![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Nhận Định |
|
|
|
Tác Dụng của Một Lời Chứng
Trong tai họa sóng thần ở vùng Ấn Ðộ Dương cuối năm ngoái, tổng số người chết và mất tích lên đến hơn 250,000 người. Trong số những trường hợp thoát chết, hãng thông tấn Reuters ghi lại mẩu tin sau. Một em học sinh 10 tuổi, người Anh, cùng với gia đình đi nghỉ ở Thái Lan đã cứu được 100 du khách tại một khách sạn ở đảo Phukhet, khi em cảnh báo sóng thần sắp tràn đến, dựa trên những hiện tượng được học ở trường trước đó hai tuần. Khi đang chơi trên bãi biển, em Tilly Smith bỗng thấy nước biển nổi bọt và thủy triều bất ngờ rút ra thật xa khiến cho một số tàu thuyền đậu ven bờ mắc cạn. Trong khi các du khách khác đứng nhìn quang cảnh dị thường này, thì em nhận ra đó là dấu hiệu báo trước sóng thần, thường do một cơn địa chấn ngầm dưới đáy biển gây ra, mà thầy Andrew Kearney đã dạy cho cả lớp. Em nói với mẹ, bà đã cấp báo cho ban quản lý khách sạn, và tất cả 100 du khách ở bãi biển Maikhao Beach được lệnh di tản chỉ ít phút trước khi những đợt sóng cao ngất như vách núi ập tới. Maikhao là một trong rất ít bãi biển ở đảo Phukhet không có tổn thất nhân mạng. Chúng ta rút ra được những bài học nào qua mẩu tin trên? (1) Trước hết, nhiều người không biết tai họa sắp đổ tới chỉ vì thiếu hiểu biết về sóng thần cho nên đã đứng nhìn nước biển rút ra thật xa mà không có phản ứng gì. (2) Thứ hai, em Tilly Smith được học về sóng thần, ghi nhớ và biết áp dụng trong thực tế, vì thế đã cứu được chính em, mẹ và nhiều người khác. (3) Thứ ba, thầy giáo Kearney đã truyền đạt kiến thức cho học trò đầy đủ, hữu hiệu và đúng thời điểm. (4) Thứ tư, mẹ em Tilly cũng như ban quản lý khách sạn đã nghe và tin lời em Tilly Smith, đã có hành động cấp thời, triệt để trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ðúc kết tất cả những sự kiện trên, chúng ta thấy có nhiều mắt xích riêng rẽ nhưng đã được một bàn tay vô hình, kỳ diệu nối kết lại và hiển nhiên trách nhiệm của từng “mắt xích” rất rõ ràng. Chỉ cần một “mắt xích” không làm đầy đủ trách nhiệm, kết quả chắc cũng khác xa - chúng ta biết chuyện gì xảy ra nếu thầy giáo Andrew Kearney không dạy về sóng thần, hay hôm đó em Tilly nghỉ học, hay ban quản lý khách sạn bỏ ngoài tai lời cảnh báo… Theo quan điểm của con người, những xáo trộn trong thiên nhiên đem đến tai họa không nằm trong ý định của một Ðức Chúa Trời toàn thiện. Mặt khác, Ðức Chúa Trời cũng không có ý định loại trừ tất cả mọi tai ương và đau khổ - là hậu quả của tội lỗi, theo ý muốn, thời điểm hay cách thức của con người. Ðức Chúa Trời có chương trình riêng và thời điểm riêng của Ngài. Chúng ta cần nhớ rằng Ngài là Ðấng Tạo Hóa. Trong thời gian tại thế, Chúa Giê-xu không chữa lành tất cả mọi người bệnh hoạn, tật nguyền dù quyền năng của Ngài vô giới hạn. Chúa cũng không trục xuất ma quỉ ra khỏi tất cả mọi người bị quỉ ám. Chúa không nuôi tất cả những người đói khát… mà chỉ những người nghe nói về Ngài và đến với Ngài với lòng tin mới được giải cứu. Mục tiêu chính Chúa đến không phải để chữa bệnh, đuổi quỉ, nhưng để hoàn tất kế hoạch cứu rỗi bằng cách dâng chính Ngài làm sinh tế chuộc tội, đủ cho toàn thể nhân loại, nhưng điều đáng tiếc là không phải tất cả mọi người đều muốn nhận. Có những câu chuyện tương tự như chuyện em Tilly Smith ở trên được ghi trong Kinh Thánh. Gần ba nghìn năm trước, một bé gái Israel bị bắt làm nô lệ cho vợ tướng Na-a-man của vua Sy-ri đã có một lời chứng làm thay đổi số phận viên tướng này. Na-a-man bị phung cùi, bé gái Israel thấy thật tội nghiệp, đã nói với bà chủ rằng, nếu ông chủ qua Sa-ma-ri xin tiên tri Ê-li-sê chữa, chắc chắn sẽ khỏi bệnh. Bà tin lời, nói với ông. Tướng Na-a-man cũng tin, tâu với vua. Vua tin, viết thư gửi gấm trao tay Na-a-man đem qua Sa-ma-ri… Kết cuộc, tướng Na-a-man phung cùi được lành mạnh trở về, da thịt lành lặn như da thịt trẻ nhỏ! Tất cả khởi sự từ lời nói đơn sơ nhưng quả quyết của một em bé (2 Các Vua 5: 1-14). Ít lâu sau, chiến tranh bùng nổ, quân Sy-ri vây thành Sa-ma-ri. Lương thực trong thành cạn dần. Dân trong thành đói đến nỗi có người ăn cả thịt con mình. Ðúng thời điểm