Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

CẢI TẠO GỬI QUÀ

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Chị bạn hàng xóm thò tay qua song sắt vén màn cửa sổ nói vọng vào.

- Thím Tâm ơi,  hàng Tết năm nay bán được giá lắm đó!  Không dùng hết nhớ để lại cho tui nhe!”  

Từ sau bếp tôi chạy lên:

-Vậy sao, cửa hàng bán gì vậy chị?

- Ngoài  nhu yếu phẩm hàng tháng, lần này còn có đường, sữa, có thịt…mà tiêu chuẩn cũng nhiều nữa. 

Tôi mở cửa bước hẳn ra ngoài.

- Mà tất cả bao nhiêu tiền vậy chị?

- Chắc khoảng 10 đồng!

Tôi ngạc nhiên nhìn chị.

- Nhiều vậy sao?  

Chị vừa lững thững đi về cuối hành lang, vừa nháy mắt nhìn tôi cười,  “Tết mà!”

Chị bạn về rồi, tôi bắt đầu suy nghĩ.  Mười đồng!  Tìm đâu ra mười đồng? 

Nỗi lo lắng thường xuyên dằn vặt hầu hết mọi người  những năm sau 75 là miếng cơm manh áo, là tương lai mịt mù, là những “tai họa thình lình vụt đến.”  Nhìn quanh đều thấy người thất nghiệp.  Tôi hay lên lầu tư chơi với người bạn đồng cảnh.   Một hôm chị tâm sự, “Gia đình nhà tôi là gia đình cách mạng, ông anh nhà tôi là cách mạng gộc, ổng nói với tôi rằng: “Thím phải lo làm ăn, đừng có chờ chú về.  Thím phải coi như chú ấy chết rồi!”

Tôi rùng mình.  Ghê quá! Coi người đi tù cải tạo như đã chết rồi!  Vậy mà chỉ mấy tháng sau đó, thực tế đã cho tôi thấy lời nhắn nhủ trên có một phần sự thật.  Một bà hàng xóm khác của tôi sau khi đi thăm nuôi đã đem về một gói nhỏ hành trang của chồng và từ đó bà đã lao xuống một con dốc cuối cùng của cuộc đời, không gì giữ lại được.  Tôi miên man suy nghĩ, nghe phũ phàng nhưng dường như đó cũng là thực tại.  Làm thế nào có thể trông mong một điều vô thời hạn, chờ đợi ngày trở về của một người tù không có án? Phải coi như người đó đã chết để mọi người thấy không còn gì cứu vãn được, và từ đó mới có thể tập trung vào cuộc sinh tồn, vào một khởi đầu mới mẻ?

Tôi bắt đầu với Chúa, mỗi ngày từ sáng sớm tinh mơ, dành thì giờ tĩnh nguyện một mình, rồi mở đài Nguồn Sống, nghe giảng Lời Chúa.  Mỗi tối, có cả phần Đọc Kinh Thánh với những bài Thánh Ca, mà cho đến lúc này vẫn còn vang vọng trong tâm hồn tôi.  Tiếng hát trầm ấm của anh Ái “Chúa đã phán một lời, chẳng bao giờ dối, bao nhiêu hứa ngôn dẫu cho đời đời nào có phai.”  Chưa bao giờ tôi thấy cần phải bám chặt vào đức thành tín của Chúa  như lúc này.  Nhìn quanh, tôi không dám tin ai, tôi không dám tâm sự với ai, nhưng tôi có Chúa.  “Bình an trong tay Giê-xu dẫu thế gian đổi thay…”  Cái radio là bạn cố tri, tôi dấu dưới gối mỗi tối để nghe một mình; tôi dấu sau lưng mỗi sáng sớm, lúc hai con còn say ngủ, khi ngồi dựa vào tường, vừa cố đan cho xong mớ mây tre lá lãnh từ “Tổ Hợp Mây,Tre, Lá” vừa nghe những lời nâng đỡ linh hồn...

