Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Ma Quỷ Trong Thế Giới Ngày Nay

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Việt Hà biên soạn

(Khởi đăng từ T.C. 161)

 

Sức Tàn Phá Của Tà Giáo

 

Tác hại nghiêm trọng nhất của tà giáo là làm rạn nứt và chia rẽ Hội Thánh là thân thể Chúa Cứu Thế.  Kinh Thánh coi việc chia rẽ gây ra từ những giáo lý lệch lạc là hiểm họa chính do những sai lầm đưa vào Hội Thánh. Có lẽ một trong những sự việc đau buồn nhất xảy ra trong giáo hội là thỉnh thoảng chúng ta chứng kiến có những tín hữu hay nhóm tín hữu tách rời khỏi hội thánh vì những điểm “giáo lý” vụn vặt, sai lạc hay vì những chủ trương thái quá hoặc bất cập. Chính vì thế khi dốc đổ cầu nguyện cho môn đệ, Chúa chúng ta đã nhiều lần nài xin Cha giữ gìn sự hiệp một của bầy chiên: “Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con...Ấy chẳng phải vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai con đến (Giăng 17:11, 20-22). Lời cầu nguyện cao quí này đã được thành nghiệm trong ngày Lễ Ngũ Tuần khi Ðức Thánh Linh giáng lâm, để kết hợp toàn thể dân Chúa vào trong một thân là Hội Thánh, nhờ báp-tem bằng Thánh Linh:

“Như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Chúa Cứu Thế khác nào như vậy.  Cho dù chúng ta là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa” (I Cô-rinh-tô12:12,13)

Trong Ê-phê-sô 4: 1-6 Sứ đồ  Phao-lô khuyên con dân Chúa phải nỗ lực kinh nghiệm và thể hiện sự hiệp nhất này như sau:

“Vậy, tôi là tù nhân trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở xứng đáng với chức phận Chúa đã gọi anh em, phải thật khiêm nhường, thật mềm mại, phải nhịn nhục, lấy lòng yêu thương chiều đãi nhau, dùng dây hòa bình giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một niềm hi vọng mà thôi; chỉ có một Chúa, môt đức tin, một phép báp-têm; chỉ có một Ðức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người.”

Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ma quỉ nỗ lực tấn công con cái Chúa bằng cách kích động bản ngã xác thịt để phá vỡ sự hiệp một, gây chia rẽ, bè đảng, như thánh Phao-lô đã cảnh báo trong thư Ga-la-ti 5:19-21 “các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, ganh gổ, say sưa, mê ăn uống cùng các sự khác giống như vậy.”  Nhìn lại lịch sử hội thánh và ngay cả trong hiện tại, chúng ta thấy rõ phần lớn những rạn nứt, chia rẽ, đổ vỡ trong hội thánh đều khởi sự từ những bất đồng quan điểm, nhiều khi chỉ là những tiểu tiết trong một điểm giáo lý nhỏ, mà do ý riêng và do nhận thức lệch lạc, thiếu nền tảng, đưa đến những hậu quả rất trầm trọng.  Như có trường hợp hội thánh kỷ luật một thành viên sai phạm thì đột nhiên phe đảng xuất hiện.  Một số người lên án biện pháp kỷ luật là thiếu yêu thương, một số coi là cần thiết. Trong những trường hợp như vậy, nếu suy xét kỹ lưỡng và nhìn sâu vào vấn đề, chúng ta sẽ nhận ra bàn tay nham hiểm của ma quỉ, là kẻ kích động bản ngã trong các tín hữu thiếu cảnh giác, mượn cớ “yêu thương” để đòi tha thứ vô điều kiện, trong khi Kinh Thánh minh thị dạy rằng, không ăn năn không có sự tha thứ.  Dung dưỡng tội lỗi trong hội thánh qua chiêu bài “yêu thương” cũng là một chiến thuật cổ điển của ma quỉ để làm tê liệt hội thánh.

