![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
ÐỨC TIN CHO MỌI THỜI ÐẠI |
|
|
|
Trong nền văn minh hiện đại, một trong những lý do người ta nêu lên để từ chối tìm hiểu về Cơ-đốc giáo và về tôn giáo nói chung là: Cơ-đốc giáo thiếu tính khoa học, không chứng minh mà đòi hỏi con người chấp nhận Thượng Ðế bằng đức tin. Những người không tin Thượng Ðế thường xếp chung Cơ-đốc giáo với tất cả các tôn giáo khác và kết luận rằng niềm tin trong tôn giáo chỉ là loại mê tín dị đoan của những người bình dân ít học. Tuy nhiên những người kết luận như thế hầu hết là những người chưa nghiên cứu Kinh Thánh một cách tường tận để đi đến một kết luận riêng, mà thường chỉ là vay mượn kết luận dựa vào suy luận đầy thành kiến của những người vô tín, là những người cũng lại biết ít hay biết méo mó về Kinh Thánh. Những kết luận đó thật ra chỉ dựa vào một số lập luận cho rằng ngày xưa khi khoa học chưa phát triển, con người vì không thể giải thích được những hiện tượng thiên nhiên, mưa bão, sấm chớp, núi lửa, động đất, cho nên đã gán ghép những biến động đó cho thần thánh và những tác nhân trong các chuyện thần thoại. Cho đến khi khoa học phát triển thì những hiện tượng trên được giải thích một cách thỏa đáng theo khoa học, kéo theo sự xụp đổ lòng tin nơi thánh thần. Từ đó, những ai còn tin nơi thần mưa, thần bão, thần sấm sét… đều bị liệt vào hàng những người ít học, mê tín dị đoan. Những người vô tín bảo rằng ngày nay không ai còn cần phải tin vào một Thượng Ðế tạo dựng vũ trụ và con người. Người ta đã dựa vào những sai lầm của giáo hội Công giáo trong những thế kỷ trước, điển hình là vụ án Galileo, để kết luận rằng niềm tin của Cơ-đốc giáo là sai lầm. Những thay đổi trong cấu trúc của xã hội do sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng làm quan niệm về niềm tin tôn giáo thay đổi, hoặc phần nào bị loại bỏ khỏi suy nghĩ và cuộc sống hàng ngày. Trong những năm cuối thế kỷ hai mươi, những người còn vững lòng tin vào Thượng Ðế phải đương đầu với nhiều thách thức, mà lớn nhất là thái độ lãnh đạm với tính cách hợp lý của niềm tin nơi Thượng Ðế. Chính vì vậy mà nhiều tín hữu hôm nay trở nên e dè, không muốn thổ lộ về niềm tin của mình, dường như niềm tin đó trong thế kỷ này không còn hợp thời nữa, bày tỏ ra e rằng không được người ta chấp nhận. Nhưng có thật sự niềm tin Cơ-đốc thiếu tính khoa học không? Có thật sự Cơ-đốc nhân phải loại bỏ khoa học nếu muốn giữ vững đức tin? Sự thật là khoa học chân chính không bao giờ phủ nhận Thượng Ðế hoặc phản bác Kinh Thánh. Thí dụ như chỉ cần biết đôi chút về lịch sử cấu tạo, hình thành và bảo tồn Kinh Thánh là người ta có thể thấy ngay rằng phủ nhận thẩm quyền Kinh Thánh không phải là việc đơn giản. Chúng ta có thể bảo rằng càng biết nhiều hơn về vũ trụ, càng suy nghĩ nhiều đến những câu hỏi lớn như: lý do thế giới hiện hữu, mục đích đời người... chúng ta càng thấy niềm tin nơi Ðức Chúa Trời là điều không chỉ có ý nghĩa mà còn là thiết yếu. Một thính giả của chương trình phát thanh tiếng Hoa viết thư về Ðài cho biết anh có ba người bạn học. Một người học y khoa, có rất nhiều nghi vấn về một Thượng Ðếù vô hình, không ai thấy được. Người bạn khác quan tâm đến nhiều điều và tin tưởng mọi tôn giáo, cho rằng mọi người cần phải có một niềm tin nào đó, nhưng không thể tin tưởng tất cả được. Người bạn