Tôi phải đan ngày đan đêm để có tiền chợ nhưng cũng là để khai báo với phường rằng mình có công ăn việc làm để khỏi bị bắt đi kinh tế mới… Với cuộc sống đó,  số “lợi tức” thu thập nhờ bán cho bạn hàng số nhu yếu phẩm được mua hàng tháng trở thành rất quan trọng.  Tôi còn nhớ dân chúng được chia thành ba hạng, tùy theo số miệng ăn trong gia đình, gọi là nhân khẩu, mỗi hạng được phát cho một quyển sổ khác màu gọi là sổ nhu yếu phẩm.  Hàng tháng mỗi gia đình được mua vài loại thức ăn hoặc hàng hóa. Món nào mình không cần thì bán cho bạn hàng với một giá khá cao so với giá nhà nước đã bán cho mình.   Như vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, hoàn cảnh đã đào tạo người dân trở thành những người buôn bán lẻ.  Quả là “cái khó ló cái khôn,” người dân đã tìm ngay ra được nguồn cung và đáp ứng cho chỗ cầu.  Người có không dám ăn, người dám ăn lại không có đủ, cứ thế người này nhịn để nuôi người khác.  Khi mới “giải phóng”, có một mặt hàng bỗng dưng được giá một cách lạ thường, đó là hàng Mỹ.  Nhiều người đã đấm ngực tiếc hùi hụi khi Việt Cộng vào thành phố đã vì sợ quá đem quăng bỏ nhiều thứ của Mỹ.  Nay hàng hóa nào “mác” Mỹ hẵn hòi giá còn cao hơn.  Nào ai ngờ, trong những ngày người ta cao rao đã đánh cho “Mỹ cút” thì hàng hóa Mỹ trở thành ước mơ của nhiều người.  Từ cục xà-phòng, kem đánh răng, vải vóc v.v…  Cũng nhờ mấy cục xà-phòng “Camay” mà tôi có tiền mua thêm gạo chợ đen, cộng với tiền bán nhu yếu phẩm, gia đình có một thời gian thở dễ dàng hơn một chút.

Cuộc sống lúc bấy giờ thật vô cùng lạ lẫm với tôi cũng như với nhiều người.  Không có sự thật, con người ta mò mẫm một cách lạ kỳ, không tin vào ai, con người ta thủ thân một cách ma mãnh.  Mỗi tháng, tôi xếp hàng đi mua nhu yếu phẩm Nhà Nước bán, gồm thuốc lá, thịt, sữa, bột ngọt, những bạn hàng săn tin rất giỏi, biết sẽ có thứ gì và đến nhà gạ mua từ hôm trước.  Nghĩ buồn cười, thỉnh thoảng tôi được mua một cái vỏ xe đạp, khoảng vài chục thước dây thun, chẳng biết phải làm gì với nó nếu không có bạn hàng gạ mua.  Có khi bạn hàng đã ứng tiền trước cho tôi mua, rồi khi bán hàng cho họ tôi có thêm chút tiền, mà những thứ tôi cần như miếng thịt, miếng mỡ, ít ký khoai thì miễn phí.  Sinh hoạt xóm giềng nhiều khi trở nên rộn rã trong những ngày bán nhu yếu phẩm.  Mấy bà nội trợ mặt mày rạng rỡ xách tòng teng trên tay miếng thịt heo buộc bằng sợi dây lác, không gói ghém gì cả.  Mấy bà còn so với nhau xem ai được miếng thịt nhiều mỡ hơn, chẳng cần để ý màu thịt hơi tái bay mùi hăng hắc vì phơi nắng.

Hôm nay, chị bạn hàng qua nhà tôi gạ mua mặt hàng Tết nhà nước sắp bán, chị cho biết lần này hàng có nhiều thứ giá trị, tôi phải có được 10 đồng mới mua hết.  Mười Đồng!  Một tháng đan mây tre, tôi chỉ kiếm được khoảng 15 đồng là giỏi lắm.  Mua hàng Tết, thì không có tiền ăn.  Mà bán đi, thì những thứ này tôi không thể nào mua nổi ngoài chợ đen.  Thỉnh thoảng, chị vẫn ứng tiền trước cho tôi.  Lần này tôi thấy thật khó xử, nhưng nói với chị rằng, “những thứ này em cũng muốn giữ lại cho nên để xem sao, em chưa hứa.”

Tôi cầu nguyện với Chúa, xin Chúa mở đường tiếp trợ cho tôi.  Làm sao tôi có 10 đồng đây.  Ngày bán hàng gần kề, vét hết trong nhà cũng không đủ 10 đồng, mà nếu có thì mua hết rồi lấy tiền đâu mua rau mua cá hằng ngày...

