Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Người Làm Công trong Vườn Nho

 

 

   

 

     

 

 

 

Thư Ga-la-ti 1:11-24

Bài giảng Lễ Tấn Phong Mục Sư ngày 21/5/2005 tại Lễ Đường Thánh Kinh Thần Học Viện, Anaheim, California

       Cuối tháng vừa qua, Giáo Hội Công Giáo La-mã có một vị tân giáo hoàng, đó là Hồng Y Joseph Ratinger, lấy tên là Giáo Hoàng Benedict XVI. Những lời đầu tiên Giáo Hoàng Benedict XVI nói với mọi người khi ông được giới thiệu là những lời như sau: “Anh chị em thân mến, sau một vị giáo hoàng lớn là John Paul II, quí vị hồng y đã bầu tôi, một người làm công đơn sơ, khiêm tốn trong vườn nho của Chúa.”

“Một người làm công đơn sơ, khiêm tốn trong vườn nho của Chúa,” quí vị không phải là giáo hoàng, nhưng tôi nghĩ đây là những lời thích hợp cho chúng ta, “những người làm công đơn sơ, khiêm tốn trong vườn nho của Chúa.” Hội Thánh của Chúa, con dân của Chúa là vườn nho của Chúa và Chúa đã vui lòng dùng chúng ta trong vườn nho của Ngài.  Có nhiều điều chúng ta không đồng ý với Giáo Hội Công Giáo La-mã, nhưng có một điều của Giáo Hội Công Giáo mà tôi rất thích đó là khi được phong chức, quí vị linh mục phải nằm mọp người xuống đất, nằm sát cả người xuống đất, bày tỏ thái độ thuận phục hoàn toàn.  Trông thấy quang cảnh đó, chúng ta biết đây là một điều rất quan trọng, một chức vụ vô cùng cao quí. Người làm công trong vườn nho của Chúa là một chức vụ vô cùng cao quí, vô cùng thiêng liêng, không có gì có thể so sánh được.  Không phải vì chúng ta cao quí nhưng vì chức vụ Chúa đã giao cho chúng ta.  Ước mong quí đầy tớ của Chúa buổi sáng hôm nay cũng thấy rõ điều đó để rồi chúng ta sống đúng với chức phận mà Chúa đã gọi chúng ta.

Một trong những người làm công trong vườn nho gương mẫu là sứ đồ Phao-lô.  Buổi sáng hôm nay chúng ta cùng nhìn vào Phao-lô như một người làm công gương mẫu để học, để xác định, để đánh dấu cho ngày trọng đại nầy trong đời sống của quí vị.  Nhìn vào cuộc đời của Phao-lô, đọc những lời chứng của Phao-lô, chúng ta thấy người làm công trong vườn nho có những đặc tính sau:

 

I.  Được Chúa Gọi (15-16)

Sứ đồ Phao-lô đã viết lá thư nầy cho các con cái Chúa trong vùng Ga-la-ti.  Ông viết  thư nầy không phải để bênh vực cho chức vụ sứ đồ của ông, nhưng để bênh vực cho Phúc Âm, cho Tin Lành, cho những điều ông rao giảng. Ông cho thấy Phúc Âm ông rao giảng là thật, bởi vì con người rao giảng là thật.  Ông nói trong câu 11-12: “Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng Tin Lành mà tôi đã truyền chẳng phải đến từ loài người đâu vì tôi không nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người nào nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Giê-xu Christ.”

Chúng ta thường nói “Văn là người.”  Đọc một quyển sách, nghe một câu chuyện hay một người nói một điều gì, chúng ta biết điều sâu xa thầm kín trong lòng người đó.  Chúa Giê-xu cũng nói: “Do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra” (Ma-thi-ơ 12:34 ).  Sứ đồ Phao-lô muốn nói cho Hội Thánh Ga-la-ti cũng như cho chúng ta ngày hôm nay thấy rằng, anh em muốn biết Tin Lành tôi rao giảng đúng hay sai, thật hay giả hãy xem nguồn gốc của nó.  Nguồn gốc đó là chính tôi, chính cuộc đời của tôi.  Hãy xem cuộc đời của tôi để biết sứ điệp chúng tôi rao giảng là đúng hay sai, thật hay giả.  Cuộc đời của Phao-lô chứng minh tính cách chân chính của Phúc âm.  Quí vị và tôi cũng vậy. Điều quan trọng không phải là những gì chúng ta giảng nhưng là cuộc đời chúng ta.  Những gì chúng ta giảng đến từ đâu.

