống. Trái với trưởng thành là ấu trĩ, non nớt, là những trái xanh còn non, chưa chín đã rụng, là một cây con chưa đủ lớn để ra trái, là một người còn lệ thuộc cha mẹ. Một người có thể đã lớn tuổi nhưng vẫn chưa trưởng thành khi có cá tính đơn sơ dại dột của trẻ con, có đời sống tâm lý không quân bằng, không ổn định, bất nhất, không được người khác tin cậy. Người đã lớn mà chưa trưởng thành có thể là mối lo cho gia đình, nỗi buồn cho Hội Thánh và hiểm họa cho xã hội. Chúng ta có thể cảm nhận được tâm trạng bối rối của Thánh Phao-lô khi ông viết cho tín hữu ở các Hội Thánh vùng Ga-la-ti, là những Cơ-đốc nhân ông coi là những tín hữu chưa trưởng thành. Sau khi trình bày, giải thích những giáo lý căn bản của đức tin mà ông biết họ chưa nắm vững, ông đã phải hạ bút, “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Ðấng Christ thành hình trong các con, ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử” (Ga-la-ti 4: 19, 20). Cho đến nay, tình trạng ấu trĩ thuộc linh này khá phổ biến và chúng ta có thể thấy trong các cộng đoàn Cơ-đốc. Ðây là tình trạng gây khó khăn cho sự tăng trưởng của cả Hội Thánh cũng như đời sống cá nhân tín hữu. Thánh Phao-lô trong thư Ga-la-ti 4:8-20 viết như sau, “Xưa kia anh em chẳng biết Ðức Chúa Trời chi hết thì làm tôi các thần vốn không phải là thần. Nhưng hiện nay anh em biết Ðức Chúa Trời lại được Ðức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở về lề thói hèn yếu, nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư? Anh em hãy còn giữ ngày, tháng, mùa, năm ư? Tôi lo cho anh em, e tôi đã làm việc luống công giữa anh em. Hỡi anh em, tôi xin anh em hãy giống như tôi; vì tôi cũng như anh em. Anh em không làm hại gì cho tôi . Anh em biết rằng ấy là trong lúc xác thịt yếu đuối mà tôi truyền tin lành cho anh em lần thứ nhất, vì xác thịt tôi yếu đuối sinh ra sự rèn thử cho anh em mặc dầu, anh em cũng chẳng khinh tôi, chẳng chối tôi, mà lại tiếp rước tôi như một vị thiên sứ của Ðức Chúa Trời, thật như chính mình Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy thì sự vui mừng của anh em đã trở nên thể nào? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, lúc bấy giờ nếu có thể được thì anh em cũng móc con mắt mà cho tôi. Tôi lấy lẽ thật bảo anh em, lại trở nên thù nghịch của anh em sao? Những người đó vì anh em mà sốt sắng, thì không phải là ý tốt; nhưng họ muốn anh em lìa bỏ chúng tôi hầu cho anh em sốt sắng vì họ. Có lòng sốt sắng vì điều thiện thì tốt lắm, lúc nào cũng thế, không những khi tôi có mặt giữa anh em. Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Ðấng Christ thành hình trong các con, ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử.” Các nhà giải kinh gọi thư Ga-la-ti là bản hiến chương về tự do của Cơ-đốc nhân và qua bức thư ngắn ngủi này, Phao-lô đã biện giải một chân lý cứu rỗi quan trọng nhưng rất khó chấp nhận đối với tâm trí một người theo Do-thái giáo khi ông nhấn mạnh rằng, “chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Ðức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin” (Ga-la-ti 3:11). Phao-lô khẳng định rằng Cơ-đốc nhân là người được giải phóng khỏi tình trạng nô lệ giới luật, là người được cứu rỗi nhờ đặt lòng tin nơi sự chết chuộc tội của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Trong kế hoạch cứu rỗi, Ðức Chúa Trời không cần con người phụ giúp bằng công dịch nô lệ, Ngài chỉ mong họ đáp ứng bằng lòng tin. Trong khi đó, đã từ bao đời, người Do-thái rất hãnh diện và tin tưởng