thứ ba là một người vô thần cho rằng không thể nào có Thượng Ðế hiện hữu. Vị thính giả này xin Ðài cho lời khuyên phải trình bày thế nào để giúp các bạn biết Thượng Ðế là chân thần. Chúng ta có thể tìm thấy trong Thi Thiên 19 lời giải đáp cho nan đề trên. Vua Ða-vít khi chiêm nghiệm cõi thiên nhiên đã thấy được bàn tay Ðức Chúa Trời: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm. Ngày này giảng cho ngày kia, đêm này tỏ sự tri thức cho đêm nọ. Chẳng có tiếng, chẳng có lời nói; cũng không ai nghe tiếng nói của chúng nó. Dây đo chúng nó bủa khắp trái đất, và lời chúng nó truyền đến cực địa. Nơi chúng nó Ngài đã đóng trại cho mặt trời; Mặt trời khác nào người tân lang ra khỏi phòng hoa chúc, vui mừng chạy đua như người dũng sĩ. Mặt trời ra từ phương trời này, chạy vòng giáp đến phương trời kia; chẳng chi tránh khỏi hơi nóng mặt trời được.” Trong thế giới của con người thời vua Ða-vít, người ta cho rằng các thiên thể như mặt trời, mặt trăng, ngôi sao là các vị thần đầy quyền lực cai quản thế giới, và điều khiển vận mệnh con người qua các chuyển động trên bầu trời. Nhưng Kinh Thánh cho biết các thiên thể đó không có sự sống và chỉ là một phần nhỏ của công trình sáng tạo. Sứùc mạnh duy nhất những thiên thể này sở hữu là lời chứng hùng hồn về sự hiện hữu của một Ðấng Tạo Hóa Toàn Năng, qua vẻ đẹp, trật tự và vinh quang của chúng. Nếu những con người thời cổ đại nhìn vào vũ trụ trong nỗi sợ hãi xen lẫn lòng sùng kính, thì những người thời nay lại có khuynh hướng giải thích vũ trụ như một tai nạn, một sự tình cờ. Khuynh hướng duy nhiên và duy vật chủ trương rằng tất cả là vật chất và không có gì vượt ra khỏi thế giới vật lý, và rằng cả thế giới vật lý đó hình thành hoàn toàn là kết quả của các nguyên nhân vật lý. Quan niệm như vậy về thế giới không có tính cách hợp lý hay khoa học, mà thật ra chỉ là phát biểu của lòng tin vào những nền tảng mà khoa học không thể chứng minh được. Nhìn vào vũ trụ, chúng ta thấy hai điều nổi bật: Thứ nhất, tính cách bao la vĩ đại của nó. Nhìn lên bầu trời trong những đêm nhiều sao chúng ta thấy mình như bị cuốn hút vào cái thăm thẳm vô biên, khiến chúng ta không khỏi xúc động nói như vua Ða-vít: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, bầu trời gĩai tỏ công việc tay Ngài làm...” Hơn nữa, càng biết nhiều về vũ trụ, con người càng thấy thêm những điều kỳ bí trong vũ trụ mà khoa học không thể giải thích. Nói cách khác, tri thức con người về vũ trụ càng gia tăng thì mức độ kỳ bí của vũ trụ cũng tăng theo. Các nhà thiên văn đo khoảng cách của không gian bằng năm ánh sáng, nghĩa là khoảng cách ánh sáng vượt qua trong một năm với vận tốc 300,000km/giây. Thái dương hệ của chúng ta là phần nhỏ của một thiên hà có tên là Ngân Hà có đường kính rộng đến 100,000 năm ánh sáng. Trong những năm gần đây, người Mỹ đã chế tạo được một viễn vọng kính khổng lồ đặt trong không gian trên quỹ đạo trái đất. Viễn vọng kính Hubbles giúp con người có thể nhìn rõ hơn và sâu hơn vào không gian suốt qua đến một triệu thiên hà khác, có lẽ thấu đến tận biên giới của vũ trụ. Làm thế nào một vũ trụ bao la kinh khủng như thế đã khởi sự từ một nguyên tử trong không gian và thời gian? Cả vũ trụ bao la này từ đâu mà ra? Hay tất cả khởi sự từ hư vô, ngẫu nhiên xuất hiện? Hay chính vũ trụ rộng lớn này đã do một Ðấng Tạo Hóa