![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Giảng Luận |
|
|
|
Ðặc Ðiểm của Tín Ðồ
Kinh Thánh: I Tê-sa-lô-ni-ca 1
“Trước mặt Ðức Chúa Trời là Cha, tôi nhớ mãi về công việc của đức tin anh em, công lao của lòng yêu thương anh em, sự bền đỗ về sự trông cậy của anh em trong Chúa Cứu thế Giê-xu” (c.3)
Cơ-đốc nhân là người không hút thuốc, không uống rượu, không bài bạc, trai gái. Cơ-đốc nhân là những người chân thật, tử tế, hay giúp đỡ. Ðó có phải là những nét “đặc trưng” của riêng Cơ-đốc nhân không? Trong xã hội, nhiều người không có đạo cũng có đời sống đạo đức tốt, không bê tha rượu chè bài bạc. Cũng có người không có đạo mà rất chân thật, tử tế, hay giúp đỡ, trong khi có một số người mang danh tín đồ nhưng có đời sống đạo đức không bằng người chưa tin. Như vậy hiển nhiên những khía cạnh đạo đức nêu trên không phải là những đặc điểm cơ bản của Cơ-đốc nhân. Ðặc điểm cơ bản của Cơ-đốc nhân là gì? Trong chương 1 bức thư gửi cho tín hữu tại Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca, Thánh Phao-lô đã nêu lên ba đặc điểm: đức tin, tình yêu thương và hy vọng. Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca được Phao-lô thành lập trong hành trình truyền giáo thứ hai được ký thuật trong Công Vụ chương 17,18. Thành phố Tê-sa-lô-ni-ca là thủ phủ, là trung tâm thương mại của miền Ma-xê-đoan cho nên hiển nhiên tín hữu tại đây cũng phải đương đầu với nan đề của cuộc sống sa đọa của những thành phố lớn. Vì vậy, trong thư I Tê-sa-lô-ni-ca được viết trong khoảng năm 51-52 SC, Thánh Phao-lô đã đưa ra những chỉ dẫn thực tế cho nếp sống Cơ-đốc giữa một nền văn hóa chống lại với các giá trị Cơ-đốc. Chúng ta có thể thấy điều đó trong phần đầu bức thư như sau: 2"Chúng tôi hằng vì anh em tạ ơn Ðức Chúa Trời, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện; 3vì trước mặt Ðức Chúa Trời là Cha, chúng tôi nhớ mãi về công việc của đức tin anh em, công lao của lòng yêu thương anh em, sự bền đỗ về sự trông cậy của anh em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta. 4Hỡi anh em yêu dấu, chúng tôi biết anh em là kẻ được lựa chọn. 5Vả đạo tin lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Ðức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em và lòng yêu thương đối với anh em là thể nào. 6Anh em đã bắt chước tôi và bắt chước Chúa, lấy sự vui vẻ của Ðức Thánh Linh mà tiếp nhận đạo giữa lúc gặp nhiều sự khốn khó, 7đến nỗi anh em trở nên gương tốt cho hết thảy tín đồ ở xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai. 8Vì đạo Chúa không những từ nơi anh em vang ra trong xứ Ma-xê-đoan và A-chai thôi đâu, nhưng đức tin mà anh em có trong Ðức Chúa Trời đã đồn khắp mọi nơi, đến nỗi chúng tôi không cần phải nói đến nữa. 9Vả mọi người đều thuật lại thể nào anh em đã tiếp đãi chúng tôi, và thể nào đã trở lại cùng Ðức Chúa Trời, bỏ hình tượng đặng thờ Ðức Chúa Trời hằng sống và chân thật, 10để chờ đợi Con Ngài từ trên trời, là Chúa Giê-xu mà Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại, tức là Ðấng giải cứu chúng ta khỏi cơn thạnh nộ ngày sau” (1: 2-10). Cảm nhận đầu tiên của chúng ta khi