Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Nhận Định

 

 

   

 

     

 

 

 

 

BIẾN CỐ THÁNG TƯ

Tháng Tư hàng năm ghi dấu một biến lớn đối với quê hương Việt Nam, đem đến những đổi thay vĩnh viễn cho cá nhân, gia đình và dân tộc mà người Việt khắp nơi ít ai quên.  Tháng Tư năm nay thế giới còn chứng kiến một thay đổi lớn khác, đặc biệt là đối với giáo hội Công Giáo khi Giáo Hoàng John Paul II tạ thế lúc 9:37 tối thứ Bảy 9 tháng 4, 2005 tại Rome.

Vị Giáo Hoàng thứ 264 của giáo hội Công Giáo có tên riêng là Karol Józef Wojtila, sinh ngày 18 tháng 5, 1920 tại Ba-lan, mồ côi mẹ năm lên chín và mồ côi cha khi mới mười hai tuổi.  Sau khi tốt nghiệp trung học, ông ghi danh học kịch nghệ, nhưng rồi phải đi làm sớm.  Năm 1942, trong thời Đức Quốc Xã, ông khởi sự học tại một chủng viện bí mật tại Cracow và thụ phong linh mục năm 1946.  Thời gian sau đó ông được gửi đi Rome tiếp tục việc học, trở thành giáo sư Thần Học Luân Lý và Đạo Đức Xã Hội trong đại chủng viện ở Cracow.  Ông được Giáo Hoàng Pius XII tấn phong Giám Mục năm 1958 và được Giáo Hoàng Paul VI tấn phong Tổng Giám Mục năm 1964, rồi Hồng Y năm 1967.  Theo lịch sử giáo hội, suốt trong 450 năm liên tiếp, các vị Giáo Hoàng đều là người Ý.  Ngày 16 tháng 10, 1978 Hồng Y Wojtila người Ba-lan đã trở thành Giáo Hoàng John Paul II, kế nhiệm Giáo Hoàng John Paul I.

Sau khi ở ngôi vị Giáo Hoàng 26 năm, 5 tháng và 16 ngày, ông đã từ giã thế giới và giáo hội Công Giáo trong sự tiếc thương của hơn một tỉ giáo dân để đi vào cõi vĩnh hằng.  Ông là vị Giáo Hoàng chu du thế giới nhiều nhất, tổng cộng 775,231 dặm Anh, với 146 chuyến đi trong nước Ý và 104 chuyến công du nước ngoài đi  thăm 129 quốc gia.  Ông đã đọc hơn 20,000 bài diễn văn tổng cộng 100,000 trang, ký hơn 100 sắc lệnh quan trọng.  Ông cũng phong thánh cho 1,338 người -  nhiều hơn tất cả các vị tiền nhiệm trong suốt 4 thế kỷ vừa qua cộng lại.  Ông đã tấn phong cho 231 Hồng Y, trong đó có 117 vị được quyền bầu cử vị giáo hoàng kế nhiệm.

Trung tuần tháng Tư vừa qua, người ta ước lượng có khoảng 3 triệu người hành hương đổ tới Rome trong khi hàng chục ngàn người đứng chật quảng trường thánh Phê-rô để dự tang lễ và hàng trăm triệu người khác theo dõi diễn tiến trên truyền hình.  Các giới chức Công Giáo lượng định rằng đây là tang lễ đông nhất trong 2000 năm lịch sử của giáo hội.

Giáo Hội Công Giáo coi sứ đồ Phi-e-rơ là Giáo Hoàng đầu tiên, diễn giải Ma-thi-ơ 16:18-19 và Giăng 21: 15-17, qua đó tin rằng Chúa Giê-xu đã tấn phong Phi-e-rơ, đặt ông ở vị trí đứng đầu các sứ đồ, là đại diện của Chúa Ki-tô trên trần gian, đồng thời thiết lập chức vụ giáo hoàng trong giáo hội.  Phi-e-rơ cũng được coi là vị giám mục đầu tiên tại Rome, và vì vậy chức vụ này được truyền lại cho những người kế nhiệm.

Căn cứ trên Kinh Thánh Tân Ước,  chúng ta xem xét  lại vị trí và vai trò của sứ đồ Phi-e-rơ, trong cái nhìn của Chúa Giê-xu, của các sứ đồ khác và của chính ông.

