![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Sống Chết Trên Hồ Palos Verdes |
|
|
|
Các bạn từng thấy quảng cáo trên truyền hình về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến là hình ảnh những thanh niên cường tráng, có khả năng vượt mọi trở lực, thích ứng với mọi hoàn cảnh khác nhau. Ðó là hình ảnh của chính tôi, với 22 năm trong binh chủng này, nặng 210 cân, dù 50 tuổi vẫn có thể cử tạ nặng 425 cân như không. Nhưng bây giờ, tôi nhấc chính cái thân tôi đến phòng tập cũng không nổi, chứ đừng nói đến cử tạ. Từ khi biết mình bị ung thư, tôi quyết tâm chống chỏi với chứng bệnh tai quái này, nhưng xạ trị và mổ xẻ đã làm tôi teo lại còn 140 cân. Vài tháng sau ngày xuất viện, tôi nằm trên ghế tập, chống chân lên sàn thử nhấc cây xà chỉ nặng 35 cân, không có trái tạ nào nhưng không thể nào nhấc nổi. Nỗi thất vọng lớn lao xâm chiếm tâm hồn khi tôi nghĩ mình không còn đáng mặt nam nhi nữa. Và điều chắc chắn tôi đành phải mất đó là đời lính thủy quân lục chiến mà tôi rất tự hào. Vợ chồng tôi dời đến căn nhà mới mua bên hồ Parlos Verdes, một vùng xa xôi tận Ðông Nam Alabama vì tôi thích câu cá, cái bến sau nhà luôn cột chiếc tàu dài 14 feet, sẵn sàng lên đường, nhưng một phần vì tôi tưởng rằng mặt hồ bình lặng sẽ đem lại cho tâm hồn chút bình an. Nhưng sự bình an đó đã không thật sự đến, khi một ngày kia bác sĩ nói với tôi: “Bịnh tình ông đã thuyên giảm, nhưng phải nói thật với ông rằng ung thư thường tái phát.” Một buổi chiều Xuân không lâu sau đó, tôi ngồi bó gối bên cạnh nhà tôi, nhìn mặt trời lặn bên kia hồ xa xăm, mặt hồ phẳng lặng không còn đem lại êm ả cho tâm hồn, triền miên suy nghĩ không biết mình còn được bao nhiêu ngày nữa trên đời? Ðang chìm đắm trong nỗi buồn khổ riêng, tôi nghe nhà tôi hỏi với giọng thảng thốt: “Anh, anh nghe gì không?” Tôi ngồi bật dậy, bản năng người lính phút chốc bùng lên. Tôi nhận ra ngay đó là tiếng động cơ khục khặc. Nhà tôi mở hé cửa nhìn ra hồ rồi la lên: “Larry, anh coi kìa, chiếc máy bay này bay thấp quá!” Một chiếc máy bay hai động cơ chỉ lượn cao hơn ngọn cây một chút. Tôi hoảng hồn: “Chết rồi, phi công không biết có hai đường dây điện bắt ngang qua hồ.” Người phi công dường như nhận ra và tránh được một đường dây điện, rồi lao xuống. Anh ta tưởng đã an toàn. nhưng chỉ trong tích tắc, máy bay lao vào đường dây thứ hai, bị giật ngược và rơi úp xuống hồ. Tôi hét lên: “Donna, gọi 911!” rồi phóng xuống bậc cấp ra chỗ chiếc tàu neo sau bến. Chiếc máy bay rớt cách bờ khoảng 100 yards, chìm nghỉm trong lòng hồ sâu 8 feet, chỉ một phần thân và cánh nổi trên mặt hồ. Tôi nổ máy lái thẳng đến chỗ xảy ra tai nạn. Ánh sáng tàn thật nhanh, chỉ còn vài phút quý giá để cứu người bị nạn. Nhưng tôi bỗng giật mình khựng lại, nhận ra trong hoàn cảnh này mình là người duy nhất ở đây để cứu viên phi công. Nhưng tôi, tôi có làm được không, trong tình trạng sức khỏe hiện tại? Tôi có đủ sức lặn xuống nước tìm anh ta đưa lên mặt hồ được không? Tôi thưa với Chúa rằng Chúa ơi, tạ nặng chỉ có 35 cân con còn không nhấc nổi, bây giờ con phải làm sao? Tôi tắt máy, nhìn thấy một làn khói đen bốc lên từ máy bay. Hai mắt tôi cay xè, phổi tôi nóng ran. Dầu tràn khắp mặt hồ. Thế này máy bay có thể bị nổ tung. Ðã được huấn luyện cho trường hợp nguy cấp này, tôi biết mình phải định vị chỗ phi công ngồi, lôi anh ta ra khỏi máy bay, đem lên mặt nước, cầm máu, hô hấp nhân tạo... và chỉ còn có vài phút đề làm tất cả những việc này! Tôi cột chiếc tàu vào thân máy bay, cởi giầy, cởi áo, hít thật sâu và lặn xuống. Tôi không nhìn thấy gì trong vùng dầu loang lổ và khói tàu mù mịt. Tôi dò theo thân máy bay, thò tay quờ quạng vào mọi khoảng trống để tìm phòng lái. Phổi tôi đã muốn nổ tung. Bất ngờ tôi rờ được hình dáng cái ghế, nhưng ghế không có người! Tôi phóng lên mặt