Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Phụ Nữ  Trong Kinh Thánh

 

 

   

 

     

 

 

 

   

BÀ MI-RI-AM

Thưa quý độc giả, trong Trang Phụ Nữ kỳ này, mời quý vị cùng nhìn vào cuộc đời bà Mi-ri-am, một phụ nữ sống trong thời Cựu Ước để tìm hiểu và ghi nhận những điều Lời Chúa nhắc nhở chúng ta. Bà Mi-ri-am được nhắc đến trong sách Xuất Ê-díp-tô ký, Dân số ký, Phục truyền luật lệ ký và sách tiên tri Mi-chê.

Ý Nghĩa Tên Mi-ri-am

Tên Mi-ri-am bắt nguồn từ một nhóm chữ mang cùng một ý nghĩa, đó là chữ Ma-ri, Ma-ri-a và Ma-ri-an. Những từ này có nghĩa là “cay đắng.” Tên Mi-ri-am cũng như tên Ma-ri, có nghĩa là cay đắng hay phản loạn. Tên này xứng hợp với bà Mi-ri-am vì bà là người có lòng cay đắng và phản loạn.

Nguồn Gốc Gia Đình

Có nhiều điều đáng nói về nguồn gốc gia đình của Mi-ri-am. Mi-ri-am được sinh ra và lớn lên trong thời gian người Do Thái làm nô lệ ở Ai cập. Mi-ri-ram là con gái đầu lòng của Ông Am-ram và bà Giô-kê-bết. Ông bà Am-ram có ba người con là Mi-ri-am, A-rôn và Môi-se. Dân số ký 26:59 ghi như sau: “Tên vợ Am-ram là Giô-kê-bết, con gái của Lê-vi, sanh trong xứ Ê-díp-tô; nàng sanh cho Am-ram A-rôn, Môi-se và chị của hai người là Mi-ri-am.” Mi-ri-am  được sinh ra trong một gia đình đặc biệt: Cha mẹ bà là người Do Thái, là tuyển dân của Chúa, thuộc chi tộc Lê-vi - chi tộc được Chúa chọn để lo việc thờ phượng và tư tế. Cha mẹ bà Mi-ri-am là người kính sợ Đức Chúa Trời, hướng dẫn con trong đường lối của Chúa. Thánh Kinh cho biết ông bà Am-ram là người có đức tin. Ông bà được kể vào hàng những anh hùng đức tin của thời Cựu Ước. Thư Hê-bơ-rơ ghi như sau: “Bởi đức tin, khi Môi-se mới sinh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua” (11:23).

Ngoài ra, Mi-ri-am còn được vinh dự làm chị của hai nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Do Thái, là A-rôn và Môi-se. A-rôn là thầy tế lễ đầu tiên, cũng là thầy tế lễ thượng phẩm của người Do thái (Xuất Ê-díp-tô ký chương 29). Khi Chúa kêu gọi Môi-se đi điều đình với vua Ai cập để xin trả tự do cho con dân Chúa, A-rôn được chọn làm phát ngôn viên cho Môi-se, giúp Môi-se điều đình với Pha-ra-ôn (Xuất 4:10-17). Trong hành trình của con dân Chúa từ Ai cập đến đất hứa, A-rôn được chọn làm thầy tế lễ thượng phẩm, thay mặt dân chúng dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời (Xuất 28). 

Người em thứ nhì của Mi-ri-am là Môi-se, cũng là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử Do Thái. Môi-se là nhà tiên tri lớn và là một lãnh tụ lớn. Ông đã hướng dẫn con dân Chúa ra khỏi đời sống nô lệ tại Ai-cập.  Môi-se là người được đối diện trực tiếp với Đức Chúa Trời, Kinh Thánh ghi rằng “Ngài phán cùng Môi-se như một người nói chuyện cùng bạn mình” (Xuất 33:11). Môi-se ở với Đức Chúa Trời trên núi Si-nai bốn mươi ngày bốn mươi đêm (Xuất 24:18).

