Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Phụ Nữ  Trong Kinh Thánh

 

 

   

 

     

 

 

 

   

Bà An-ne

(Bài 1)

 

Thưa quý vị, trong Trang Phụ Nữ hai số Thông Công vừa qua, chúng tôi trình bày về một phụ nữ không có một gương sáng hay điều tốt đẹp nào cho chúng ta noi theo. Ðể thay đổi, kỳ này chúng tôi trình bày về một phụ nữ có đời sống tốt đẹp và nhiều điều cao quý, đáng cho chúng ta noi theo. Phụ nữ đó tên là An-ne.

 

Bà An-ne được nhắc đến trong Kinh Thánh Cựu Ước, sách I Sa-mu-ên chương 1 và 2. Có người gọi An-ne là người đàn bà đau khổ nhưng người khác lại thấy bà là người đàn bà có đức tin. Chúng ta hãy cùng  nhìn vào Kinh Thánh để biết An-ne là người như thế nào, có những điểm đặc biệt gì cho chúng ta học hỏi và bắt chước.

 

Ý Nghĩa tên An-ne

Trong tiếng Hê-bơ-rơ chữ An-ne là Hannah. Hannah hay An-ne có nghĩa là ân điển, ân sủng hoặc nhân từ, dịu dàng. Tên của bà An-ne thật đúng với con người của bà. Bà là một phụ nữ hiền lành, dịu dàng, nhẫn nại. Ngày nay nhiều người lấy tên Anne hoặc Hannah đặt cho con gái vì muốn con mình là một thiếu nữ dịu dàng, nhân hậu, nhân từ.

 

Ðời sống gia đình

Về đời sống gia đình, Thánh Kinh cho biết bà An-ne là vợ của ông Ên-ca-na.  Ông Ên-ca-na là người thuộc chi tộc Lê-vi, một trong mười hai chi tộc Y-sơ-ra-ên. Chi tộc Lê-vi được Ðức Chúa Trời biệt riêng để chăm sóc đời sống tâm linh của con dân Chúa. Trách nhiệm của người Lê-vi là chăm sóc đền thờ, lo việc thờ phượng và dâng tế lễ. Tất cả các thầy tế lễ của người Y-sơ-ra-ên đều từ chi tộc Lê-vi mà ra. Thánh Kinh cũng cho biết, ông Ên-ca-na thuộc dòng họ Kê-hát, là dòng họ được tôn trọng nhất trong chi tộc Lê-vi.

Tuy là người kính sợ Chúa nhưng ông Ên-ca-na sống theo chế độ đa thê. Ông có hai vợ, vợ lớn là An-ne, vợ thứ tên là Phê-ni-na. Cũng như người Việt chúng ta, người Do Thái khi lập gia đình thường mong có con trai nối dõi, để giòng họ của mình không bị tuyệt diệt. Bà An-ne sống với chồng đã lâu nhưng không có con. Có lẽ vì thế bà đã đồng ý cho chồng cưới thêm người vợ thứ hai để có con nối dõi, tương tự như trường hợp gia đình Áp-ra-ham và Sa-ra mà chúng ta đã học trước đây. Người vợ thứ của Ên-ca-na tên là Phê-ni-na. Thánh Kinh không nói gì nhiều về bà Phê-ni-na, ngoại trừ hai điều là bà đông con và hay trêu ghẹo An-ne vì An-ne không có con.

Trước khi đi vào những chi tiết khác về người phụ nữ tên An-ne, mời quý vị cùng xem những điều Kinh Thánh ghi trong phần mở đầu sách I Sa-mu-ên để biết về bối cảnh gia đình của bà An-ne

“Xưa tại Ra-ma-tha-im Xô-phim có một người quê ở núi Ép-ra-im, tên là Ên-ca-na, con trai của Giê-hô-ram, cháu của Ê-li-hu, chắt của Tô-hu, chít của Xu-phơ, người Ép-ra-im. Ên-ca-na có hai vợ, người này tên là An-ne và người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có con trai con gái còn An-ne thì không con. Mỗi năm Ên-ca-na ở thành mình đi lên Si-lô đặng thờ phượng Ðức Giê-hô-va vạn quân và dâng tế lễ cho Ngài; tại Si-lô có hai con trai của Hê-li, là Hốp-ni và Phi-nê-a, thầy tế lễ của Ðức Giê-hô-va.

