![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Nhận Định |
|
|
|
Chia Xẻ Niềm Tin
Ngay sau Lễ Giáng Sinh, ngày 26 tháng 12, 2004, một cơn địa chấn 9.0 dưới đáy biển, ngoài khơi thành phố Banda Aceh phía bắc đảo Sumatra, Nam Dương đã gây nên sóng thần (tsunami), tàn phá bờ biển của hàng chục nước Nam Á thuộc vùng Ấn-độ Dương, từ Nam-dương đến Mã-lai, Thái-lan, Myanmar, Bangladesh, Sri Lanca, Ấn-độ… Tính cho đến ngày 31/12 số người chết và mất tích lên đến 120,000 người và Hội Hồng Thập Tự ước tính số tử vong có thể cao hơn nhiều. Ðộng đất và sóng thần là những thảm họa bất ngờ hơn hết mà cho đến nay con người vẫn chưa có kỹ thuật tiên đoán, vì thế tổn thất nhân mạng thường rất lớn. Các hội thiện nguyện khắp thế giới đã khẩn cấp kêu gọi cứu trợ. Tổng Hội cũng như Văn Phòng Giáo Hạt đã có thư kêu gọi con dân Chúa trong tất cả các Hội Thánh tiếp tay trong việc làm giảm bớt đau thương cho các nạn nhân sống sót. Là con dân Chúa, chúng ta tự hỏi trong số trên trăm nghìn người đã tử vong, có bao nhiêu người chuẩn bị cho cái chết? Bao nhiêu người từng được nghe tin lành và tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu để trong tai họa đó họ được đi ngay vào trong sự hiện diện của Chúa, được Chúa đón rước vào nơi yên nghỉ? Chúng ta đã tin Chúa, đã có sự cứu rỗi, chúng ta đã chuẩn bị cho cõi vĩnh hằng, nhưng còn bao nhiêu người khác sống chung quanh chúng ta thì sao? Chúng ta cần làm gì cho những người chưa biết Chúa, để họ có thể sãn sàng đối diện với mọi thảm họa bất ngờ trong tương lai? Chia xẻ niềm tin của chúng ta là mạng lệnh của Chúa, là phương cách duy nhất chúng ta có thể làm để giúp người khác chuẩn bị cho cõi đời đời.
Có một bản thánh ca nổi tiếng tựa đề “Chuyện Tôi Thích Hát” (I Will Sing The Wondrous Story) nói về niềm vui của người được cứu chuộc, cho thấy khuynh hướng tự nhiên của con người là luôn luôn muốn nói ra, muốn hát lên niềm vui trong lòng, mà niềm vui sâu xa nhất là được trở thành con cái Ðức Chúa Trời. Tuy nhiên trong hội thánh ngày nay, dường như số tín hữu thích thú, say sưa nói về niềm vui được Chúa cứu chuộc không nhiều, tại sao? 1.Trước hết, phải nhận rằng trong một số trường hợp, đối với những người tin Chúa lâu năm, cường độ của niềm vui được trở thành con cái Chúa đã giảm nhiều. Cái hăng hái, nóng cháy ban đầu đã nguội từ lâu, cho nên nếu phải nói về niềm vui trong sự cứu rỗi thì gần như là một cố gắng làm xong bổn phận, chứ thật sự không có yếu tố thích thú trong đó. 2. Thứ hai, những người tin Chúa lâu năm quên dần những thay đổi lớn trong đời sống, thấy nếp sống mới là điều tự nhiên, mất cảm giác choáng ngợp của một người đang sống trong bóng tối bước ra ánh sáng, đang từ những tháng ngày lo buồn sang những ngày đầy hy vọng, đang cô đơn bỗng tràn ngập niềm vui. Những từ ngữ quen dùng trong hội thánh trở thành sáo ngữ, mất ý nghĩa nguyên thủy, cuộc sống theo Chúa trở thành những thói quen tôn giáo. Thí dụ như câu nói đầu môi của tín hữu lâu năm là “Tạ ơn Chúa,” nhưng trong lòng ít khi có cảm xúc thực sự sâu xa đối với Chúa hay thật sự tin chính Chúa đã can thiệp, đã ban cho điều mình đang cảm tạ 3. Thứ ba, tín hữu lâu năm thường mất dần bạn bè chưa