Trong các sách Phúc âm và những chương đầu sách Công Vụ Các Sứ Đồ,  Phi-e-rơ  là vị sứ đồ được đề cập đến nhiều nhất.  Tên ông được nêu lên đầu tiên trong danh sách các sứ đồ có thể vì ông lớn tuổi nhất hay vì là một trong những sứ đồ được Chúa gọi đầu tiên.  Phi-e-rơ cũng là người được Chúa Giê-xu khen ngợi khi ông nhận được mặc khải và công bố Ngài chính là Chúa Cứu Thế (Christ), nhưng rồi Phi-e-rơ lại bị quở trách khi khuyên giải Chúa tránh đường thập giá (Ma-thi-ơ 16: 16-23).  Cũng cần lưu ý  lời khen ngợi của Chúa Giê-xu (lồng trong một lối dùng chữ) dành cho Phi-e-rơ chỉ nên hiểu là lời khen, thay vì coi đó là sắc lệnh tấn phong.  Nếu đó là một sắc lệnh Chúa chỉ định ông làm thủ lĩnh các sứ đồ thì hiển nhiên sau đó sẽ không có việc các môn đồ tranh cãi xem ai là lớn hơn hết (Ma-thi-ơ 18:1;  Lu-ca 9: 46).  Thật ra sứ mạng Chúa nói với Phi-e-rơ trong Ma-thi-ơ 16:19 cũng là sứ mạng chung cho tất cả các môn đồ, được Chúa truyền dạy nhiều lần trong nhiều cơ hội khác nhau, có khi còn cao trọng hơn như “Ai rước các ngươi, tức là rước ta; ai rước ta, tức là rước Đấng đã sai ta” (Ma-thi-ơ 10: 40; 28: 19-20).  Sau khi phục sinh, có một lần Chúa Giê-xu đến với các sứ đồ bên hồ Ti-bê-ri-át, nhưng lại gặp riêng Phi-e-rơ, ba lần hỏi ông về tình yêu đối với Ngài và ba lần truyền bảo ông nuôi chiên. Đây cũng không phải là ba lần Chúa giao trọng trách chủ chăn phải nuôi chiên cho một mình Phi-e-rơ mà hiển nhiên, điều này liên quan đến ba lần ông đã chối Chúa, và bây giờ Chúa muốn khẳng định với ông lòng tha thứ của Ngài. (Giăng 21: 15-17 cf. Ma-thi-ơ 26: 30-75).

Với một số những dữ kiện trên, chúng ta cần kiểm điểm xem có phải Tân Ước đã đặt Phi-e-rơ vào vị trí đứng đầu Hội Thánh không?  Hay chỉ định ông là đại diện (thừa sai) của Chúa Cứu Thế trên đất?  Các sứ đồ khác có đồng nhất coi ông là người đứng đầu hay lãnh tụ tâm linh của họ không? Có chỗ nào trong Tân Ước dạy chúng ta phải tôn kính và vâng phục sứ đồ Phi-e-rơ như đối với một giáo hoàng không?  Chúng ta có tìm thấy trong Tân Ước chỗ nào ghi lại cách hành xử, lời nói hay thư tín của chính Phi-e-rơ thể hiện tính cách của một giáo hoàng không?

Nếu lãnh tụ sứ đồ phải là người gần gũi và được Chúa Giê-xu yêu quí nhất thì đó là Giăng chứ không phải Phi-e-rơ (Giăng 13:24,25).  Nếu Chúa chỉ định Phi-e-rơ làm thủ lĩnh các sứ đồ và đứng đầu Hội thánh, thì địa vị đó phải thấy rõ qua vai trò của ông chứ không phải của Gia-cơ trong công đồng Giê-ru-sa-lem ghi trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương 15.  Khi đọc hai thư tín của Sứ đồ Phi-e-rơ chúng ta lại càng thấy ông không coi mình là lãnh tụ các sứ đồ hay là người đứng đầu Hội Thánh, vì ông dạy rằng các tín hữu  đều làm “chức tế lễ thánh” là “tư tế hoàng gia” là “dân thánh” có quyền trực tiếp đến với Chúa.  Chính Chúa Giê-xu là Chủ Chăn, là giám mục chứ  không phải Phi-e-rơ (I Phi-e-rơ 2: 5, 9, 24; 5: 4).  Phi-e-rơ cũng minh thị bảo rằng ông chỉ là một trưởng lão như những người khác (I Phi-e-rơ 5:1).  Có lẽ chúng ta bảo Phi-e-rơ khiêm nhường không đề cao mình, nhưng chúng ta cần biết cái nhìn của một người khác về Phi-e-rơ trong một trường hợp đặc biệt.  Trong thư Ga-la-ti, Phao-lô đã can ngăn, thậm chí trách móc Phi-e-rơ vì nể sợ người Giu-đa mà có thái độ giả hình, không vững lập trường (Ga-la-ti 2: 11-14). 