Phao-lô nói:  “Hỡi anh em, tôi nói cho anh em rằng Tin Lành tôi đã truyền chẳng phải đến từ loài người đâu vì tôi không nhận và không học Tin Lành đó với một người nào nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Giê-xu Christ.” Phao-lô nhận Tin Lành mà ông rao truyền bởi sự tỏ ra của Đức Chúa Giê-xu Christ, bởi sự mạc khải của Chúa.  Ông nói rõ hơn trong câu 15 và 16: “Khi Đức Chúa Trời là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao truyền Con đó.” Điều này cho thấy Tin Lành, Phúc Âm mà Phao-lô rao giảng là điều ông nhận từ Chúa.  Ông được Chúa biệt riêng và kêu gọi. Như vậy, một người hầu việc Chúa, một người làm công trong vườn nho của Chúa là người được Chúa gọi. Sự kêu gọi đó trước hết là:

1. Bằng ân sủng

Phao-lô nói trong câu 15: “Lấy ân điển gọi tôi.” Chúa gọi Phao-lô bằng ân sủng của Ngài. Ân sủng là chữ lớn nhất trong đạo của Chúa.  Người không tin Chúa không hiểu được ân sủng là gì bởi vì họ chưa kinh nghiệm ơn của Chúa. Chúng ta được làm con của Chúa và Phao-lô được làm người rao giảng Phúc Âm, được làm người làm công trong vườn nho của Chúa cũng là qua ân sủng của Ngài.  Ân sủng, như chúng ta đã biết là “ơn dành cho người không xứng đáng, không đáng được.”  Nói đến ơn có nghĩa là chúng ta không có gì cả, tất cả đều là của Chúa, đều đến từ Chúa. Phao-lô kinh nghiệm điều nầy và ông đắm mình trong ân sủng của Ngài.  Ông nhắc đi nhắc lại luôn trong những lá thư ông gửi cho cá nhân và hội thánh. Ông viết cho Ti-mô-thê: “Ta ngày trước vốn là người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo. Nhưng ta đã đội ơn thương xót vì ta đã làm những điều đó đang lúc ta ngu muội chưa tin. Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong ta với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (I Ti-mô-thê 1:13 -14). Có thể nói ông không đủ ngôn từ để mô tả ân sủng lớn lao Chúa dành cho ông.  Trong I Cô-rinh-tô 15:10, ông nói: “Tôi nay là người thể nào ấy là bởi ơn của Đức Chúa Trời.”

Là người hầu việc Chúa, đừng bao giờ quên rằng được hầu việc Chúa là do ơn của Ngài.  Chúng ta không có gì cả nếu không bởi ơn của Chúa. Không phải chúng ta xứng đáng hay là có một điều gì, nhưng bởi ân sủng của Chúa mà Chúa đã gọi chúng ta.  Phao-lô nói, Ngài đã “lấy ân điển gọi tôi, để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ.” Tất cả chúng ta được cứu nhờ ân sủng của Chúa: “Ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà anh em được cứu.”  Chúng ta có thể đọc thêm là: “Ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà tôi được gọi, được Chúa cho làm người làm công trong vườn nho của Ngài.” Bài hát Amazing Grace tất cả chúng ta đều biết, đây là bài hát chúng ta phải hát thường xuyên trong cuộc đời chúng ta: “Ân sủng Chúa nghe sao mà dịu ngọt, cứu kẻ khốn cùng gian ác như tôi, xưa lạc lầm nay tìm ra lối thoát, vốn mù lòa nay thấy ánh sáng trời.”  Chúng ta không là gì cả chỉ được ơn Chúa kêu gọi.

2. Bằng sự bày tỏ

Sự kêu gọi của Chúa chẳng những là sự kêu gọi bởi ân sủng của Ngài nhưng cũng là sự kêu gọi bằng sự bày tỏ. Phao-lô viết: “Khi Đức Chúa Trời là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi.”  Chúa đã gọi Phao-lô bằng ân điển của Ngài và tiếng gọi đó là “bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi.” Chúa đã đến, đã kêu gọi Phao-lô như thế nào?  Tất cả chúng ta đều biết đang trên đường đến thành Đa-mách để bắt bớ những người tin Chúa, ông đã gặp Chúa và Chúa đã nói với ông: “Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ! Sao ngươi bắt bớ Ta!” Ông hỏi lại: “Lạy Chúa, Chúa là ai mà tôi bắt bớ?” Chúa cho ông biết: “Ta là Giê-xu mà ngươi đang bắt bớ!”  Phao-lô bắt bớ Hội Thánh của Chúa nhưng Chúa cho thấy rằng ông đã đụng đến chính Chúa. “Ta là Giê-xu!” Chúa Giê-xu đã bày tỏ chính mình Ngài cho Phao-lô. Phao-lô đã đối diện với chính Con của Đức Chúa Trời trên đường đến Đa-mách. Vì vậy, ông nói Chúa “vui lòng bày tỏ Con của Ngài ra cho tôi.” Về sau khi sứ đồ Phao-lô thuật lại kinh nghiệm đó với vua Ạc-ríp-ba, ông nói: “Từ đó (từ ngày tôi đối diện với Con Đức Chúa Trời) tôi chẳng hề dám chống cự lại với sự hiện thấy trên trời” (Công vụ 26:19). Phao-lô muốn nói rằng: “Từ khi tôi đối diện với Con Đức Chúa Trời, từ khi tôi đối diện với Chúa Giê-xu, một lần không bao giờ quên, thay đổi cả cuộc đời của tôi!”  Chúa chẳng những lấy ân điển gọi ông nhưng còn cho ông được đối diện, được gặp chính Chúa và cuộc gặp gỡ nầy đã ảnh hưởng, chi phối, quyết định tất cả cuộc đời  Phao-lô, cuộc đời của một người làm công trong vườn nho của Chúa.