rằng nỗ lực cá nhân tuân giữ giới răn và thực hành các nghi thức tôn giáo là thiết yếu cho sự cứu rỗi. Họ dựa vào công đức, vào việc lành, vào các lễ nghi tế tự, cho rằng những nghi thức đó cũng thiết yếu cho sự cứu rỗi y như đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ không biết rằng mục đích chính yếu của Ðức Chúa Trời khi ban giới răn là ban tấm gương soi để khi đối chiếu đời sống mình với những tiêu chuẩn toàn hảo của Chúa, con người thấy ngay mọi giới hạn và sai phạm của chính mình. Giới răn có mục đích khai mở tâm trí tối tăm, khiến con người nhận diện tội lỗi và hiểu ra rằng huyết sinh tế dâng trên bàn thờ là dấu chỉ về sự chết chuộc tội của Chúa Giê-xu, cho nên khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến để thực hiện và hoàn tất kế hoạch cứu rỗi thì vai trò của giới răn cũng như các sinh tế không còn cần thiết nữa. Nhưng người Do thái tiếp tục bám chặt lấy giới răn và các truyền thống tôn giáo nghĩ rằng nhờ đó họ được Ðức Chúa Trời chấp nhận. Nói cách khác, họ không muốn nhận sự cứu rỗi của Ðức Chúa Trời như một tặng phẩm mà muốn mua bằng công đức, muốn đạt được bằng cố gắng riêng, hay ít ra góp vốn vào công trình cứu rỗi bằng việc lành hay bằng cuộc sống đạo đức cá nhân. Tóm lại, các giáo sư Do-thái trong các Hội Thánh Ga-la-ti tin rằng để được cứu rỗi, ngoài việc tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu còn phải tiếp tục tuân giữ các giới răn trong Do-thái giáo thì mới trọn vẹn. Lối suy nghĩ trên không chỉ là của riêng người Do Thái mà còn là của nhiều người trong các tôn giáo ngày nay. Khi bảo một người nào đó “sùng đạo” người ta liên tưởng ngay đến việc tuân giữ giáo qui, các giới cấm, sốt sắng làm “công quả”, tham gia các sinh hoạt tôn giáo như đi nhà thờ, đóng góp cho các công việc từ thiện và liên kết tất cả những công tác và bổn phận tôn giáo trên với sự cứu rỗi, hay đạt đạo của mình. Tu trì và cố gắng giữ giới răn, cố gắng làm lành để được lên thiên đàng hay đạt đạo đã trở thành qui luật cố hữu, đã biến thành một thứ chân lý khó lay chuyển trong con người, đây là quan điểm của những người chưa trưởng thành đối với giáo lý cứu rỗi. Còn các tín hữu gốc ngoại bang tại các Hội Thánh Ga-la-ti thì sao? Ða số là người Hy-lạp, có lẽ cũng có một số công dân La-mã hay các sắc dân khác. Có thể họ là những người đã theo Do-thái Giáo một thời gian, sinh hoạt trong các nhà hội Do-thái, chịu ảnh hưởng của giới răn, luật lệ, và các tập tục truyền thống Do-thái, nhưng đồng thời họ vẫn còn ảnh hưởng của ngoại giáo, của quãng đời trước khi gia nhập Do-thái Giáo. Với những người này, Phao lô thấy sau khi họ đã tin Chúa Giê-xu, nhưng lại vẫn còn có những biểu lộ lệ thuộc vào nếp tín ngưỡng cũ nên ông đã viết, “Xưa kia anh em chẳng biết Ðức Chúa Trời chi hết thì làm tôi các thần vốn không phải là thần . Nhưng hiện nay anh em biết Ðức Chúa Trời lại được Ðức Chúa Trời biết đến nữa, sao còn trở về lề thói hèn yếu, nghèo nàn đó mà suy phục nữa ư? Anh em hãy còn giữ ngày, tháng, mùa, năm ư? Tôi lo cho anh em e tôi đã làm việc luống công giữa anh em.” Có lẽ điều làm chúng ta ngạc nhiên là dù cách chúng ta gần hai mươi thế kỷ nhưng tín hữu Ga-la-ti hồi đó lại có những quan niệm không xa lạ gì với những quan niệm mê tín dị đoan của người Việt, tin vào việc chọn ngày giờ hung kiết. Coi tuổi, chọn ngày, nhắm hướng, sợ hãi những thế lực thiên nhiên hay những dấu hiệu bất tường, sợ tiếng cú kêu, chuột rúc, kiêng cữ trong những ngày tang chế, trong các dịp hiếu hỉ… Ðó