Tóm lại, trong Tân Ước chúng ta không hề thấy có chỗ nào thiết định chức vụ giáo hoàng, cũng không có chỗ nào chỉ định Phi-e-rơ là giáo hoàng hay là đại diện của Chúa Giê-xu trên trần gian.  Đại diện chính thức của Chúa Giê-xu trên trần gian không phải giáo hoàng mà là Đức Thánh Linh, là Đấng thể hiện Chúa Cứu Thế đầy đủ nhất và rõ ràng nhất trong lòng tín hữu. Chính Chúa Giê-xu đã thiết định điều đó vào một  thời điểm then chốt trong chức vụ huấn luyện các môn đệ (Giăng 14:16-20, 25-26; 16:1-15).  Còn về phương diện quản trị Hội Thánh, về sau sứ đồ Phao-lô đã có những chỉ dẫn chi tiết trong các thư tín của ông đề cập đến các trưởng lão và nhiều thành phần khác trong cộng đồng dân Chúa.

Trong bài tường thuật đặc biệt về giờ lâm chung của Giáo Hoàng John Paul II, ký giả Kenneth L. Woodward viết cho tuần báo Newsweek số ra ngày 11 tháng 4, 2005 có một đoạn như sau, “Trong cái tĩnh lặng bao la của quảng trường Thánh Phê-rô, cha mẹ thầm thì bên tai con cái, các cặp vợ chồng ôm vai khích lệ nhau.  Nhiều người đứng lặng yên nhìn về khung cửa sổ sáng ánh đèn, nơi vị giáo hoàng nằm yên trong giờ hấp hối.  Cuối cùng thì lời công bố đã đến vào tối thứ Bảy, một lời công bố mộc mạc và âm thầm.  Một nhóm tu sĩ trong áo chùng đen tụ tập trên bậc thềm đại giáo đường thánh Phê-rô ở một khoảng khá xa, dường như sợ thu hút sự chú ý của quần chúng. Tổng Giám Mục Leonardo Sandri, thứ trưởng bộ Ngoại Giao Tòa Thánh Vatican tuyên bố, ‘Tôi xin thông báo một tin rất buồn, Đức Thánh Cha đã trở về nhà Cha’ (“I have something very sad to tell you, The Holy Father has returned to the house of the Father”).

Điều làm chúng ta suy nghĩ qua lời công bố trên, không nằm ở nội dung, nhưng ở danh xưng dành cho giáo hoàng và dành cho Đức Chúa Trời.  Trong bài tín điều các sứ đồ cũng như trong bài cầu nguyện Chúa dạy, chúng ta gọi Đức Chúa Trời là Cha.  Nhưng ở đây,  giáo hoàng được tôn là “Đức Thánh Cha!” (The Holy Father).  Cho dù có được nghe giải thích như thế nào chăng nữa, chúng ta khó có thể hiểu nổi tình cảm cũng như truyền thống tôn kính giáo hoàng trong văn hóa Công Giáo, nhưng cách xưng hô này khiến chúng ta thấy buồn và bị tổn thương, tự hỏi không biết sứ đồ Phi-e-rơ hay bất cứ vị sứ đồ nào khác của Chúa Giê-xu có dám để người ta gọi mình là “Đức Thánh Cha” hay không.  Đây là danh xưng chỉ nên dành cho Đức Chúa Trời.  Trong Kinh Thánh chỉ một mình Chúa Giê-xu gọi Đức Chúa Trời là “Holy Father.” (Giăng 17:11).

Thông Công