đọc trang thư trên là gì? Hiển nhiên chúng ta thấy ngay tình thân của Phao-lô đối với tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca. Ông viết, “Tôi thường nhắc đến anh em khi cầu nguyện, tôi nhớ mãi về đức tin anh em, lòng yêu thương của anh em...” Thật ra, Phao-lô không ở gần họ. Ông là người thành lập Hội Thánh Tê-sa-lô-ni-ca, nhưng thời gian ông ở với họ rất ngắn. Vì những chống đối quyết liệt của người Do Thái trong thành khiến ông phải trốn đến Bê-rê nhưng tại đây Phao-lô cũng không được yên vì họ tiếp tục săn đuổi khiến ông phải đi tiếp qua A-tên (Công vụ 17: 5-15). Sau khi thành lập hội thánh, ông phải vội vã đi xa. Tuy nhiên, không gian không phải là trở ngại trong việc ông càng ngày càng trở nên thân thiết với họ. Ðiều gì đã đem Phao-lô đến gần tín hữu Tê-sa-lô-ni ca? Chúng ta thấy ông nhấn mạnh đến sự tăng trưởng trong đức tin, trong tình yêu thương của họ. Họ đã chân thành đáp ứng với tin lành ông rao giảng khiến cho đời sống họ biến chuyển và thay đổi vượt bực. Họ quyết tâm từ bỏ hình tượng để trở lại thờ phượng Ðức Chúa Trời hằng sống, chân thật. Chính sự tăng trưởng trong đời sống tâm linh đã kết chặt tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca với Phao-lô, càng ngày càng thân thiết hơn. Ðây là một thực tại vẫn thấy trong các hội thánh. Tình thân giữa những tín hữu trưởng thành trong hội thánh với những người chăn là một điều hiển nhiên. Khích lệ rất lớn cho chức vụ của người chăn bầy là thấy tín hữu tăng trưởng trong đời sống tâm linh và ngày càng yêu mến Chúa hơn. Trong khi đó tình trạng tín hữu sa sút yếu đuối, nguội lạnh, là nỗi buồn không nguôi cho các tôi tớ Chúa và cho hội thánh nói chung. Giữa những tín hữu yếu đuối với người chăn dường như có một bức tường ngăn cách vô hình. Tiếp xúc với những người tín đồ đó, chúng ta thường thấy có một khoảng trống vô hình, với những câu trao đổi đầy tính cách xã giao, thiếu vắng những chia xẻ thuộc linh sâu sắc và chân tình. Trong khi đó mối quan hệ giữa Phao-lô và tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca thể hiện sự cảm thông và tình yêu thương thắm thiết, “2Chúng tôi hằng vì anh em tạ ơn Ðức Chúa Trời, thường nhắc đến anh em trong khi cầu nguyện; 3vì trước mặt Ðức Chúa Trời là Cha, chúng tôi nhớ mãi về công việc của đức tin anh em, công lao của lòng yêu thương anh em, sự bền đỗ về sự trông cậy của anh em trong Chúa Cứu Thế Giê-xu chúng ta. 4Hỡi anh em yêu dấu, chúng tôi biết anh em là kẻ được lựa chọn. 5Vả đạo tin lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Ðức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em và lòng yêu thương đối với anh em là thể nào. 6Anh em đã bắt chước tôi và bắt chước Chúa, lấy sự vui vẻ của Ðức Thánh Linh mà tiếp nhận đạo giữa lúc gặp nhiều sự khốn khó, 7đến nỗi anh em trở nên gương tốt cho hết thảy tín đồ ở xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai.” Chính mức độ trưởng thành của tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca đã giúp họ và Phao-lô gần gũi nhau và ba đặc điểm của họ giữ vai trò chính yếu cho tình thân này: đức tin, yêu thương và hy vọng.