Tiếng gõ cửa buổi trưa làm tôi giật mình, một bà lạ mặt đứng trước cửa hỏi khi thấy cánh cửa vừa hé mở, “Thưa đây có phải nhà chị Tâm không?”  Tôi gật đầu “Dạ phải.”  Tôi mở hẳn cánh cửa, chị bước vào ngồi xuống ghế mây, lôi trong giỏ ra một phong bì nhàu nát, đưa cho tôi: “Tôi đi thăm nuôi nhà tôi mới về, anh nhà nhờ tôi chuyển thư này cho chị.”  Hai chị em trao đổi vài ba câu về tình hình trên trại cải tạo, rồi chị ra về vì còn nhiều chỗ phải ghé.  Cái cảnh đưa thư tay này chẳng xa lạ gì với chúng tôi.  Sau mỗi lần thăm nuôi, chúng tôi ai cũng nhận lãnh công tác này với niềm vui được đem tin tức người cải tạo đến với người thân yêu ở nhà, những tin tức, những tình cảm mà không ai muốn đi qua những bàn tay kiểm duyệt.  Tôi nhớ có những giòng chữ nhắn vội, những mẩu giấy bèo nhèo ghi địa chỉ, đã được những người lạ đưa tới tận nhà, đem lại những niềm vui, những tin tức, những mong đợi.  Cũng nhờ những chuyến đạp xe đi trao thư, mà tôi làm quen với nhiều ngõ ngách trong thành phố Sài-gòn và vùng lân cận mà trước đây tôi biết rất ít.  Tôi về sinh sống tại Sài-gòn sau khi lập gia đình, được 3 năm thì nhà tôi đi tù cải tạo.  Trước đây tôi có biết gì về đường phố Sài-gòn đâu.  Ngoài con đường từ nhà đến sở mà hằng ngày nhà tôi đưa đi, và từ nhà đến nhà thờ, còn phố xá thì hoàn toàn lạ lẫm đối với tôi.  Vậy mà, sau những lần đạp xe đi đưa thư, tôi đã đi vào nhiều ngõ ngách của thành phố này, những con ngõ nếu có hai người ngược chiều nhau thì một người phải đi lui.  Nhiều khi tôi đã ngại ngần không biết mình có nên đạp xe vào một khu xóm mà các số nhà đầy những “xuyệt”, phải phục tài mấy ông phát thư.  Dầu vậy, tôi chưa bao giờ phải giữ lại một thư nào vì không tìm được nhà, cứ hỏi  hàng xóm thì thế nào cũng ra.  Đó là cái hay của xóm giềng Việt Nam.  Không phải chỉ một người ra giúp mà người lớn trẻ em ai nghe hỏi cũng chạy ra góp ý, kẻ bàn thế này người nói thế kia, thế là nhân vật chính sẽ được định vị nhanh chóng, một bầy trẻ con sẽ hướng dẫn tôi đến đúng căn nhà tôi muốn tìm và chúng cũng muốn nấn ná nghe xem có chuyện gì...

Khi người bạn mới quen ra về, tôi mở lá thư tay nhà tôi gửi, một tờ giấy 10 đồng màu hồng đập vào mắt tôi.  Tôi vô cùng ngạc nhiên đọc nét chữ quen thuộc của nhà tôi: “Bà An Giò lên thăm anh Sỹ, gặp anh đang lao động trong khu thăm nuôi,  đã nhét vội vào tay anh 10 đồng này.  Số tiền khá lớn, anh nghĩ ở nhà em và các con cần hơn anh, nên anh nhờ chuyển cho em.”  Lòng tôi lặng lờ trước sự trả lời lạ lùng của Chúa.  Nước mắt rơi nhanh, Chúa thật là đầy sáng tạo và ý nhị trong cách nhậm lời tôi cầu nguyện.  Ngài cho tôi một đóa hoa thật đẹp giữa hành trình sa mạc, một đóa hoa chứa đựng tình của Chúa và tình của nhà tôi, và thêm vào đó là tình của bà An, một bà tín đồ quen biết ông Nội mấy cháu ngày còn ở miền Bắc.  Chúa đã nhờ bà đem tặng chúng tôi đóa hoa trồng trong vườn của Ngài.

Trong ký ức về những chuyến thăm nuôi nhà tôi, tôi không bao giờ quên lần tôi được nhà tôi không thăm mà nuôi tôi với hai con ở nhà.  Những ký ức nhắc tôi về sự thành tín của Chúa, về sự nhậm lời cầu nguyện của Chúa.  Đặc biệt trong những ngày giông bão của cuộc đời.

Bà Nguyễn Đăng Minh