“Ðến ngày Ên-ca-na dâng tế lễ thì chia của lễ ra từng phần, ban cho Phê-ni-na vợ mình và cho các con trai và con gái mình. Nhưng người lại ban cho An-ne một phần bằng hai vì người thương nàng, dẫu rằng Ðức Giê-hô-va khiến cho nàng son sẻ. Kẻ phân bì nàng khôn xiết trêu ghẹo nàng, để giục nàng lằm bằm vì Ðức Giê-hô-va đã khiến nàng son sẻ. Từ năm này đến năm kia, mỗi khi nàng đi lên đền Ðức Giê-hô-va, chồng đãi nàng như vậy còn Phê-ni-na cứ trêu ghẹo nàng. An-ne khóc và không ăn. Ên-ca-na, chồng nàng nói rằng: Hỡi An-ne, sao nàng khóc? Cớ sao không ăn và lòng buồn bực dường ấy? Ta há chẳng đáng cho nàng hơn mười đứa con trai ư?” (I Sa-mu-ên 1:1-8).

Qua phân đoạn Kinh Thánh trên, chúng ta thấy điều nổi bật về gia đình ông Ên-ca-na là, vì có hai vợ đời sống gia đình ông có nhiều nan đề. Những nan đề đó gồm có:

a. Thiếu hiệp một. Vợ chồng ông Ên-ca-na thiếu sự hiệp nhất trọn vẹn trong hôn nhân, vì ông đã đi ra ngoài mẫu mực Chúa định. Phúc-âm Ma-thi-ơ ghi lại rằng khi người Pha-ri-si hỏi Chúa Giê-xu về vấn đề ly dị, Chúa trả lời như sau: “Các ngươi há chưa đọc lời chép về Ðấng Tạo Hóa, hồi ban đầu, dựng nên một người nam, một người nữ, và có phan rằng: Vì cớ đoq người nam sẽ lìa cha mẹ, mà dính díu với vợ mình; hai người sẽ cùng nên một thịt hay sao?  Thế thì, vợ chồng không phải là hai nữa, nhưng một thịt mà thôi.  Vậy, loài người không nên phân rẽ những kẻ mà Ðức Chúa Trời đã phối hiệp.” (Ma-hti-ơ 19:4-6)  Ý định và chương trình của Ðức Chúa Trời khi thiết lập hôn nhân là: hôn nhân là sự kết hợp toàn vẹn giữa một người nam và một người nữ.  Gia đình là kết hợp của một vợ một chồng.  Nếu gia đình nào có hai ba vợ (hay hai ba chồng), gia đình đó không thể hiệp một như lời Chúa dạy.  Một khi thiếu hiệp nhất, gia đình sẽ gặp nhiều nan đề khác. Như trong gia đình Ên-ca-na, bà vợ này trêu chọc bà vợ kia, bà vợ kia buồn giận bà vợ nọ, còn ông chồng thì khổ tâm vì không biết xử trí làm sao cho vừa lòng mọi người.

b. Thiếu công bình trong cách cư xử với nhau. Vì muốn làm vừa lòng An-ne là vợ lớn, ông Ên-ca-na phải thiên vị trong cách đối xử với hai người vợ. Thiên vị hay thương yêu không đồng đều là điều tai hại cho hạnh phúc gia đình. Người được thiên vị chưa hẳn đã vui mà người bị thiệt thòi lại thêm lòng ganh tị, ganh tức. Ðó là lý do tại sao Phê-ni-na cứ trêu ghẹo, chế giễu An-ne.

c. Không hạnh phúc. Gia đình của người đa thê không thể nào hạnh phúc. Vì có hai vợ, ông Ên-ca-na không thể dành trọn vẹn tình yêu cho một người nhưng phải san xẻ tình yêu của ông với hai người đàn bà cùng một lúc. Ông cũng không thể thật sự kết hợp làm một với vợ như lời Chúa dạy: “Vợ chồng không phải là hai nữa nhưng một thịt mà thôi”.