 

Giáo Lý Sai Lạc Che Khuất Tin Lành

Các quyền lực của sự tối tăm đang nỗ lực tối đa qua trung gian con người, để phủ nhận hoặc bóp méo tin lành cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giê-xu mà chúng biết rằng tuy đơn sơ nhưng đầy quyền năng.  Chúng thừa biết nếu ngăn cản được con người tiếp cận tin lành là chúng có thể bịt mắt nạn nhân đối với sự cứu rỗi.  Sa-tan cũng thừa biết tôn giáo của con người không cứu được ai, đó chỉ là sự cứu rỗi giả mạo, cho nên trong thực tế, chúng đã cổ súy khiến nhiều người tưởng lầm tôn giáo đem đến cứu rỗi hay đồng nghĩa với sự cứu rỗi, khiến con người tìm đến với tôn giáo thay vì đến với Chúa Cứu Thế Giê-xu và hậu quả tất nhiên là thất vọng.  Tất cả những ai tìm đến với tôn giáo mà không biết gì về Chúa Cứu Thế Giê-xu và Tin Lành của Ngài, thì không bao giờ có thể kinh nghiệm sự cứu rỗi thật là gì.

Một trong những giáo lý sai lạc đầu tiên về sự cứu rỗi đã xuất hiện ngay từ thời các sứ đồ, khi những giáo sư giả xuất hiện, dạy rằng ngoài đức tin đặt nơi Chúa Giê-xu, con người muốn được cứu rỗi toàn vẹn phải tuân giữ mọi lễ nghi và lề luật.  Thánh Phao-lô đã kịch liệt phản bác sai lầm này, và đã quở trách tín hữu Ga-la-ti nhẹ dạ bằng những lời nghiêm khắc sau:

“Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người trước mắt đã được rõ bày Chúa Cứu Thế Giê-xu bị đóng đinh trên thập tự giá? Tôi chỉ hỏi anh em một câu này: Ấy là cậy việc tuân giữ giới luật hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Ðức Thánh Linh? Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Ðức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn?  Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao?- nếu quả là luống công!  Ðấng ban  Ðức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp hay là bởi nghe mà tin? Như Áp-ra-ham tin Ðức Chúa Trời thì đã kể là công bình cho người, vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham” (Ga-la-ti 3:1-5)

Tất cả những tà giáo và các nhóm Cơ-đốc giáo giả hiệu đều phải được xếp vào cùng một loại trên vì họ phủ nhận hoặc bóp méo tin lành thuần túy của ân sủng Ðức Chúa Trời.  Ðây chính là thuốc thử tính cách chính thống của Cơ-đốc giáo (I Cô-rinh-tô 15: 1-4; Ga-la-ti 1:6-9).

Tín hữu cần cảnh giác đối với bất cứ điều gì làm lu mờ Tin Lành của Chúa Giê-xu và sự cứu rỗi toàn vẹn Tin Lành đó đem lại do tin cậy Chúa Giê-xu, là Ðức Chúa Trời nhập thể, chịu chết chuộc tội cho nhân loại.  Hiểu rõ Chúa Giê-xu là ai, và Ngài đã làm gì trên thập tự giá sẽ giúp một người xác định được sự cứu rỗi mình đang có, vô hiệu hóa cám dỗ của Sa-tan và thuộc hạ.  Câu hỏi cơ bản nhất là “Tin Lành Là Gì?” Chúng ta cần nắm vững câu trả lời sứ đồ Phao-lô khẳng định trong I Cô-rinh-tô 15:1-4, “Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin lành tôi đã rao giảng và anh em đã tiếp nhận, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, và nhờ đạo ấy anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho, bằng không, anh em dầu có tin cũng vô ích. Vả trước hết, tôi đã dạy anh em điều chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Chúa Cứu Thế chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại theo lời Kinh Thánh.”  Sứ đồ Phi-e-rơ thì nhấn mạnh rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu “đã gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ” (I Phi-e-rơ 2:23b), điều này có nghĩa là tội lỗi những người tin nhận Ngài đã được giải quyết một lần đủ cả trên căn bản đức tin chứ không dựa vào công đức hay việc lành cá nhân, như Thánh Phao-lô khẳng định trong Rô-ma 5:1, “vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin thì được hòa thuận với Ðức Chúa Trời, bởi Chúa Cứu Thế Giê-xu”  và trong Rô-ma 8:1, “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Cứu Thế Giê-xu”.  Tóm lại, Tin Lành là “Hãy tin Chúa Cứu Thế Giê-xu thì ngươi sẽ được cứu” (Công vụ 16:31).