là những quan niệm rất khó gột rửa khỏi tâm trí và là những cái giữ con người ở trong tình trạng ấu trĩ. Những quan điểm cố hữu đó chính là những nút chận âm thầm làm cho đời sống thuộc linh của người tin Chúa tắc nghẽn không tăng trưởng được. Nhiều tín hữu hôm nay có lẽ không có lối mê tín dị đoan như trên nhưng rất có thể rơi vào đối cực khác. Họ không dám hoàn toàn tin vào quyền năng tuyệt đối và sự tể trị của Ðức Chúa Trời, nhưng pha trộn vào đó lòng tin nơi khả năng của chính mình: tin vào cách thức tổ chức điều hành ngoài đời và đem phương pháp của người đời vào Hội Thánh, muốn Hội Thánh áp dụng nguyên tắc điều hành như của một công ty, một hội đoàn thế tục. Trong các cuộc bàn luận trong Hội Thánh, thỉnh thoảng chúng ta vẫn nghe những lời phát biểu như, “Ở trong cơ quan của tôi nguời ta làm như thế này, như thế kia…” hàm ý rằng Hội Thánh nên áp dụng như vậy. Người phát biểu như thế có thể rất chân thành và muốn xây dựng, nhưng đã quên rằng Hội Thánh của Ðức Chúa Trời không phải là một tổ chức thế tục. Dù vẫn mang danh là Cơ-đốc nhân nhưng có người đã âm thầm loại bỏ Chúa khỏi cuộc sống khi không hành động, không quyết định dựa trên nguyên tắc của Lời Chúa mà thường làm dựa vào ý thích cá nhân, vào tiêu chuẩn và xu hướng chung của người đời, và đó là hình thức vô tín phổ thông nhất. Chúng ta có thể nêu lên một số tình huống điển hình khác như sau: sống, cư xử, làm việc trước mặt cho vừa lòng người để mua cảm tình, để gây uy tín, để được giúp đỡ, để được thăng thưởng; mua sắm tiêu xài nhiều khi không chỉ vì cần nhưng còn để cho cho người ta nể nang, để bằng hoặc hơn người khác. Sẵn sàng nói dối nếu có lợi và sẽ không thành thật nếu vì nói thật mà bị thiệt thòi. Sẵn sàng thất tín, bội phản để bảo vệ chính mình… Những người sống như thế mà vẫn nhận mình là Cơ đốc nhân thì hiển nhiên đó là một Cơ-đốc nhân hình thức hoặc là một Cơ-đốc nhân còn ấu trĩ. Cốt lõi của tình trạng ấu trĩ thuộc linh như các tín hữu tại Ga-la-ti có thể tóm tắt trong một câu: Họ tin Chúa theo giáo lý, nhưng không biết rõ Ngài trong cuộc sống. Các tín hữu tại Ga-la-ti đã tiếp nhận Tin Lành do Phao-lô rao giảng, biết Phao-lô là sứ đồ, tin cậy chức vụ của ông cũng như sứ mạng ông truyền đạt đến từ Chúa, nhưng rồi họ cũng sẵn sàng đổi ý khi có người đến dẫn dụ họ theo một giáo lý mới. Họ là những tín hữu không có lập trường. Có lẽ họ còn mới mẻ trong đức tin, chưa hiểu hết những điều mầu nhiệm trong giáo lý cứu rỗi, không ai trách họ trong việc này, tuy nhiên điều họ không thể bào chữa đó là thái độ vô lý đến độ trẻ con khi không chịu đối chiếu Phao-lô với những người kia. Khi Phao-lô không còn cách gì giải thích cho họ, ông đã phải kêu lên, “Hỡi các con, vì các con mà ta lại chịu đau đớn của sự sinh nở, cho đến chừng nào Ðấng Christ thành hình trong các con, ta muốn ở cùng các con và thay đổi cách nói vì về việc các con, ta rất là bối rối khó xử” (Ga-la-ti 4: 19, 20). Tại đây thánh Phao-lô đã nêu lên lý do chính khiến tín hữu Ga-la-ti ở trong tình trạng chấp chới, chênh vênh trong đức tin: Chúa Giê-xu chưa thực sự thành hình trong đời sống tâm linh của họ. Họ mới chỉ biết Chúa trong giáo lý mà chưa kinh nghiệm Chúa trong đời sống. Các nguyên tắc sống của Chúa Giê-xu chưa trở thành các nguyên tắc sống của họ. Họ chưa ý thức rằng cần phải tuyệt đối tôn trọng Lời Chúa. Họ vẫn “nể vì” thói tục cũ, vẫn tiếp tục giữ ngày, tháng, mùa, năm theo truyền thống người đời. Nếu có ai quyết tâm giữ Lời Chúa thì lại coi quyết tâm đó như