Ngoài niềm hãnh diện về gia đình, Mi-ri-am cũng có nhiều điều hãnh diện về dòng họ của mình. Bà là con cháu trong chi tộc Lê-vi. Cả cha và mẹ của Mi-ri-am đều là người Lê-vi. Xuất 2:1 ghi như sau: “Vả, có một người trong họ Lê-vi đi cưới con gái Lê-vi làm vợ.” Lê-vi là một trong mười hai chi tộc Do Thái. Chi tộc Lê-vi được Chúa biệt riêng để phụng sự Ngài, chăm sóc mặt tâm linh của con dân Chúa, như chăm sóc đền thờ, lo việc tư tế, thay mặt dân chúng dâng tế lễ cho Đức Chúa Trời.  Trong xã hội Do Thái ngày xưa, ba chức vụ quan trọng được Đức Chúa Trời tuyển chọn, xức dầu, và được mọi người kính nể là chức vị vua, tiên tri và thầy tế lễ. Hai người em của bà Mi-ri-am được chọn vào hai trong ba chức vụ quan trọng đó. A-rôn làm thầy tế lễ, còn Môi-se làm tiên tri.

Kinh Thánh không nói gì về đời sống hôn nhân và gia đình của Mi-ri-am. Có lẽ bà ở độc thân suốt đời chứ không lập gia đình. Bà Mi-ri-am được Kinh Thánh nhắc đến nhiều lần vì bà có một vai trò quan trọng bên cạnh Môi-se khi ông còn nhỏ. Bà cũng có mặt bên cạnh A-rôn và Môi-se trong thời gian hai người lãnh đạo con dân Chúa trong đồng vắng.

Cuộc đời bà Mi-ri-am có thể chia thành những giai đoạn như sau:

Giai Đoạn I: Mi-ri-am bên bờ sông với em bé Môi-se

Như điều Kinh Thánh ghi, Mi-ri-am là chị cả trong gia đình có ba chị em. Khi Môi-se ra đời, gia đình Mi-ri-am đang sống trong hoàn cảnh thật là khó khăn. Lúc đó tuy còn nhỏ, khoảng 12, 13 tuổi, Mi-ri-am đã biết giúp đỡ cha mẹ, vì thế nàng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Môi-se. Cha mẹ Mi-ri-am lúc đó sống tại Ai-cập, cùng với con dân Chúa làm nô lệ cho người Ai cập.  Vì người Do Thái gia tăng dân số quá mau, vua Ai cập bắt họ làm việc thật cực nhọc để yếu bớt đi. Nhưng càng làm việc khổ nhọc, người Do Thái càng mạnh và càng thêm lên nhiều. Đến nỗi Pha-ra-ôn, vua Ai cập phải ra lệnh rằng khi người Do Thái sinh con gái thì để cho sống nhưng sinh con trai thì phải đem bỏ xuống sông. Đây là sông Nile, con sông duy nhất ở Ai cập.

Sau khi lệnh vua ban ra, bà Giô-kê-bết, mẹ của Mi-ri-am, sinh được một đứa con trai. Cha mẹ Mi-ri-am không đành lòng đem con bỏ xuống sông nên đã giấu trong nhà để nuôi. Đây là một việc làm đầy đức tin.  Tác giả thư Hê-bơ-rơ xác chứng điều đó khi ông viết: Bởi đức tin, khi Môi-se mới sinh ra, cha mẹ người đem giấu đi ba tháng, vì thấy là một đứa con xinh tốt, không sợ chiếu mạng của vua (11:23). Khi sinh được đứa con trai, ông bà Am-ram đã không làm theo lệnh vua đem con bỏ xuống sông nhưng giữ lại nuôi. Ngày xưa một người dân không tuân lệnh vua có thể bị tử hình, vì thế hành động này nói lên đức tin của cha mẹ Mi-ri-am. Tuy nhiên, khi đứa con trai được ba tháng, mẹ của Mi-ri-am biết không thể nào giấu con lâu hơn nữa nên bà lấy một chiếc nôi, trét chai và nhựa thông cho khỏi thấm nước rồi để con vào và đặt trong đám lau sậy bên bờ sông. Bà nhờ Mi-ri-am, là chị đứa bé đứng trên bờ sông trông chừng em trong chiếc nôi. Đây cũng là một việc làm của đức tin. Bà mẹ của Mi-ri-am tuy vâng theo lệnh vua nhưng vẫn trông chờ sự giải cứu của Chúa.