tin Chúa, vì sau bao nhiêu năm sống trong hội thánh, bạn bè hầu hết là tín hữu cho nên cơ hội chia xẻ về niềm vui cứu rỗi không có. Tuy nhiên, nhiều khi đây cũng chỉ là cái cớ, vì thật ra lúc nào chúng ta cũng có thể thiết lập những quen biết mới nếu quyết tâm làm quen để có cơ hội chia xẻ tin lành. 4. Thứ tư, tín hữu không dám nói về Chúa thường là vì sợ – không biết đối tượng nghĩ gì về mình, sợ bị mất cảm tình, “mất mặt” khi đối tượng không đáp ứng, không muốn nghe, thậm chí chế diễu. Vì thế, tín hữu nếu có nói chuyện với bạn bè thường chỉ bàn chuyện thời sự, thời tiết, công ăn việc làm, chuyện sức khỏe, chuyện học hành, mà tránh đề cập đến các nhu cầu tâm linh hay sự cứu rỗi. 5. Thứ năm, tín hữu lâu năm nhưng không chuyên cần học hỏi lời Chúa, không có đủ kiến thức cũng như thiếu kinh nghiệm Lời Chúa cũng sẽ không dám nói về Chúa, vì thường không biết bắt đầu như thế nào trong khi bạn bè chưa tin rất ít khi tự động tìm hiểu về Chúa. Ở trong tình trạng thiếu trang bị lời Chúa mà nói về Chúa giữa một nhóm bạn chưa tin thường đưa đến hậu quả tiêu cực, khi tín hữu cô thế chưa “sẵn sàng trả lời kẻ hỏi lẽ” mà đôi khi người “hỏi lẽ”đó chỉ là người có ý bắt bí. 6. Thứ sáu, tín hữu không sống gương mẫu, hay không tốt bằng người chưa tin Chúa về phương diện đạo đức, cũng ít dám nói về Chúa, hoặc nếu “dám” nói thì chỉ đưa đến phản ứng bất lợi từ người nghe. Cuộc sống không làm theo lời Chúa để lại hậu quả rất nghiêm trọng cho việc hoàn tất Ðại Mạng Lệnh. Một mặt nó khoá miệng Cơ-đốc nhân nhưng đồng thời cũng có thể trở thành đá vấp chân cho thân hữu, khiến họ không muốn tìm hiểu về Chúa. Không ai muốn giống một người không bằng mình. 7. Thứ bảy và cũng là lý do quan trọng nhất khiến tín hữu ít nói về Chúa cho người khác là vì thiếu yêu thương. Tình thương là động cơ mạnh mẽ nhất và bền bỉ nhất trong sứ mạng chia xẻ niềm tin. Chúng ta không tạo ra được tình yêu này mà phải nhận từ Chúa. Trong khi đó, Chúa không bắt ép chúng ta nhận tình yêu của Ngài. Chúa chỉ bảo chúng ta “hãy cứ ở trong tình yêu” đó. Dầm thấm trong mối tương giao với Chúa mỗi ngày chúng ta sẽ trở nên mặn mòi, tâm hồn sẽ bừng sáng lên và tình yêu sẽ được thể hiện, khiến chúng ta nhìn những người đang đi vào chốn hư vong bằng tấm lòng đầy thương cảm như Chúa Giê-xu nhìn thấy con người “cùng khốn và tan lạc như chiên không có người chăn.” Những lý do trên và có thể còn nhiều lý do khác khiến cho nhiều tín hữu dù biết rõ mạng lệnh phải nói về Chúa Giê-xu, nhưng vẫn cứ sống âm thầm, tránh né, lần lữa thi hành sứ mạng cao quí này. Chúa Giê-xu khẳng định rằng ai xưng danh Chúa ra trước thiên hạ, Chúa cũng sẽ xưng tên người đó trước Cha là Ðức Chúa Trời, còn nếu ai chối bỏ Chúa, Ngài cũng sẽ chối bỏ tên người đó trước mặt Cha. Trong khi đóù một số tân tín hữu, nhất là những người thật sự tin Chúa thường có cuộc sống thay đổi nhanh chóng lạ lùng. Sau khi tin, họ sẵn sàng chấp nhận nhiều hy sinh để làm theo lời Chúa. Khao khát biết thêm về Chúa và Lời Chúa trở thành một thôi thúc thật sự như trẻ sơ sinh khát sữa. Nhu cầu tâm linh xuất hiện trong khoảnh khắc khi người đó quyết tâm tiếp nhận Chúa Giê-xu vào làm Chủ đời mình. Có người xúc động không