toàn năng sáng tạo? Kinh Thánh dạy rằng: “Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật này? Ấy là Ðấng khiến các chòm sao ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm và quyền năng Ngài rất cao” (Ê-sai 40:25,26). Hiển nhiên, những lời giải thích này của Kinh Thánh, trong bối cảnh kiến thức thời nay lại có ý nghĩa nhiều hơn so với thời cổ đại, mà không cần bạn phải có trí óc của Einstein. Thật ra nếu bạn có trí óc của Einstein thì những lời Kinh Thánh trên còn sáng tỏ nhiều hơn nữa, vì Einstein cùng với vô số các vĩ nhân khác trong lịch sử đã tin vào một Ðấng Tạo Hóa toàn năng. Thứ hai, cấu trúc của vũ trụ: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, bầu trời giãi tỏ công việc Ngài.” Từ “công việc” ở đây nói về cấu trúc hay kiểu mẫu Chúa họa kiểu. Bất cứ một người không thành kiến nào cũng đều thấy tính cách hài hòa trong thế giới và vũ trụ của Ðấng Họa Kiểu vĩ đại. Ngay cả những khoa học gia theo chủ nghĩa bất khả tri cũng phải nhận rằng sự sống là một biến cố rất mong manh, thế mà trong thế giới chúng ta sống, những điều kiện để sự sống tồn tại đã được cân bằng vô cùng chính xác, chính xác đến nỗi chỉ cần thay đổi một trong hàng trăm điều kiện là đủ làm sự sống không thể tồn tại được. Bây giờ cũng không cần nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn vào con người của mỗi chúng ta với thân xác cực kỳ phức tạp, với trí thông minh, khả năng suy luận, tìm hiểu, khám phá thế giới, khả năng đạo đức, biết phân biệt thật, giả, đúng, sai, khả năng biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp vật chất lẫn tinh thần... Một con người kỳ diệu như thế từ đâu ra? Yếu tố cấu tạo sự sống là những phân tử đản bạch tinh có chứa hơn 2,000 nguyên tử khác nhau. Tất cả những nguyên tử này đều cần được sắp xếp theo một trật tự nhất định để có thể tồn tại. Tác giả của cấu trúc đó là ai? Bảo rằng kết quả thân xác con người là một kết hợp ngẫu nhiên của các nguyên tử cũng giống như bảo rằng một người ngồi gõ đại lên bàn máy chữ trong vài tỉ năm để cuối cùng hoàn thành một kiệt tác văn chương như của Shakespeare. Kinh Thánh cho biết khi nhìn vào trật tự trong vũ trụ và thế giới chung quanh con người có thể thấy những kiểu mẫu là bằng chứng của một nhà họa kiểu vĩ đại. Ðến thăm một đại công xưởng sản xuất xe hơi bạn sẽ thấy một đầu của dây chuyền sản xuất là nguyên liệu như sắt, thép, kính, plastic... được đưa vào, cho đến cuối dây chuyền lắp ráp là những chiếc xe hơi bóng loáng chạy ra khỏi xưởng. Bạn có thể có nhiều nhận xét về dây chuyền sản xuất này, nào là phức tạp, tinh vi, kỹ thuật cao... Duy có một điều bạn không thể nói rằng những chiếc xe hơi kia do ngẫu nhiên bất ngờ mà thành. Ðây chính là lập luận trong Thi Thiên 19 và Rô-ma 1 cho thấy: dựa vào thế giới tự nhiên con người có thể biết có một Ðấng Tạo Hóa khôn ngoan, toàn năng đã sáng tạo nên thế giới và vũ trụ bao la này, và điều con người không thể nói được đó là cho rằng vũ trụ, thế giới hiện hữu do ngẫu nhiên! Tuy nhiên điều chúng ta cần lưu ý là chỉ tin rằng có một Ðấng Tạo Hóa không đủ, chúng ta cần quen biết Ngài. Hơn ai hết, là người Việt Nam chúng ta thấy giá trị và cần thiết của sự quen biết. Chúng ta có thể quen biết Chúa qua Kinh Thánh. Kinh Thánh là Lời Chúa phán dạy con người. Tiếp nhận Lời Kinh Thánh là tiếp nhận chính Chúa. Lúc