một thứ công đức, một loại “tiền” để trả giá với Chúa. Không những thế họ còn đánh giá lẫn nhau dựa trên những tiêu chuẩn ấu trĩ đó, vì thế mà trong một lúc, họ đã trở thành “thù nghịch” với Phao-lô. Truớc đây họ chấp nhận Phao-lô, yêu thương Phao-lô đến độ dám “móc mắt tặng Phao-lô”. Bây giờ thì tình hình đã đổi khác. Phao-lô vẫn tiếp tục vững vàng trong đức tin và trong mối tương giao với Chúa Cứu Thế, nhưng tín hữu Ga-la-ti đã thay lòng đổi dạ, chính vì vậy, ông biết ngay họ đang ở trong một tình hình nguy khốn và trở thành mục tiêu dễ dàng của các giáo sư giả. Hơn nữa Phao-lô ở xa, còn đám giáo sư giả kia ở gần. Phao-lô không thể liên lạc thường xuyên, nhưng đám giáo sư giả kia thì cứ ngày một ngày hai tuyên truyền giáo thuyết sai lạc của họ khiến cho đức tin của những tín hữu non trẻ Ga-la-ti bị xói mòn dần dần, có thể đến chỗ sụp đổ... Ma-quỉ đã và đang sử dụng phương thức này trong Hội Thánh Ðức Chúa Trời. Truớc hết, chúng bắt lấy một vài nhân tố trong Hội Thánh có những khuynh hướng nguy hiểm như tự mãn, kiêu ngạo, vị kỷ, ganh tị, nhạy chỉ trích phê phán… Rồi chúng chuẩn bị một số đối tượng cho thành phần trên, đó là các tín hữu nhẹ dạ, ấu trĩ trong đức tin, rồi tạo điều kiện cho hai thành phần này có cơ hội tiếp xúc với nhau. Không gì nguy hiểm hơn là cuộc hội ngộ giữa chiên đi lạc và những người chăn thuê – chiên lạc sẽ bị dẫn dụ và trở thành nạn nhân một cách dễ dàng. Các tín hữu tại Ga-la-ti đã nhanh chóng quên Phao-lô và quên cả Tin Lành Cứu Rỗi thật đơn sơ ông rao giảng: được cứu nhờ ân sủng, bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ quay trở lại với những truyền thống cũ, với xiềng xích của hệ thống giới răn, qui điều, luật lệ phức tạp giăng mắc đầy dẫy trong tôn giáo cũ do các giáo sư Do-thái diễn giải và thêm thắt vào. Phao-lô hiểu rằng để có thể thoát ra khỏi khu rừng rậm này, họ cần biết Chúa một cách cụ thể nghĩa là “Chúa Cứu Thế phải thành hình” trong họ và ông đã dùng hình ảnh của người mẹ sinh con, chịu đau đớn cùng cực lúc lâm bồn. Những đau đớn ông chịu lúc rao giảng Tin Lành cho người Ga-la-ti, những đau đớn lâu dài ông phải chịu để lo lắng gây dựng đức tin cho họ biết Chúa, và rồi cả những đau đớn nát lòng khi ông thấy họ thay lòng đổi dạ, lìa bỏ tin lành cứu rỗi ông cố công truyền đạt để nghe theo những lời đường mật của giáo sư giả, bị ma-quỉ lừa phỉnh mà trôi lạc vào con đuờng nguy hiểm cậy công đức của mình thay vì nương cậy công nghiệp cứu chuộc của Chúa. Tóm lại, khác với tình trạng trưởng thành tâm lý thông thường là tự lập và độc lập với cha mẹ, một người trưởng thành trong đức tin càng ngày càng phải bớt cậy mình mà thêm tùy thuộc Chúa. Hiển nhiên, người ta chỉ dám tin cậy Chúa khi biết rõ Ngài, khi hình ảnh Chúa Cứu Thế hình thành và hiển lộ chói sáng trong tâm trí, tâm hồn tín hữu. Nói cách khác đó là khi tư tưởng, lời nói và hành động của người tin Chúa phù hợp với các nguyên tắc công chính, yêu thương, thánh khiết của Ðức Chúa Trời. Người trưởng thành trong Chúa không nhất thiết phải là học giả Kinh Thánh hay có khẩu tài, có óc tổ chức, có tài lãnh đạo… Có những khả năng này rất tốt, nhưng về căn bản, trên hết phải là một người ở trong tình trạng của một cây trồng bên dòng suối, âm thầm ra quả chín theo mùa và mọi người có thể thấy quả chín đó trong dạng thức của tình yêu thương, nét vui mừng, vẻ bình an, tính nhịn nhục, khiêm nhường, hiền lành, trung tín, mềm mại và tiết độ. Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh |
|
|
|