cầm được nước mắt. Một niềm vui sâu xa, không diễn tả được dâng lên mạnh mẽ trong lòng. Người tin Chúa thật đồng thời cũng phải có một ý thức rất rõ ràng, bén nhạy đối với tội lỗi và muốn dứt khoát giải quyết những tội lỗi đó. Khi học về các giới răn của Chúa, họ liên hệ ngay đến tội của mình, tiêu biểu nhất là tội thờ hình tượng. Họ quyết định dẹp bỏ hình tượng. Có người dứt khoát cất dọn bàn thờ, người thì dọn dẹp từ từø. Người tin Chúa cũng có cái nhìn đúng hơn về lòng hiếu kính cha mẹ theo lời Chúa dạy. Hiếu kính không phải là thờ cúng khi cha mẹ đã qua đời nhưng hiếu kính theo Lời Chúa thực tế và hợp lý hơn nhiều: khi còn nhỏ vâng lời cha mẹ, lớn lên đỡ đần cha mẹ, lo cho các em, phụ giúp việc nhà. Khi cha mẹ già yếu thì nuôi dưỡng, chăm sóc ân cần, cha mẹ đau ốm thì thuốc thang đầy đủ, cha mẹ qua đời chôn cất chu đáo và sống để tiếng thơm cho cha mẹ… Ðối với các mối quan hệ trong gia đình, người tin Chúa tìm cách làm hòa lại với những người thân. Có người đã tuyệt giao với người thân từ nhiều năm trước, sau khi tin Chúa đã quyết tâm sửa đổi lại và tình hình cải thiện thật nhanh chóng. Có người sau khi tin Chúa quyết định nghỉ ngày Chúa Nhật để thờ phượng Chúa, bị chủ đuổi nhưng rồi ngay sau đó tìm được chỗ làm mới tốt hơn mà lại được phép đi nhà thờ ngày Chúa Nhật. Tất cả những kinh nghiệm này là những việc phi thường, là những “phép lạ” đối với tân tín hữu, đã giúp đức tin nơi Chúa tăng trưởng và thôi thúc họ nói về Chúa, nói về niềm tin mới một cách tự nhiên, bằng những ngôn từ đơn sơ, chân thành nhưng cũng đầy sức mạnh. Nhìn lại những phác thảo chân dung trên của tín hữu cũ và mới, đối chiếu với một trách nhiệm chung – trách nhiệm chia xẻ niềm tin, chúng ta có nhận định nào? Hiển nhiên, chia xẻ niềm tin không dễ. Những lời khích lệ của sứ đồ Phi-e-rơ trong những câu Kinh Thánh sau nói lên những khó khăn đó: chịu khổ, sợ hãi, rối trí, phải học hỏi và trang bị, phải sống ngay lành và chấp nhận bị công kích phê phán: “Nếu anh em phải vì sự công bình mà chịu khổ, ấy thật là có phước. Chớ sợ điều họ sợ và đừng rối trí; nhưng hãy tôn Ðấng Christ, là Chúa, làm thánh trong lòng mình. Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ, phải có lương tâm tốt, hầu cho những kẻ gièm chê cách ăn ở lành của anh em trong Ðấng Christ, biết mình xấu hổ trong sự mà anh em đã bị nói hành…” (I Phi-e-rơ 3:14-16). Những lời trên là mạng lệnh không để gò bó chúng ta nhưng để đưa chúng ta vào một cuộc sống được ban phước. Ðặc điểm trong các mạng lệnh và giới răn của Chúa là không để chúng ta tuân hành bằng sức riêng nhưng để chúng ta vận dụng đức tin mà tuân hành – tin cậy và vâng lời. Vừa khi bàn chân đức tin cất bước, nước rẽ ra, vừa khi bàn tay đức tin đụng vào áo Chúa, quyền năng và sức mạnh của Chúa được thể hiện. Ðây là khác biệt sâu xa giữa giới răn của Chúa và giới cấm trong các tôn giáo khác. Chúng ta hãy khởi sự chia xẻ niềm tin bằng đức tin. Chúng ta hãy tin rằng khi Chúa bảo chúng ta nói về Chúa cho thế giới hư vong, Ngài không giao khoán nhưng Ngài cộng tác và Ngài bảo rằng “bàn chân những người rao giảng tin lành thật tốt đẹp biết bao!” Chúng ta còn mong muốn gì hơn nữa? Thông Công
|
|
|
|