Cả ba người trong gia đình ông Ên-ca-na đều không hạnh phúc. Bà An-ne đau khổ vì bị người vợ thứ của chồng khinh khi, trêu ghẹo. Không có con là một nỗi khổ lớn nhưng bà An-ne còn khổ tâm hơn vì luôn luôn bị Phê-ni-na trêu chọc, chế giễu. Dù được chồng yêu thương hơn, bà vẫn không hạnh phúc. Ông Ên-ca-na cũng không hạnh phúc vì hai người vợ không hòa thuận với nhau, người này ganh ghét người kia, người kia buồn giận người nọ, còn ông phải tìm cách để làm vừa lòng cả hai. Bà Phê-ni-na cũng không hạnh phúc, dù bà hơn An-ne vì đã sinh con trai con gái cho chồng nhưng bà biết chồng không thương mình mà chỉ thương người vợ lớn. Ðây là thảm kịch gia đình mà những ai đi ra ngoài mẫu mực Chúa định cho hôn nhân đều sẽ không tránh khỏi được.

Thưa quý vị, có lẽ một số quý vị đang sống trong hoàn cảnh đau buồn như gia đình bà An-ne vì một người thứ ba nào đó đã chen vào giữa vợ chồng quý vị. Người Việt chúng ta từ xưa thường có một quan niệm bất công, quan niệm đó là “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng,” hàm ý rằng người đàn bà đứng đắn chỉ có một chồng, còn chồng nếu có gian díu với người khác hay có năm bảy vợ lẽ cũng là chuyện thường, ta phải chấp nhận. Vì quan niệm bất công đó mà một số chị em phụ nữ phải sống trong đau khổ, phải chấp nhận để chồng chia xẻ tình yêu với người khác. Vì lý do đó gia đình không hạnh phúc trọn vẹn như điều Chúa định.

Chúng tôi mong rằng không một người nào đã là con của Chúa, đã biết Lời Chúa dạy về hôn nhân mà còn chấp nhận hủ tục đa thê. Hãy nhớ, hôn nhân chỉ hạnh phúc khi đó là kết hợp của một vợ một chồng, không có một ngoại lệ nào khác. Chúng tôi cũng mong rằng nếu có ông chồng nào đang phiêu lưu trong những tình cảm bất chính, đang đắm mình trong tội ngoại tình, nghe tiếng Chúa nhắc nhở hôm nay cũng sẽ ăn năn, quay trở lại với người vợ mà quý ông đã cưới ngày còn trẻ và dành trọn tình yêu cho người đó. Lời Chúa cảnh cáo: “Mọi người phải kính trọng hôn nhân, chốn khuê phòng chớ có ô uế, vì Ðức Chúa Trời sẽ đoán phạt kẻ dâm dục cùng kẻ phạm tội ngoại tình” (Hê-bơ-rơ 13:4). 

Trở lại với bà An-ne, chúng ta học được gì qua người đàn bà đặc biệt này? Ðể thấy rõ hoàn cảnh sống và gương sáng của bà An-ne, chúng ta sẽ dựa vào những chi tiết Thánh Kinh ghi lại và phân tích sáu điều sau đây: Tâm tính của bà An-ne, nỗi khổ của bà, lời cầu nguyện, bài ca, sự hy sinh và đức tin của bà.

 

1. Tâm tính của bà An-ne

Qua những chi tiết Thánh Kinh ghi lại chúng ta có thể nói, bà An-ne là người đàn bà có tâm tính cao đẹp. Trước hết, bà là người nhân từ, dịu dàng, đúng như ý nghĩa của tên bà. Dù bị người vợ thứ của chồng trêu ghẹo, bà không hề nổi giận, phàn nàn hay gây gổ với người đó. Thánh Kinh ghi: “Kẻ phân bì nàng khôn xiết trêu ghẹo nàng, để giục nàng lằm bằm vì Ðức Giê-hô-va đã khiến nàng son sẻ. Từ năm này đến năm kia, mỗi khi nàng đi lên đền Ðức Giê-hô-va chồng đãi nàng như vậy, còn Phê-ni-na cứ trêu ghẹo nàng; An-ne khóc và không ăn” (I Sa-mu-ên 1:6-7). Khi bị người vợ thứ của chồng trêu ghẹo, chế giễu, bà An-ne không trả đũa cũng không nổi giận, bà chỉ biểu lộ nỗi buồn đau của mình qua giòng nước mắt.

