![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
CÁNH ĐỒNG VÀNG TẠI ĐÀI LOAN |
|
|
|
Cảm tạ Chúa đã cho tôi được nghe về nhu cầu tại Đài Loan cho người Việt Nam. Tôi và gia đình bắt đầu cầu nguyện cho vấn đề này. Tiếng Chúa trong Ê-sai 6:8 văng vẳng trong lòng tôi “Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có con đây, xin hãy sai con.” Lời Chúa cũng nhắc rằng tôi cần một người bạn đồng hành, cùng tâm tình phục vụ để “ra đi từng đôi” như trong Lu-ca 10:1-2. Tạ ơn Chúa đã đáp lời cầu nguyện, cảm động lòng chị Đường Kim Loan, cùng Hội Thánh, sẵn sàng xin nghỉ việc để cùng tôi đi trong chuyến phục vụ này. Cảm tạ Chúa đã dùng Mục Sư và Hội Thánh Anaheim cầu thay và giúp đỡ chúng tôi cả tinh thần lẫn vật chất. Có anh chị em đã đến tận nhà thăm hỏi, động viên khích lệ rất ân cần, cảm động. Chuẩn bị xong xuôi, ngày 19/2/05, theo kế hoạch, chúng tôi lên đường lòng đầy ắp bình an và vui thỏa sau khi đã dốc đổ cầu nguyện xin Chúa đi trước, dạy chúng tôi những gì cần nói để tôn cao danh Chúa và để gặt hái nhiều kết quả cho Ngài. Đài Loan là một bán đảo lớn với 97.5% dân số thờ đủ loại thần tượng, chỉ có 2.5% là tín hữu Cơ-đốc. Các Hội Thánh Đài Loan đã từng tổ chức nhiều chương trình truyền giảng nhưng kết quả không nhiều. Nói đến người Việt Nam tại Đài Loan là phải nói đến hai thành phần đáng chú ý nhất: Thành phần thứ nhất là các “cô dâu.” Chúng tôi đã thấy những bức tranh quảng cáo của các tổ chức dịch vụ môi giới tìm vợ Việt Nam cho người Đài Loan dán đầy dẫy khắp nơi. Qua những tổ chức này, thông thường ngưòi Đài Loan phải trả khoảng từ ba đến bốn ngàn mỹ kim để cưới vợ nước ngoài. Trong khi đó thì ở Việt Nam, mỗi “cô dâu” đồng ý lấy chồng Đài Loan chỉ được trả khoảng 500 mỹ kim. Nhưng từ năm 2004 đến nay, thì số đó xuống chỉ còn từ 100 đến 200 Mỹ Kim mà thôi. Dầu vậy, đa số gia đình vì hoàn cảnh quá thiếu thốn (phần lớn là ở nông thôn) nên các cô gái Việt Nam vẫn chấp nhận để có một số tiền nhỏ cho gia đình còn riêng mình thì hy vọng có một tương lai khá hơn.. Trong thực tế, chỉ có một số rất ít “cô dâu” Việt Nam lấy được chồng tốt rồi sau đó có thể hội nhập vào xã hội Đài Loan buôn bán hoặc làm việc. Chúng tôi đã được nghe nhiều chuyện rất thương tâm. Có người phải lấy những ông chồng già, bệnh tật, xấu xí, có cả những người bị bệnh tâm thần nữa. Có người thì bị đối xử tàn tệ bị mắng mỏ nặng nề. Thậm chí có những cha mẹ chồng bảo rằng họ đã “mua” cô về, và bây giờ cô là nô lệ phục vụ trong gia đình, không được quyền lên tiếng hay kêu ca gì cả. Có cô bị lừa, bị bán vào các “nhà chứa” rất thương tâm. Trong khi đó cũng có những cô đã toan tính trước, nên khi qua đến Đài Loan họ nỗ lực kiếm tiền bằng đủ mọi cách, dù tội lỗi tới đâu: Bỏ chồng, làm việc bất hợp pháp… Đại đa số các cô phải chịu an phận, nhục nhã, tủi hờn nhưng không muốn quay về vì sợ cha mẹ buồn, hàng xóm cười chê. Hiện nay có đến khoảng 100,000 “cô dâu” Việt Nam tại Đài Loan. Thành phần thứ hai là các công nhân khế ước. Có khoảng 54,000 công nhân lao động Việt Nam tại đây. Họ cũng phải qua hai trung gian môi giới, phải vay mượn tiền để xin đi làm việc ở nước ngoài, và chờ đợi cả năm mới được đi. Nan đề của họ là công việc làm quá vất vả, về nhà phải sống chui rúc trong những căn phòng chật hẹp. Thường từ 6 đến 8 người ở trong một phòng, ngăn ra bằng những tấm màn vải đơn sơ. Họ lãnh đồng lương rẻ mạt, mà còn bị trừ đủ mọi thứ phí tổn không tên cho nên mỗi tháng còn lại khoảng 50 – 70 mỹ kim hoặc ít hơn. Họ ký hợp đồng làm việc hai năm, nhưng sau thời gian đó tiền kiếm được chỉ đủ để trả cho số tiền đã vay trước khi đi nghĩa là khoảng từ hai đến ba nghìn mỹ kim, cho nên hầu hết đều xin làm việc thêm một năm nữa, đây mới là thời gian kiếm tiền để dành đem về giúp gia đình. Chỉ một giờ sau khi chúng