Câu chuyện cảm động này được ghi lại trong sách Xuất Ê-díp-tô ký như sau: Vả, có một người trong họ Lê-vi đi cưới con gái Lê-vi làm vợ. Nàng thọ thai và sinh một con trai; thấy con ngộ nên đem đi giấu trong ba tháng. Nhưng giấu lâu hơn nữa không được, nàng bèn lấy một cái rương mây, trét chai và nhựa thông, rồi để đứa trẻ vào, đem thả trong đám sậy dựa mé sông. Người chị đứa trẻ đứng xa nơi đó đặng cho biết nó sẽ ra sao (Xuất 2:1-4).

Qua những chi tiết Kinh Thánh ghi lại, chúng ta thấy khi còn nhỏ, Mi-ri-am có những đặc điểm sau:

a. Mi-ri-am là một đứa bé ngoan ngoãn, vâng lời mẹ

Xuất Ê-díp-tô ký chương 2 là lần đầu tiên Kinh Thánh nhắc đến Mi-ri-am, nhưng chỉ gọi là “chị đứa bé,” chứ không nói rõ tên. Bà Giô-kê-bết, mẹ của Mi-ri-am, dù trong lúc lo buồn, bối rối, phải đem con bỏ dưới sông, đã được Chúa soi sáng ban cho sự khôn ngoan đặc biệt. Bà làm một chiếc nôi đặc biệt không thấm nước, để con vào và đặt chiếc nôi của con trong đám lau sậy cho khỏi trôi đi xa. Bà cũng để chiếc nôi gần chỗ công chúa Ai cập và các nàng hầu thường đến và nhờ đứa con gái lớn đứng trên bờ trông chừng. Sự kiện Mi-ri-am được mẹ tin cậy, nhờ đứng một mình bên bờ sông trông chừng em cho thấy lúc đó nàng đã khôn lớn, có lẽ khoảng 12, 13 tuổi. Không những đã khôn lớn, Mi-ri-am cũng là một cô bé ngoan, vâng lời mẹ, sẵn sàng giúp mẹ vì thế mẹ mới dám nhờ một việc quan trọng như vậy.

b. Mi-ri-am là người chị thương em

Cũng qua những chi tiết Kinh Thánh ghi, chúng ta thấy tuy còn nhỏ Mi-ri-am không những vâng lời mẹ mà cũng biết thương em. Lúc đó Môi-se mới được ba tháng, và là một đứa bé xinh xắn, kháu khỉnh. Kinh Thánh hai lần nói rằng Môi-se là đứa bé xinh đẹp. Xuất 2:2 ghi: “Thấy con ngộ nên đem đi giấu trong ba tháng.” Hê-bơ-rơ 11:23 thì nói: “vì thấy là một đứa con xinh tốt.” Mi-ri-am không những thương em vì em kháu khỉnh nhưng có lẽ cũng được cha mẹ nói cho biết về hoàn cảnh khó khăn của gia đình và dân tộc. Cô bé biết tại sao mẹ phải để em trong nôi và đem bỏ dưới sông. Thông cảm với hoàn cảnh của gia đình và thương đứa em nhỏ yếu đuối, không muốn điều gì nguy hiểm xảy ra cho em nên Mi-ri-am đã bằng lòng ra đứng bên bờ sông trông chừng chiếc nôi của em. Mi-ri-am là một người chị có tình thương đối với đứa em nhỏ. Mi-ri-am không những vâng lời mẹ nhưng cũng thương em nên sẵn sàng đứng bên bờ sông để trông chừng em. Thường trẻ con trong tuổi thiếu niên thì ham chơi, không biết nghĩ đến người khác, không thể ở yên một chỗ lâu và nhiều em cũng không vâng lời cha mẹ.  Mi-ri-am trái lại, biết quan tâm đến phúc lợi của người khác.