Nỗ lực của Sa-tan và thuộc hạ là làm sao bóp méo Tin Lành đơn thuần đó bằng nhiều cách và một trong những cách thông thường nhất là bảo rằng sự cứu rỗi chỉ nhờ đức tin là quá thô sơ, nhiều người cố gắng ăn chay, ép xác, cố gắng tuân giữ giới luật mà còn không chắc được siêu thoát thì làm sao được cứu rỗi chỉ nhờ đức tin?  Bản chất kiêu ngạo cố hữu trong con người khiến con người có khuynh hướng muốn nhờ cậy công đức và tài sức của mình.  Nếu một người từng có cuộc sống thành công, gia đình êm ấm, thì cám dỗ lớn nhất ma quỉ đem đến là khiến người đó tự mãn, dựa vào đạo đức cá nhân, dựa vào chính mình, không cần Chúa và không cần sự cứu rỗi.  Nó khiến cho cái nhìn của con người đóng khung trong cuộc sống vật chất với hàng trăm công việc, hàng nghìn sinh hoạt cột trói, ràng buộc như tơ nhện vào cõi tạm. Hậu quả là họ không thể thấy, không thể hiểu được rằng đằng sau cuộc sống này là cõi vĩnh hằng, rằng sâu kín bên trong con người bằng xương bằng thịt này mới là con người thật với linh hồn bất diệt.  Chính con người thật này mới cần được cứu rỗi, tuy rằng khi một người được cứu là được Chúa cứu toàn vẹn, cả thân xác lẫn linh hồn.  Chính Chúa Giê-xu từng khẳng định với Phi-e-rơ rằng, “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người nào vì cớ nước Ðức Chúa Trời mà bỏ nhà cửa, cha mẹ, anh em, vợ con, thì trong đời này được lãnh nhiều hơn, và đời sau được sự sống đời đời.” (Lu-ca 18: 29,30).

Như vậy Tin Lành thuần túy về sự cứu rỗi là con người được cứu do ân sủng, nhờ đức tin đặt nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu là Ðức Chúa Trời nhập thể, chịu chết trên thập tự giá, hoàn thành phương án cứu rỗi loài người.  Tất cả những giáo lý dạy rằng con người phải thêm vào Tin Lành đó bất cứ điều kiện gì khác đều bắt nguồn trực tiếp từ ma quỉ, hoặc gián tiếp qua trung gian các công cụ của chúng trong trần gian như tập tục, truyền thống, văn hóa, đạo đức, triết học, tiêu chuẩn giá trị... của loài người. Ngoài sự kiện được tái sinh và báp-têm bằng Ðức Thánh Linh để được liên hiệp một cách mầu nhiệm với Chúa Cứu Thế và hội thánh, người tin Chúa cũng được Ðức Thánh Linh ấn chứng cho sự sống đời đời (Ê-phê-sô. 4:30) bằng chính sự hiện diện vĩnh viễn của Ngài trong thân thể và tâm hồn tín hữu như Thánh Phao-lô xác quyết trong I Cô-rinh-tô 6:19, “Anh em không biết rằng thân thể mình là đền thờ của Ðức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Ðấng anh em đã nhận bởi Ðức Chúa Trời, và anh em không thuộc về chính mình sao?”