1. Ðức tin, là điều chúng ta nói đến trước hết: a. Ðức tin trong ngôn ngữ thông thường là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống. Không có đức tin, không ai có thể sống yên ổn, bình an. Sống không tin ai, không tin một điều gì cả, không sớm thì muộn con người đó sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Một người sống trong gia đình mà không tin vợ, không tin con, không tin bạn bè, không tin chính mình và cũng không tin Chúa nữa thì người đó chỉ có nước phát điên lên! Thật ra nếu không có đức tin người ta sẽ không dám làm bất cứ việc gì, vì không tin việc sẽ thành, không dám đi đâu vì không tin mình sẽ đến nơi. Nói tóm lại, không có đức tin, người ta sẽ ở trong tình trạng tê liệt. b. Khi nói đến đức tin chúng ta thường nhắm đến khía cạnh chủ quan, nghĩa là đức tin của tôi. Nhiều Cơ-đốc nhân cho rằng nếu đức tin của tôi nơi Chúa lớn thì mọi sự sẽ ổn thỏa tốt đẹp. Chúng ta cần thận trọng đối với nhận định này. Mức độ đức tin “của tôi” không đo lường bằng cường độ của xúc cảm nhưng bằng hai yếu tố: thứ nhất là đối tượng của đức tin và thứ hai là mức độ quen biết của tôi với đối tượng. Nếu đối tượng đức tin của tôi là con người, dù là một người quyền thế đi chăng nữa thì hiệu quả đức tin không thể nào tuyệt đối được, vì con người nào cũng có giới hạn. Nhưng nếu đối tượng đưc tin của tôi là Ðức Chúa Trời thì tôi đã đặt đức tin đúng đối tượng, vì Ðức Chúa Trời là Tạo Hóa toàn năng. Sách tiên tri Ê-sai 2:22 dạy rằng, “Chớ cậy ở loài người, là loài có hơi thở trong lỗ mũi, vì họ nào có đáng kể gì đâu.” Thứ hai, mức độ quen biết của tôi với đối tượng đức tin rất quan trọng vì nó quyết định thành công. Mức độ đức tin của chúng ta nơi Chúa được tính bằng mức độ biết Chúa và mức độ thân thiết của chúng ta với Ngài. Biết Chúa quá ít không thể có đức tin lớn. Biết một người quá ít chúng ta không dám tin. Biết Chúa đòi hỏi thời gian và đòi hỏi chúng ta phải thường xuyên vận dụng đức tin. Có những tín đồ lâu năm, nhưng ít vận dụng đức tin, ít nhờ cậy Chúa trong cuộc sống mà chỉ dựa vào mình hoặc vào con người, thì đức tin không tăng trưởng. Trái lại, có những người chỉ mới biết Chúa trong một thời gian ngắn, nhưng vì ở trong hoàn cảnh khó khăn, ngang trái, thường xuyên phải nhờ cậy Chúa, phải xin Chúa can thiệp và giải cứu cho nên có nhiều kinh nghiệm về quyền năng của Chúa. Hiển nhiên đức tin người đó mau chóng tăng trưởng mạnh mẽ. c. Ðức tin của các tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca không có tính cách lý thuyết mà rất thực tế. Câu 8b, nói rằng đức tin của họ nơi Ðức Chúa Trời đã đồn khắp mọi nơi đến nỗi Phao-lô không cần phải nói đến nữa. Tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca thể hiện đức tin đó bằng cách tiếp đãi Phao-lô tận tình, không sợ những chống đối bách hại của người Giu-đa, là những người thâm thù săn đuổi Phao-lô. Họ cũng đã thể hiện đức tin nơi Chúa bằng cách từ bỏ hình tượng tà thần để tôn thờ Ðức Chúa Trời là chân thần. Ðây không phải là việc dễ làm nếu không có đức tin thật nơi Chúa. Chúng ta cần nhớ rằng xã hội dân ngoại thời Phao-lô là một xã hội thờ đa thần. Hình tượng tà thần phát triển tối đa, đến nỗi khi đến thành phố A-tên của Hi-lạp, Phao lô đã không chịu nổi khi thấy số hình tượng tà thần quá nhiều đến độ họ thờ cả thần không biết tên. Sống trong một xã hội tràn ngập hình tượng như thế, bỏ hết hình tượng để quay về với Ðức Chúa Trời là chân thần không ảnh tượng là việc vô cùng khó khăn! Nhưng tín hữu tại Tê-sa-lô-ni-ca đã vượt qua chặng đường cam go đó bằng đức tin thật nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ðức tin của chúng ta như thế nào? Từ khi tin Chúa, chúng ta đã từ bỏ những hình tượng tà thần nào? Chúng ta đã từ bỏ những gì của thế gian, của bản ngã... để sống bằng đức tin đơn sơ nơi Ðức Chúa Trời, sống theo những nguyên tắc, những lời dạy rõ ràng trong Kinh Thánh? Chúng ta đã chấp nhận hy sinh những gì để thể hiện đức tin nơi Chúa? Chúng ta có bớt thì giờ lo việc riêng, kiếm tiền, vui chơi... và dành ưu tiên cho việc thờ phượng Chúa, phục vụ Chúa, học Lời Chúa, hay những sinh hoạt thuộc linh chỉ là những việc miễn cưỡng làm trong những mẩu thì giờ vụn vặt? Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường nhờ cậy Chúa, hay chỉ tính toán theo sự khôn ngoan riêng, hoặc khi cần thì chạy đến với con người, kể cả những người chưa tin Chúa, trước khi chạy đến với Chúa? Ðức tin của chúng ta từ ngày tin Chúa đến nay có tăng trưởng không hay vẫn đóng khung trong một đức tin ấu trĩ, không sinh động? Loại đức tin đó không thể giúp chúng ta dấn thân hơn để phiêu lưu xa hơn với Chúa.