c.  Mi-ri-am là một cô bé kiên nhẫn

Không những vâng lời mẹ và thương em, Mi-ri-am cũng là một cô bé kiên nhẫn. Chúng ta không rõ Mi-ri-am đứng bên bờ sông bao lâu thì công chúa Ai-cập đến, nhưng có lẽ cũng khá lâu. Khi nàng công chúa đến bên bờ sông thì mẹ Mi-ri-am đã đi về, nàng công chúa không thấy người nào để chiếc nôi trên giòng sông. Chi tiết này cho thấy Mi-ri-am thật là kiên nhẫn. Đối với một đứa bé 12, 13 tuổi không được chạy chơi mà phải đứng yên một chỗ một mình, lại phải trông chừng cái nôi của em dưới sông, là điều rất khó vì nó đòi hỏi sự kiên nhẫn. Khi mẹ nhờ, Mi-ri-am không biết mình sẽ phải đứng trông chừng em bao lâu nhưng cô bé sẵn sàng vâng lời mẹ, đứng bên bờ sông yên lặng chờ đợi.

d.  Mi-ri-am là một cô bé khôn ngoan và lanh trí

Kinh Thánh ghi thêm những chi tiết khác về câu chuyện này như sau:

Vả, bấy giờ, con gái Pha-ra-ôn xuống sông tắm, còn các con đòi đi dạo chơi trên mé sông. Công chúa thấy cái rương mây đó giữa đám sậy, bèn sai con đòi mình đi vớt lên. Công chúa mở rương ra, thấy đứa trẻ, là một đứa con trai nhỏ đang khóc, bèn động lòng thương xót mà rằng: Ấy là một đứa con của người Hê-bơ-rơ. Người chị đứa trẻ bèn nói cùng công chúa rằng: Tôi phải đi kêu một người vú trong bọn đàn bà Hê-bơ-rơ đặng cho đứa trẻ bú chớ? Công chúa đáp rằng: Hãy đi đi. Người gái trẻ đó đi kêu mẹ của đứa trẻ (Xuất 2:5-8).

Một lần nữa, Kinh Thánh không nhắc tên Mi-ri-am nhưng chỉ gọi là “người chị đứa trẻ.” Lời nói và hành động của Mi-ri-am trong phân đoạn này cho thấy cô bé thật là khôn ngoan, lanh trí và biết hành động đúng lúc. Khi công chúa Ai cập và các nàng hầu đến, có lẽ Mi-ri-am vui mừng vì được nhìn thấy công chúa. Rồi khi công chúa sai vớt chiếc nôi lên, có lẽ Mi-ri-am hồi hộp, lo lắng, không biết nàng công chúa sẽ làm gì. Tuy nhiên, cô bé bình tĩnh và yên lặng theo dõi chứ không nhanh nhẩu chạy ra, nói cho công chúa biết đó là em của mình, tại sao bị bỏ dưới sông, v.v... Mi-ri-am yên lặng núp sau lùm cây nghe ngóng. Đến khi nàng công chúa mở chiếc nôi ra, thấy một em bé trai đang khóc, động lòng thương và nói: Đây là con của người Do Thái, lúc đó Mi-ri-am mới xuất hiện.  Có lẽ thấy tình hình có vẻ an toàn, nàng công chúa tỏ lòng thương em mình, Mi-ri-am nghĩ nàng công chúa chắc sẽ không làm gì hại cho em nên Mi-ri-am bước ra và nói chuyện với nàng công chúa.