đó, Ðức Chúa Trời đã can thiệp và sai tiên tri Ê-li-sê báo trước sự giải cứu. Ở ngoài thành có bốn người phung cùi bàn với nhau rằng cứ ở đây thì rồi cũng sẽ chết đói, vào thành cũng chết, chi bằng trốn qua trại quân Sy-ri đầu thú. Nếu được dung thứ thì sẽ sống mà nếu không thì đàng nào cũng chết. Nói sao làm vậy. Vừa chập tối họ tìm đến trại quân Sy-ri, nhưng vào đến nơi thấy cảnh vườn không nhà trống mà thực phẩm và quân trang quân dụng vứt bừa bãi. 2 Các Vua 7: 6-7 ký thuật như sau “Chúa đã khiến trại quân Sy-ri nghe tiếng xe, ngựa và tiếng đạo binh lớn; nên nỗi dân Sy-ri nói với nhau rằng: kìa vua Israel đã mướn vua Hê-tít và vua Ai-cập tấn công chúng ta. Chúng liền chổi dậy, trốn đi lúc chạng vạng, bỏ lại trại, ngựa và lừa, để nguyên trại quân bỏ trốn cứu mạng sống mình.” Bốn người phung vào trại quân Sy-ri ăn uống thỏa thuê, thu gom vàng bạc, quần áo đem giấu, nhưng rồi họ bình tĩnh trở lại, nói với nhau, “Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành và chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông thì sự hình phạt chắc sẽ lâm vào chúng ta. Vậy ta hãy đi báo tin này cho nhà vua…” (2 Các Vua 7: 9) Hiển nhiên, những trường hợp giải cứu kỳ diệu trên được qui cho những lời nói đơn sơ của những con người đơn sơ, và chúng ta có thể đem so sánh với lời chứng về ơn cứu rỗi với một số nhận định như sau. 1. Dù không biết trước hầu hết các tai ương hay hoạn nạn trong thiên nhiên hay trong các hoàn cảnh sống, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng số phận đau đớn đời đời trong hỏa ngục dành cho những người không công nhận cái chết của Chúa Giê-xu trên thập hình là sinh tế chuộc tội cho mình. 2. Mỗi Cơ-đốc nhân là một “mắt xích” trong sự cứu rỗi của hàng trăm người khác. Không làm tròn bổn phận công bố tin lành, chúng ta là một mắt xích vô dụng, khiến cho rất nhiều người khác đi vào chốn hư vong. Chúng ta đã từng nghe kể những trường hợp mất cơ hội được cứu rỗi rất đáng tiếc, khi bạn bè qua đời do đủ loại tai nạn khác nhau, trong khi trước đó, cơ hội chia xẻ tin mừng hoàn toàn nằm trong tầm tay chúng ta. Ðúng ra chúng ta đã phải dốc đổ cầu nguyện cho thân hữu, mời bạn đến nhà, dành thì giờ ghé thăm bạn, dùng vài phút gọi điện thoại, gửi cho bạn một truyền đạo đơn, viết e-mail, mời bạn đi nhà thờ… 3. Nhận định và quyết định của những người phung rất đúng, khôn ngoan và thực tế, “Chúng ta làm chẳng phải; ngày nay là ngày có tin lành và chúng ta nín lặng sao! Nếu chúng ta đợi đến rạng đông thì sự hình phạt chắc sẽ lâm vào chúng ta. Vậy, ta hãy đi báo tin này…” Cuối cùng, tất cả những nhận định trên sẽ không ích gì nếu người tin Chúa không quyết định hành động. Trong thực tế, nếu được khích lệ và hỗ trợ trong hội thánh, cá nhân tín hữu có thể khởi sự nắm lấy các cơ hội và kiên trì chia xẻ tin mừng trong các điều kiện và hoàn cảnh riêng, nhưng kết quả sẽ là kết quả chung cho toàn hội thánh. Có thêm người tin Chúa, hội thánh được tăng thêm sinh lực, các thành phần trong hội thánh có thêm trách nhiệm -cũng là đặc ân- nuôi dưỡng, chăm sóc, gây dựng và nhất là nêu gương cho tân tín hữu. Những bận rộn trong các sinh hoạt thuộc linh đó sẽ làm giảm bớt những biểu hiện tiêu cực trong các mối quan hệ của những người “nhàn cư” trong hội thánh. Hội thánh nào không thường xuyên có thêm người tin Chúa phải đối diện với nhiều hiểm họa: nản chí, ngã lòng, cám dỗ buông xuôi, thay đổi mục tiêu rao giảng tin lành cứu người bằng những tổ chức và sinh hoạt không cấp bách, không thiết yếu, không theo đúng Ðại Mạng Lệnh của Chúa. Trách nhiệm nhắm đúng hướng, bền lòng theo đúng mục tiêu “khích lệ, nhắc nhở và nêu gương làm chứng nhân cho Chúa” trước hết đặt trên vai tôi con Chúa thuộc thành phần lãnh đạo trong các hội thánh địa phương. Không ý thức trách nhiệm này, không nhận và thi hành trách nhiệm này, chúng ta cần chuẩn bị một câu trả lời với Chúa trong ngày gặp mặt Ngài. Ngày đó sẽ đến! Thông Công
Tính đến cuối tháng Hai, 2005, các Hội Thánh và tôi con Chúa trong Giáo Hạt đã dâng $53,020.24 cho quỹ cứu trợ nạn nhân tsunami. Xin chân thành cám ơn sự đáp ứng của quý vị. Xin Chúa ban phước lại cho quý vị bội hậu.
|
|
|
|