tôi về phòng tạm trú ở Hội Thánh Covenant Chinese Church (Đài Trung), chúng tôi đã họp ngay với Ban Truyền Giáo gồm có bà Miai Rong và Ông Bà Mục Sư Ron Adhikari (thuộcHội Truyền Giáo Send Int’l) để trao đổi về 28 ngày phục vụ. Khi biết họ có kế hoạch rất chu đáo, chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, vui mừng và thầm tạ ơn Chúa. Quả thật Ngài đã đi trước, lo liệu cho chúng tôi thật chu toàn. Sau buổi họp, chúng tôi được đưa đi ăn trưa. Tại quán ăn, chúng tôi gặp một thiếu nữ Việt Nam, sau khi làm quen và làm chứng về Chúa, cô đã tiếp nhận Chúa. Hôm sau chúng tôi đến một quán ăn Việt nam khác, chủ quán là người Việt, sau khi được nghe về Chúa, cô chủ và người giúp Việt đều tin Chúa. Họ cũng đã vui lòng cho chúng tôi ngồi tại quán, tiếp tục làm chứng cho thực khách người Việt khác. Thật tạ ơn Chúa! Trong hai ngày đầu tiên, Chúa đã đem 6 người đến với Ngài. Những ngày sau đó, chúng tôi được đưa đi thăm nhà các “cô dâu” đã được đồng ý trước để phát sách và làm chứng. Nhiều người đã bằng lòng tiếp nhận Chúa. Có đêm đi đến 11 giờ khuya, nhưng Chúa đã thêm sức lạ lùng. Chúng tôi như được “cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt nhọc, đi mà không mòn mỏi” (Ê-sai 40:31). Niềm hân hoan tràn ngập tâm hồn, chưa bao giờ chúng tôi được vui mừng sung sướng như thế. Cũng tại Đài Trung này, chúng tôi có dịp đến với các nữ công nhân để làm chứng cho họ. Có lần được vào trong một phòng nhỏ hẹp, năm người ở. Cả năm cô đều tiếp nhận Chúa sau khi nghe làm chứng. Tấm lòng họ mềm mại và khao khát tình yêu thương nên Chúa đã đáp ưng thật trọn vẹn. Sau hai tuần làm việc tại Đài Trung, chúng tôi lên thành phố Chung-Li, gần miền bắc, và được ông bà Mục Sư Max, là giáo dĩ từ Indonesia, đưa đến hai bệnh viện lớn có nhiều người Việt giúp chăm sóc người già, người bệnh, tàn tật. Chúa cho có 19 người tiếp nhận Chúa. Những hôm sau, ông bà Mục Sư Max cũng mời được một số công nhân Việt Nam đến nhà. Chúng tôi đãi họ ăn cơm Việt Nam. Sau đó, là buổi thờ phượng Chúa đơn sơ, tập vài bài hát, cầu nguyện, kể chuyện và nói về Chúa Giê-xu. Đức Thánh Linh đã làm việc lạ lùng trong lòng họ, sau hai buổi như thế, Chúa đã cảm động 16 người tiếp nhận Chúa. Halelugia! Chúng tôi cũng có cơ hội nói về Chúa ngoài đường phố, trong khám tù và Chúa đã dùng những hoàn cảnh đơn sơ này mà chinh phục hàng chục người cho Ngài. Ba ngày sau, chúng tôi tiếp tục lên Đài Bắc. Cảm tạ Chúa đã dùng Hội Thiện Nguyện “Eden Social Welfare Foundation” chuẩn bị cho chúng tôi cơ hội đến với các lớp học tiếng Hoa của các “cô dâu”. Mỗi lớp đều dành cho chúng tôi 1 giờ để nói về tình yêu của Chúa Giê-xu, sau bốn buổi làm chứng đã có 35 người tiếp nhận Chúa. Chúng tôi cũng có dịp gặp hai cô đã bị bán vào nhà chứa, nhưng sau 20 ngày thì đã trốn thoát được. Sau khi mời hai cô vào xe, chúng tôi đã nói về Chúa, và cả hai đều tin nhận Ngài. Còn biết bao mẩu chuyện cảm động cũng như về ơn thương xót lạ lùng của Đức Chúa Trời. Nhưng khuôn khổ tờ báo không cho phép, không thể kể hết được. Chúng tôi đã cúi đầu dâng lên Chúa lòng biết ơn sâu xa về chuyến đi phục vụ 28 ngày này. Cảm tạ Chúa đã mở lòng để 116 nhận được ơn cứu rỗi của Ngài. Do sống xa nhà, cô đơn và lo âu, những “cô dâu” từ miền Nam và những công nhân từ miền Bắc đã có tấm lòng mềm mại, tiếp nhận Chúa dễ dàng. Ở đây, hiện có hơn 150 ngàn người Việt Nam đang cần nghe ơn cứu rỗi và cần được chăm sóc niềm tin lâu dài. Các tôi tớ Chúa và con dân Chúa ở Đài Loan tha thiết mong muốn có những Mục Sư hay bất cứ ai đến thường trú và hợp tác với họ để cùng thực hiện Đại Mạng Lệnh của Chúa Giê-xu. Cầu xin Chúa tiếp tục kêu gọi và ban ơn cho những ai muốn được phục vụ Ngài trong cánh đồng truyền giáo cho người Việt ở Đài Loan. A-men Loan
Đường và Loan Nguyễn |
|
|
|