Mi-ri-am vẫn không nói cho công chúa Ai cập biết mình là ai, có quan hệ gì với đứa bé trong nôi. Với sự khôn ngoan Chúa ban cho, Mi-ri-am thấy cơ hội đã đến và cô phải nắm lấy ngay.  Cũng có thể vì thấy em khóc vì đói và cần được cho bú nên Mi-ri-am nghĩ đến người duy nhất có thể cho đứa bé bú là mẹ của nó. Mi-ri-am nói với nàng công chúa: Em phải đi kêu một người vú trong đám đàn bà Hê-bơ-rơ để cho em bé bú phải không? Khi công chúa bảo: Phải, đi đi, Mi-ri-am liền chạy về gọi chính mẹ của mình, cũng là mẹ của đứa bé.  Khi đưa mẹ đến, Mi-ri-am cũng không nói gì nên nàng công chúa Ai cập không biết đó là chị và mẹ của đứa bé trong nôi. Nhờ đó mà bà mẹ của Mi-ri-am được phép đem con về nhà nuôi và được công chúa trả tiền công.

Câu nói lên niềm vui cho cả gia đình Mi-ri-am là câu: “Người đàn bà ẵm đứa trẻ mà cho bú.” Đáng lẽ phải đem bỏ đứa con trai nhỏ yêu quý dưới sông, bây giờ bà Giô-kê-bết được đem con về nuôi một cách công khai mà lại còn được công chúa Ai cập trả tiền, và có lẽ trả rất hậu. Đây là một huyền nhiệm trong chương trình của Đức Chúa Trời mà trong đó cô bé Mi-ri-am có một phần quan trọng. Bà Giô-kê-bết nuôi đứa con yêu quý được một thời gian khá lâu, có lẽ đến ba, bốn năm rồi đem vào cung điện trả lại cho công chúa Ai cập. Kinh Thánh ghi: “Khi lớn khôn rồi, người bèn dẫn nó vào cho công chúa, nàng nhận làm con và đặt tên là Môi-se, vì nàng nói rằng, ta đã vớt nó khỏi nước” (Xuất 2:10).

 

Giai Đoạn II: Mi-ri-am là một nữ tiên tri

Suốt thời gian Môi-se sống trong cung điện Ai cập cũng như thời gian ông chăn chiên trong đồng vắng Ma-đi-an, Kinh Thánh không ghi lại chi tiết nào về Mi-ri-am hay cha mẹ của bà. Cho đến khi người Do Thái được giải phóng khỏi Ai cập, dưới sự lãnh đạo của Môi-se và đã vượt qua biển đỏ, chúng ta mới thấy tên Mi-ri-am lại được nhắc đến. Lúc Môi-se đặt một bài ca để cùng với dân chúng ca ngợi Chúa, Mi-ri-am đã đáp lại bằng các câu hát ca ngợi Chúa, và bà được gọi là nữ tiên tri.

Xuất 15:20, 21 ghi như sau: Nữ tiên tri Mi-ri-am, là chị của A-rôn, tay cầm trống cơm, các đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa. Mi-ri-am đáp lại rằng: Hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, vì Ngài rất vinh hiển oai nghiêm; Ngài đã liệng xuống biển ngựa và người cỡi ngựa. Đây là lần đầu tiên Kinh Thánh nhắc đến rõ ràng tên của Mi-ri-am, gọi bà là nữ tiên tri và là chị của A-rôn (Bản Kinh Thánh cũ dịch là ‘em gái A-rôn’, nhưng chị của A-rôn thì đúng hơn). Qua hai câu Kinh Thánh này, chúng ta thấy Mi-ri-am không những là nữ tiên tri nhưng bà cũng là người lãnh đạo các phụ nữ Do Thái trong việc ca ngợi và thờ phượng Chúa.