hồ, không biết viên phi công biến đi đâu. Tôi hít một hơi rồi lại lặn xuống. Anh ta đâu? Viên phi công đâu? Tôi nghĩ đến việc lặn xuống đáy hồ, nhưng đổi ý bơi quanh máy bay một lần nữa, quyết tâm không bỏ cuộc. Phổi tôi lại đòi không khí, tôi cố không ngoi lên, tiếp tục tìm kiếm. Cũng không có gì, lại đành phải ngoi lên một lần nữa để thở, rồi lại lặn xuống. Lần này, tay tôi chạm vào một cái gì đó. Viên phi công! Anh ta bị đẩy ra khỏi ghế, kẹt vào khoang tàu ở mũi phi cơ, phải gỡ dây ràng ghế mới lôi anh ta ra, nhưng tâm trí bắt đầu mờ mịt. Tôi nhủ thầm như nói với người bị nạn, “chờ đó ông bạn ơi, tôi sẽ quay lại ngay”. Tôi trồi lên mặt nước, hít thật sâu rồi lặn xuống. Tay tôi đụng vào một vật cứng và lạnh, thế là dây nịt bung ra. Tôi đạp mạnh, kéo viên phi công ra khỏi phòng lái, ôm anh ta thật chặt và kéo mạnh, nhưng vô hiệu quả, anh ta nặng như một bao xi-măng sũng nước. Phổi tôi lại chịu thua một lần nữa. Tôi kêu xin Chúa giúp tôi, Chúa ôi con cần Ngài. Và rồi, với cả sức lực tôi kéo thật mạnh một lần nữa. Thật lạ lùng, cả viên phi công và tôi nổi lên mặt hồ… Tôi bơi về phía thân máy bay bám chặt tay trái vào đó. Tay phải ôm chặt anh ta ngang hông, hết sức mình siết mạnh, nước phụt ra miệng, nhưng anh ta vẫn không thở. Tôi lấy thân mình ép anh ta vào cánh máy bay, tay phải giữ đầu và thổi vào miệng. Một lần, hai lần. Hai lá phổi của tôi, hai lá phổi đã tàn yếu vì ung thư và xạ trị, lại thêm đau vì khói. Tôi không biết mình có cứu được anh ta không, vì chính tôi cũng thở không nổi. Dầu vậy tôi cũng cố làm lần thứ ba, rồi thứ tư. Tôi lại cầu nguyện xin Chúa giúp, “Chúa ôi, con còn bao nhiêu thời gian nữa, xin hãy giúp con.” Tôi lại thử một lần nữa. Ngực anh ta phập phồng. Anh ho một tiếng yếu ớt, máu tràn ra miệng, dù vẫn bất tỉnh nhưng ít ra đã thở lại. Tôi thấy đau ở đầu và cổ, không dám liều mạng cố sức đem anh ta lên tàu. Không biết chúng tôi phải đứng dưới nước như thế này bao lâu nữa, trong khi tôi cảm thấy mình yếu đi từng giây một. Chúa ôi bây giờ chỉ có một mình Ngài thôi. Ðội cấp cứu sao chưa đến. Sau lời cầu nguyện, tôi có một cảm nhận rằng chúng tôi sẽ không sao. Có một sức mạnh lớn hơn đã đỡ nâng chúng tôi. Không biết viên phi công có nghe không nhưng tôi vẫn nói với anh: “Anh đừng lo, chúng ta sẽ qua hết.” Và dường như những lời đó tôi cũng nói cho chính mình. Có tiếng kêu vọng qua hồ: “Larry, chúng tôi đến đây!” Một chiếc tàu phóng đến và trong vòng vài giây chúng tôi được kéo vào chỗ an toàn. Một số nhân viên cấp cứu lo cho viên phi công và đưa anh ta lên xe cứu thương, một số lo cho tôi. Thân thể tôi bị cháy cấp một và hai trên 50% ở cổ, ngực và bụng. Ngón tay tôi bị rách gân vì cố bám vào máy bay. Trên đường đến bệnh viện tôi hỏi thăm tình trạng viên phi công. Một nhân viên cấp cứu cho biết chân trái ông ta bị thương, gãy xương sườn và có lẽ phổi bị liệt một phần, anh ta tiếp “nhưng anh ta sẽ qua khỏi, thật là cám ơn anh vô cùng.” Một người khác chen vào: “Anh bạn có biết là anh bạn đã cứu ai không? Ðó là Jack Roush, chủ tịch hội xe đua NASCAR”. Nhưng đối với tôi, tôi biết mình đã cứu một người quan trọng hơn, người đó chính là tôi. Ngày hôm sau, báo chí ca ngợi tôi là anh hùng. Nhưng với tôi, điều đó không quan trọng. Ðiều quan trọng là đã một thời gian lâu tôi xuống tinh thần, lắm khi còn xấu hổ về những điều mình không còn làm được nữa. Nay tôi khám phá ra rằng tôi vẫn còn làm được tất cả. Tôi thưa với Chúa rằng con sẵn sàng, Chúa ôi. Nếu bệnh ung thư trở lại, với sự giúp đỡ của Ngài, con sẽ đánh trả. Ngày đầu tiên sau một thời gian dài, tôi đã có thể ngẩng đầu lên đi thẳng đến phòng tập thể dục, mong muốn trở lại ghế tập, sẵn sàng đương đầu với bất cứ điều gì đến với cuộc đời. Larry Hicks, Troy, Alabama Guideposts, tháng Giêng 2004 Thy Hương lược dịch |
|
|
|