đó mối quan hệ giữa tạo vật và Ðấng Tạo Hóa được thiết lập và từ đó con người mới có thể thấy rõ, đầy đủ ý nghĩa của đời mình. Phần sau của Thi Thiên 19 nói về tác dụng của lời Chúa: “Luật pháp của Chúa là trọn vẹn phục sinh linh hồn; Chứng cớ Chúa chắc chắn làm con trẻ khôn ngoan; Giềng mối Chúa ngay thẳng làm cho lòng vui mừng; Giới răn Chúa trong sạch làm mắt sáng sủa. Sự kính sợ Chúa trong sạch còn đến đời đời. Các mạng lịnh Chúa chân thật, tất cả đều công chính…” Tất cả những từ liệu như luật pháp, chứng cớ, giềng mối, giới răn, mạng lịnh… đều chỉ về lời phán của Chúa. Ðức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài qua thiên nhiên, nhưng Ngài đã đi xa hơn, bày tỏ chính Ngài bằng Lời phán. Qua thiên nhiên, con người biết được một số điều tổng quát về Ðức Chúa Trời: Ngài vĩ đại, oai nghi, khôn ngoan, vinh hiển… nhưng thiên nhiên không cho biết về Ngài như một thân vị, như Chân Thần yêu thuơng, gần gũi con người. Ðức Chúa Trời là thần linh, là Chân Thần. Con người không thể thấy Ðức Chúa Trời bằng mắt trần, cho nên Ngài đã dùng lời phán để bày tỏ về Ngài, để con người có thể thiết lập tương giao với Ngài. Ðức Chúa Trời đã phán dạy Lời Ngài cho một số người Ngài chọn lựa trong lịch sử như các tiên tri, các lĩnh tụ, các sứ đồ…để ghi xuống những lời thành văn trong Kinh Thánh. Tiếp nhận lời Kinh Thánh, con người dần hồi có thể kinh nghiệm lời Chúa quí hơn vàng, ngọt hơn mật, kèm theo những lời hứa như sau, “Các điều ấy dạy cho kẻ tôi tớ Chúa được thông hiểu; ai gìn giữ lấy được phần thưởng lớn thay.” Ðức Chúa Trời cao cả, nhưng con người vẫn có thể đến gần, có thể tiếp nhận Ngài vào lòng khi tiếp nhận Lời Ngài. Sứ đồ Giăng dạy một chân lý quan trọng khi tiết lộ rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu chính là Ngôi Lời hay Lời Phán của Ðức Chúa Trời. Lời phán của Ðức Chúa Trời đã nhập thể và thể hiện qua thân vị Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chính vì thế khi một người tiếp nhận Lời Chúa là tiếp nhận chính Chúa. Ðây chính là khía cạnh vô cùng mầu nhiệm của đạo Chúa. Người tin Chúa không chỉ biết Chúa nhưng còn có Chúa trong lòng, có Chúa trong đời sống. Lời Chúa cũng như tấm gương phơi bày mọi tội lỗi, sai phạm trong lòng, nhưng cũng đồng thời có sức mạnh cáo trách, ban năng lực giúp con người phấn đấu từ bỏ tội lỗi, thêm năng lực đắc thắng tội lỗi. “Xin Chúa giữ kẻ tôi tớ Chúa khỏi cố ý phạm tội; nguyện tội ấy không cai trị tôi thì tôi sẽ không chỗ trách được và không phạm tội trọng.” Lời cuối của vua Ða-vít trong Thi Thiên 19 là, “Hỡi Chúa là vầng đá của con và là Ðấng Cứu chuộc con, Nguyện lời nói của miệng con và sụ suy gẫm của lòng con được đẹp ý Ngài!” Ða-vít mong ước có được những tư tưởng cũng như lời nói phù hợp với ý muốn Chúa. Khi một người chân thành tiếp nhận lời Chúa vào lòng, những lời đó sẽ tác dụng lên toàn thể tâm hồn, tâm trí và linh hồn, người đó sẽ được dầm thắm, trui rèn trong các nguyên tắc công chính, thánh khiết, yêu thương của Ðức Chúa Trời. Lời Chúa cũng có quyền năng biến đổi tâm hồn, có sức mạnh ban năng lực chiến thắng tội lỗi, ban sự khôn ngoan trong các quyết định và mọi cách ứng xử trong cuộc đời. Lời Chúa lúc đó không là luật lệ, giáo điều, nhưng là chính Chúa Cứu Thế là “Em-ma-nu-ên” nghĩa là “Ðức Chúa Trời ở cùng chúng ta.”
Việt Quang
|
|
|
|