2. Tình Yêu Thương. Ðây là đặc điểm thứ hai của tín đồ. a. Tình yêu thương là yếu tố của cuộc sống hạnh phúc. Sống không tình yêu con người khô khan cằn cỗi, đời sống trở nên vô vị. Chúa đã tạo dựng con người luôn luôn cần có tình yêu từ khi sơ sinh cho đến tuổi già. Không ở lứa tuổi nào con người không cần tình yêu. Còn thơ ấu, cần tình yêu của gia đình; lớn lên cần tình yêu đôi lứa; về già cần tình thương của con cháu... Ðó là chưa nói đến tình bạn và bao nhiêu mối quan hệ tình cảm với những người khác trong cuộc đời. b. Nói đến tình yêu chúng ta thường nghĩ đến đối tượng: phải yêu thương tha nhân. Nhưng chúng ta không thấy rằng nếu trong chúng ta không có tình yêu, chúng ta không thể yêu thương ai! Trong khi đó, trong thực tế, tình yêu của con người mỏng manh như sương sớm, mây chiều. Tiên tri Ô-sê viết rằng, “Ta sẽ làm gì cho ngươi hỡi Ép-ra-im? Ta sẽ làm gì cho ngươi hỡi Giu-đa? Vì tình yêu của các ngươi giống như mây buổi sớm, như móc tan ra vừa lúc sớm mai!” (6:4). Kinh thánh khẳng định rằng Ðức Chúa Trời là Tình Yêu, Ngài là nguồn tình yêu, cho nên tách rời khỏi Ngài tình yêu của con người cạn tắt. Tình yêu của Ðức Chúa Trời giống như sông, như biển vô cùng, vô tận. Nối kết với Ngài, tình yêu sẽ tuôn tràn vào lòng chúng ta, giúp chúng ta yêu mọi người dù họ như thế nào, đáng yêu hay đáng ghét! Tình yêu thật được mô tả trong I Cô-rinh-tô 13, “nhịn nhục, nhân từ...dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự...” Hội thánh với đủ mọi thành phần con người, tính khí khác nhau, là một môi trường lý tưởng để chúng ta tập rèn cuộc sống yêu thương.
3. Hy-vọng. Ðặc điểm thứ ba của tín đồ là hy vọng. Ðối với đức tin, đối tượng là chính. Ðối với tình yêu, chủ thể có tình yêu chân thật là chính. Trong khi đó hy vọng là đặc điểm phải dựa vào cả đối tượng lẫn chủ thể. Chúng ta có thể phát biểu về hy vọng như sau: “Tôi đặt cả hy vọng của tôi vào Ngài” hay “Tôi phó thác tương lai vĩnh cửu của tôi cho Ngài.” Hy vọng có hai yếu tố: mong chờ và tin cậy. Mong chờ nói đến thái độ chờ đợi với lòng mong ước không nguôi, trong khi tin cậy nói đến thái độ phó thác không nao núng. Như vậy Cơ-đốc nhân sống trong hy vọng là sống những ngày sung sướng trong tình yêu, trong mong chờ đầy tin tưởng chứ không phải sống trong những ngày khắc khoải âu lo. Có thể đưa ra hình ảnh minh giải này: Cơ-đốc nhân hy vọng giống như hôn phu và hôn thê chờ ngày thành hôn, hay những người thân yêu chờ ngày đoàn tụ. Họ sẽ có thái độ sẵn sàng chấp nhận, chịu đựng mọi nỗi nhớ thương, mọi khó khăn, ngăn cách tạm thời. Họ không coi những ngày xa cách đó là vĩnh viễn cho nên không bám trụ vào những ngày đó mà sẵn sàng chia xẻ cuộc sống cho tha nhân, họ sẽ sống lạc quan, sống rộng rãi vì biết rằng, tin rằng những ngày đó sẽ qua đi. Hình ảnh này của Cơ-đốc nhân trong Kinh Thánh là hình ảnh người lữ hành trong trần gian. Tuy là lữ hành, nhưng không ngừng tiến buớc và không bao giờ mất mục tiêu ở cuối hành trình. Theo thánh Phao-lô, ba đặc điểm trên trong Cơ-đốc nhân: đức tin, tình yêu và hy vọng được thủ đắc qua hai phương tiện cụ thể: Tin Lành và gương mẫu. Trong câu 5 Phao-lô bảo rằng, “5 đạo tin lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em, không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Ðức Thánh Linh, và sức mạnh của sự tin quyết nữa. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em và lòng yêu thương đối với anh em là thể nào.” Khởi đầu cuộc phiêu lưu của tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca vào cuộc sống đầy tin yêu và hy vọng là từ chỗ họ được nghe Phao-lô rao giảng tin lành, không chỉ bằng lời nói xuông, nhưng bằng quyền phép, bằng Ðức Thánh Linh và bằng lòng tin quyết. Trong Rô-ma 1:16 Phao lô bảo rằng, ông “không hổ thẹn về tin lành đâu vì đó là quyền phép Ðức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin.” Chúng ta là những người đã tiếp nhận tin lành, nhưng chúng ta có kinh nghiệm quyền năng biến đổi của tin lành đó trong cuộc sống không? Khi tin lành được rao giảng, người thành Tê-sa-lô-ni-ca tiếp nhận, tức thì Ðức Thánh Linh tác động vào sứ điệp tin lành, soi thấu vào lòng người nghe, đem lại sự tái sinh, đem lại sự đổi mới tâm linh lạ lùng, mầu nhiệm. Khi Phao-lô rao giảng, sở dĩ người Tê-sa-lô-ni-ca tiếp nhận, cũng vì ông đã rao giảng với lòng tin quyết. Khi chúng ta công bố phúc âm mà không có quyền năng Ðức Thánh Linh, chúng ta lại không có lòng tin quyết thì không nên trông mong người nghe sẽ tin! Sau khi tiếp nhận tin lành, điều cần nhất đối với tân tín hữu là họ phải có những gương mẫu tốt lành trong hội thánh để noi theo. Ðể có thể hiểu biết Lời Chúa đầy đủ họ cần phải có thời gian, nhưng để có thể sống ngay cuộc sống Cơ-đốc, họ cần phải có gương mẫu tốt. Hội thánh không có những gương mẫu tốt, sẽ rất khó nuôi tân tín hữu. Phao-lô rao giảng tin lành cho người thành Tê-sa-lô-ni-ca nhưng đồng thời ông cũng sống cuộc sống nêu gương thật tốt đẹp, giúp họ biết sống như thế nào. Họ chỉ có thể sẵn sàng từ bỏ cuộc sống thờ hình tượng cũ khi biết cách thờ phượng Chân thần. Phao-lô nêu gương cho họ, nhưng chính ông cũng theo gương Chúa. Ðược tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca noi gương cũng là một khích lệ cho Phao-lô theo sát dấu chân Chúa Giê-xu. Như vậy ông đã làm hai điều: Trong gương mẫu ông giúp họ thấy Chúa và trong lời giảng dạy, ông đã giúp họ biết Chúa, và tất nhiên, mọi gương mẫu sẽ vô ích nếu không có người bắt chước, tập tành!
Cuối cùng, qua tiến trình đó chúng ta thấy những kết quả gì? 1. Ðức tin tín hữu Tê-sa-lô-ni-ca nơi Chúa không chỉ vững mạnh mà còn được đồn khắp nơi khích lệ được nhiều hội thánh. 2. Tình yêu trong họ là một thành quả hấp dẫn, có tác động tốt hơn hết cho việc gây dựng đức tin. 3. Cuộc đời họ thay đổi với tương lai tươi sáng, biết chắc mình sẽ được giải cứu trong ngày Chúa trở lại. Họ sẽ hướng về ngày chung kết thế giới với đầy hy vọng, biết rằng khi Chúa Giê-xu từ trời trở lại, họ sẽ là những người được Ngài tiếp rước. Ðây cũng phải là niềm tin và hy vọng của chúng ta để chúng ta có thể sống những tháng ngày trần gian hữu ích, đầy vui thỏa, đầy tin tưởng, đầy yêu thương. Mục Sư Nguyễn Ðăng Minh
|
|
|
|