Trong hoàn cảnh đau buồn, bà An-ne cũng không oán trách chồng hay đổ lỗi cho chồng.  Oán trách và đổ lỗi cho chồng là điều nhiều người thường làm khi gặp thử thách hay khó khăn trong cuộc sống. Thánh Kinh ghi rằng Phê-ni-na hết sức trêu chọc An-ne để khiến nàng lằm bằm vì Chúa Hằng Hữu đã khiến nàng son sẻ. Nhưng Phê-ni-na đã thất bại, An-ne không phàn nàn chồng cũng không oán trách Chúa.

Dù được chồng thương yêu nhưng sống trong hoàn cảnh của bà An-ne không phải là điều dễ. Mỗi ngày bà phải nghe lời chế giễu của người vợ lẽ, phải chấp nhận chồng san xẻ tình yêu với người đó, dành thì giờ chăm sóc con cái của người đó, phải nhìn con cái của người đó vui chơi với nhau, v.v... Dù phải đối đầu với tất cả những nỗi khổ đó, bà An-ne không oán trách, buồn giận nhưng yên lặng chịu đựng và dâng trình niềm đau của mình cho Chúa. Với tính mềm mại, nhẫn nhục chịu đựng, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của người khác, bà An-ne đã nổi bật như một đóa hoa thơm giữa đám gai gốc.

 

2. Nỗi khổ của An-ne

Thánh Kinh cho biết, bà Phê-ni-na có đầy đủ con trai, con gái. Người vợ thứ của chồng có một gia đình đông đủ, vui vẻ nhưng An-ne không hề ganh tị. Nàng chỉ buồn vì mình không sinh được một đứa con nào cho chồng. Ðối với người Do Thái người đàn bà không con thường bị xem là người bị Ðức Chúa Trời rủa sả.  Vì thế người không có con không những phải sống trong buồn bã, cô đơn; phải chấp nhận cho chồng cưới vợ lẽ, nhưng còn bị người chung quanh xem khinh, kể là người không được ơn Chúa. Có lẽ ông Ên-ca-na nhìn thấy tâm tình cao đẹp của An-ne nên ông thương bà hơn Phê-ni-na. Thánh Kinh cho biết, mỗi khi lên đền thờ dâng tế lễ cho Ðức Chúa Trời, ông chia cho An-ne phần của lễ nhiều gấp đôi.

Khi thấy vợ buồn khổ, khóc lóc, bỏ ăn, có lẽ ông Ên-ca-na cũng khổ tâm nên ông hỏi: “Cớ sao không ăn và lòng buồn bực dường ấy?” và ông an ủi: “Ta há chẳng đáng cho nàng hơn mười đứa con trai ư?” (I Sa-mu-ên 1:8). Ông Ên-ca-na cố gắng an ủi vợ nhưng lời nói của ông làm An-ne càng đau buồn hơn, vì chứng tỏ chồng nàng không thông cảm với niềm đau sâu kín trong lòng nàng. Làm sao chồng có thể so sánh với con? Tình yêu vợ chồng không giống như tình cha con hay tình mẹ con. Dù thương vợ, nhưng Ên-ca-na là đàn ông, ông không thể nào hiểu được niềm mong ước được làm mẹ của An-ne. An-ne mơ ước có một đứa con để bồng bế nâng niu, để làm trọn bổn phận của một người vợ. Ngày tháng càng qua đi chừng nào thì niềm đau của An-ne càng gia tăng chừng nấy, vì hy vọng càng phai nhạt đi.

 

3. Lời cầu nguyện của An-ne

Dù đau buồn vì không con nhưng An-ne không tuyệt vọng, nàng không đầu hàng hoàn cảnh. Trái lại, An-ne tìm thấy hy vọng nơi Ðức Chúa Trời qua lời cầu nguyện. Trong ngày lên đền thờ, An-ne đã dành thì giờ cầu nguyện với Chúa. Nàng tin rằng Chúa là Ðấng Tạo Hóa, Ngài  có thể phá bỏ định luật thiên nhiên và ban cho nàng đặc ân làm mẹ. Lời cầu nguyện của An-ne rất là rõ ràng và chính đáng. Bà không cầu xin Chúa trừng phạt Phê-ni-na và những người làm khổ mình, cũng không xin Chúa cất đi niềm vui và hạnh phúc của họ. An-ne chỉ xin một điều, xin Chúa đoái xem nỗi sầu khổ của nàng và ban cho nàng một đứa con trai.