Các tiên tri ngày xưa là những người được Đức Chúa Trời chọn lựa và được thần cảm của Thánh Linh để nói lên ý Chúa và mục đích của Chúa cho con dân Ngài. Bà Mi-ri-am được Chúa dùng hướng dẫn các phụ nữ Do Thái trong đoàn người mới được giải phóng ra khỏi ách nô lệ. Chúng ta hãy tưởng tượng hình ảnh Kinh Thánh mô tả: bà Mi-ri-am tay cầm trống cơm, dẫn đầu một đoàn phụ nữ, vừa đánh trống cơm vừa nhảy múa và hát ca ngợi Đức Chúa Trời. Không những là nữ tiên tri, Mi-ri-am cũng là một thi sĩ. Bà là nữ thi sĩ đầu tiên trong Kinh Thánh, câu hát bà viết lên để đối đáp bài ca của Môi-se được Thánh Kinh ghi lại, như chúng ta đã thấy ở trên.

Theo sách Công Vụ Các Sứ Đồ chương 5, Môi-se sống trong cung điện Ai cập bốn mươi năm. Sau đó, ông trốn khỏi vua Ai cập và làm nghề chăn chiên trong đồng vắng Ma-đi-an bốn mươi năm. Trong tuổi tám mươi, ông được Đức Chúa Trời kêu gọi và giao cho công tác giải phóng con dân Ngài ra khỏi Ai cập. Nếu khi Môi-se ra đời Mi-ri-am được khoảng mười ba tuổi thì khi người Do Thái bắt đầu hành trình vào đất hứa, Mi-ri-am đã hơn chín mươi tuổi. Người thời xưa thường sống lâu nên Mi-ri-am trong tuổi chín mươi mà còn có thể ca hát và nhảy múa là chuyện thường.

Một tác giả nọ nói rằng khi con dân Chúa đi trong hành trình từ Ai cập đến vùng đất hứa, cả ba chị em Mi-ri-am đều đứng trong hàng ngũ lãnh đạo. A-rôn là thầy tế lễ, Môi se là lãnh tụ, còn Mi-ri-am là người hướng dẫn trong việc ca hát và thờ phượng Chúa.  Các nhà giải nghĩa Kinh Thánh cho biết, khi đoàn dân Do Thái đi trong đồng vắng họ rất lo sợ và mệt mỏi, dễ nản lòng. Để giúp họ lên tinh thần, Môi-se và Mi-ri-am đặt những bài ca cho họ hát.  Khi vừa đi vừa hát, hoặc nghe người khác hát, dân chúng được lên tinh thần và có thể đi hăng hái hơn. Ngày nay các đoàn hướng đạo hay binh sĩ khi đi từ nơi này đến nơi khác cũng vừa hát vừa đi như thế.

Xuất Ê-díp-tô ký chương 15 mở đầu như sau: “Đoạn, Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca này cho Đức Giê-hô-va,” và sau đó ghi: “Nữ tiên tri Mi-ri-am, là chị của A-rôn, tay cầm trống cơm. Các đàn bà đều đi ra theo người, cầm trống cơm và múa.” Mi-ri-am đáp lại bài ca của Môi-se bằng một câu hát ca ngợi Chúa. Đây là một hình ảnh thật đẹp, nói lên tinh thần hiệp nhất trong gia đình Môi-se. Trong khi A-rôn và Môi-se vâng lời Chúa, lãnh đạo con dân Chúa, đi trong sự hướng dẫn của Chúa, chăm sóc con dân Chúa về mọi mặt thì Mi-ri-am cũng dùng ân tứ và khả năng của mình để phụ giúp với hai người em trong trách nhiệm nặng nề mà Đức Chúa Trời đã giao phó (còn tiếp).

Minh Nguyên