Ðiều chúng ta cần lưu ý đó là sự cứu rỗi không phải là biến cố sẽ xảy ra trong tương lai ở thế giới bên kia, nhưng là một địa vị mới khởi sự có ngay, từ khi một người ăn năn tội quay trở lại tiếp nhận Chúa.  Khi một người tiếp nhận Tin Lành, Ðức Thánh Linh tức khắc vận hành một cách mầu nhiệm trong lòng khiến người được tái sinh, trở nên con cái Ðức Chúa Trời, tức khắc được nối kết với Chúa, cho dù thể hiện của mối tương giao đó mới chỉ là những “tiếng khóc chào đời” vô nghĩa đối với thế gian hoặc cũng với chính mình, nhưng đối với Ðức Chúa Trời đó là những tiếng khóc Ngài chú ý nghe hơn hết, y như cha mẹ đối với tiếng khóc của đứa con sơ sinh. Ðiều quan trọng nhất đối với tân tín hữu là mối liên hệ mới với Ðức Chúa Trời. Ngài không chỉ là Ðấng Tạo Hóa, nhưng bây giờ còn là Cha. Chính sự tái sinh đã thay đổi địa vị cho con người, từ tạo vật thành con. Ðịa vị này có tính cách vĩnh viễn, vì vai trò ấn chứng của Ðức Thánh Linh trong lòng người tin là vĩnh viễn, đưa người tin Chúa vào mối tương giao mới với Ngài.  Mối tương giao đó sẽ phát triển, ngày càng trở nên phong phú hơn nếu tín hữu tiếp tục giữ mình trong đức tin nơi Chúa Cứu Thế, tiếp tục để Ðức Thánh Linh điều hành tiến trình thánh hóa, làm chết dần các thể hiện của bản ngã.

Khi một người tin Chúa, được tái sinh, người bước vào tiến trình tăng trưởng thuộc linh.  Ma quỉ không thể làm gì để thay đổi địa vị mới của người tin Chúa, tức là địa vị làm con cái Ðức Chúa Trời, nhưng chúng có thể tấn công, phá phách, gây trở ngại cho tiến trình tăng trưởng.   Quyền lực của sự tối tăm sẽ làm tất cả mọi điều gian ác nó có thể làm để khiến tín hữu phân tâm, không chú mục vào nỗ lực quen biết Chúa ngày càng thâm  sâu hơn. Chúng sẽ cám dỗ để chúng ta tách khỏi con đường đức tin mà dựa vào công đức, dựa vào việc lành, dựa vào nỗ lực tuân giữ lề luật, lần hồi tưởng rằng nhờ những thành quả cá nhân đó mà tăng trưởng. Ma quỉ sẽ tìm đủ mọi cách để tín hữu bớt dựa vào Chúa mà gia tăng nhờ cậy sức riêng.  Thay vì tiếp tục bước đi bằng đức tin, con dân Chúa sẽ bị cám dỗ bước đi bằng mắt thấy vì  có vẻ như dễ dàng hơn, hợp lý và hợp thời hơn... Tất cả những cách thế này có thể gọi là “tin lành khác”, một thứ tin lành giả hiệu, chỉ là những lối mòn, những ngõ cụt dễ bước vào, nhưng không đưa đến đâu hết.  Những “giải pháp” của con người dựa vào triết học, đạo đức, luân lý loài người xuất phát từ những tư duy tách rời khỏi Ðức Chúa Trời thì không thể đưa con người đến với Ðức Chúa Trời mà đẩy con người xa Chúa.  Cơ-đốc nhân cần cảnh giác trước những lối đi có vẻ đẹp đẽ, và đang có nhiều người “vui vẻ” bước đi trong đó, nhớ rằng chính Chúa đã khuyên, “Hãy vào cửa hẹp vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7: 13-14).

(Còn tiếp)