An-ne vừa khóc vừa dốc đổ lòng mình trước mặt Chúa. Theo lời Thánh Kinh ghi, nàng không cầu nguyện thành lời nhưng chỉ thầm nguyện với tấm lòng khẩn thiết, với nỗi niềm không thể nói nên lời. Ðây là lời cầu xin tha thiết, từ tấm lòng tan vỡ chân thành. Khi cầu nguyện, An-ne thật sự tâm giao với Chúa, hướng trọn linh hồn và tâm thần về Chúa, nàng không để ý đến người chung quanh, cũng không cần biết người chung quanh nghĩ gì về mình. Chính vì thế mà An-ne đã bị thầy tế lễ Hê-li hiểu lầm, tưởng nàng say rượu nên nói lảm nhảm một mình.

Chúng ta cùng xem phần Kinh Thánh dưới đây để thấy rõ nỗi lòng của An-ne:

“Sau khi người ta đã ăn uống tại Si-lô rồi, An-ne bèn đứng dậy, lúc ấy Hê-li, thầy tế lễ, đương ngồi trên một cái ghế gần bên cửa của đền Ðức Giê-hô-va. An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Ðức Giê-hô-va vừa tuôn tràn giọt lệ. Nàng hứa nguyện rằng: Ôi, Ðức Giê-hô-va của vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của con đòi Ngài, nhớ lại nó chẳng quên, và ban cho con đòi Ngài một đứa trai, thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Ðức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó.

“Vì nàng cầu nguyện lâu dài trước mặt Ðức Giê-hô-va, Hê-li chăm xem miệng nàng. Vả An-ne nói trong lòng, chỉ nhóp nhép miệng mà thôi, không có ai nghe tiếng nàng, nên Hê-li tưởng nàng say, bèn hỏi rằng: chừng nào nàng mới hết say? Hãy đi giã rượu đi.” An-ne thưa rằng: Chẳng phải vậy chúa, tôi vốn một đàn bà có lòng buồn bực, chẳng uống rượu hay là vật gì uống say; nhưng tôi giải bày lòng tôi ra trước mặt Ðức Giê-hô-va. Chớ tưởng con đòi của ông là một người đàn bà gian ác; vì nỗi đau đớn và ưu phiền quá độ của tôi bắt tôi phải nói đến bây giờ” (I Sa-mu-ên 1:9-16).

Khi bị thầy tế lễ hiểu lầm, cho mình là người say, An-ne đã thành thật thưa rằng nàng đang giải bày niềm đau của mình với Chúa; vì quá đau buồn nàng không thể cầu nguyện thành lời chứ không phải là nàng say rượu. Nghe vậy thầy tế lễ Hê-li có vẻ ân hận nên dù không biết An-ne đã cầu xin Chúa điều gì, ông nói: “Hãy đi bình an, nguyện Ðức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhậm lời nàng đã cầu xin cùng Ngài.” 

Thưa quý vị, bà An-ne là một phụ nữ có nhiều điều cao đẹp cho chúng ta học hỏi nhưng vì giới hạn của Trang Phụ Nữ, chúng tôi xin tạm ngưng bài nói về bà An-ne tại đây. Mời quý vị đón đọc trong Thông Công số tới.

Minh Nguyên

 

 

 

Thông Báo của Ðoàn Phụ Nữ

 

Ðoàn Phụ Nữ đã phát hành Ðặc San Phụ nữ 2004.  Ðặc San gồm nhiều bài vở giá trị để bồi linh, giải trí, mở mang kiến thức, đặc biệt có 7 bài học Kinh Thánh dành cho cá nhân hoặc từng nhóm do bà cố Ðoàn Trưởng Nguyễn Bá Quang biên soạn.  Xin giới thiệu với độc giả Thông Công, Quý bà, và Ban Phụ Nữ các Hội Thánh.

Giá bán $6.00 một quyển, chưa cước phí.

Xin đặt mua tại: Ðoàn Phụ Nữ

                      (714) 491-8007

Ngân phiếu xin ghi:    VAW (Vietnamese Alliance Women)

Gửi về địa chỉ:           Bà Ðặng Minh Trí

                                801 Magnolia Ave

                                Placentia  CA  92870