Hai ngày vừa qua, được ngồi nghe lại mỗi đầy tớ của Chúa thuật lại kinh nghiệm trong sự bày tỏ, trong sự gặp gỡ, trong sự kêu gọi của Chúa trên đời sống của mỗi quí vị.  Tạ ơn Chúa về điều đó vô cùng.  Xin Chúa giúp cho chúng ta đừng bao giờ quên.  Luôn luôn nhớ sự gặp gỡ đặc biệt Chúa đã dành cho chúng ta. Từ đó cho đến nay và cho đến cuối cuộc đời, xin Chúa giúp chúng ta có thể nói như Phao-lô đã nói rằng: “Tôi không dám chống cự!”  Có thể có lúc chúng ta muốn quay đi, có lúc bị cám dỗ, có lúc muốn làm điều nầy điều nọ, muốn từ bỏ chức vụ.  Có những thách thức trong cuộc đời của mình, nhưng hãy nhớ sự hiện thấy, nhớ đến sự bày tỏ của Chúa dành cho chính mình. “Từ đó tôi chẳng dám chống cự với sự hiện thấy ở trên trời!” Chúng ta không nhất thiết là phải có ánh sáng từ trời, nghe tiếng Chúa phán như Phao-lô, nhưng một lần Chúa đã đụng đến cuộc đời chúng ta.  Chúng ta thấy Phao-lô đã giảng dạy nhiều điều, Tân Ước có 27 sách, ông đã viết 13 sách về những đề tài thần học cao siêu.  Nhưng tất cả những điều đó đến từ đâu?  Tất cả những điều đó đến từ cuộc đối diện với Chúa Giê-xu.  Và từ đó ông không còn ước ao gì nữa.  Ông nói rằng: “Tôi đã coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ vì sự nhận biết Đức Chúa Giê-xu Christ là quí hơn hết… Cho đến nỗi tôi được biết Ngài” (Phi-líp 3:8,10). Phao-lô chỉ muốn một điều là được tương giao, được đối diện, được gần gũi, được nhận sự bày tỏ đến từ nơi Chúa Giê-xu.

Người làm công trong vườn nho là người được Chúa gọi bằng ân sủng của Ngài, được Chúa gọi bằng sự bày tỏ của chính Ngài. Sự bày tỏ đó cũng là:

3. Để rao truyền

“Bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao truyền Con đó ra trong người ngoại đạo” (c. 16).  Sở dĩ Chúa Giê-xu bày tỏ ra cho Phao-lô là để ông bày tỏ Con của Ngài ra cho người ngoại đạo. Đó là mục đích của sự kêu gọi, của sự bày tỏ, của ân sủng Chúa.  Chúa kêu gọi chúng ta là để chúng ta rao truyền chính Chúa. Vì vậy, khi đến thành phố Cô-rinh-tô, một hội thánh giàu sang, trí thức, Phao-lô nói: “Tôi đã đoán định giữa anh em rằng tôi không biết điều gì khác ngoại trừ Đức Chúa Giê-xu Christ và Đức Chúa Giê-xu Christ bị đóng đinh trên cây thập tự” (I Cô-rinh-tô 2:2). Ông đối diện với Chúa và khi đã đối diện với Chúa rồi là để giảng về Chúa, không phải giảng một điều gì khác mặc dầu ông là người học thức cao siêu, tài giỏi.  Trong Phúc Âm, khi Chúa kêu gọi một người và người đó chần chừ, Chúa đã nói với người đó: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, còn ngươi hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời” (Lu-ca 9:60). Chúa kêu gọi chúng ta chỉ với một mục đích mà thôi, đó là rao truyền chính Con Ngài.  Khi Phao-lô viết thư cho Hội Thánh Cô-lô-se, ông nói rằng: “Ấy là NGÀI mà chúng tôi rao giảng” (Cô-lô-se 1:28).  Tôi rao giảng chính Chúa, rao giảng về Ngài. Tôi không rao giảng gì khác hơn là chính Chúa Giê-xu. Chữ “rao truyền” ở đây chính là chữ “giảng Phúc Âm,” không phải chỉ giảng thôi mà giảng Phúc Âm. Giảng Phúc Âm là gì?  Là giảng chính Chúa Giê-xu và đó là sự kêu gọi của chúng ta.  Chúng ta có rất nhiều điều để nói, nhiều thứ để giảng nhưng chúng ta phải nhớ rằng chúng ta được kêu gọi để rao giảng chính Chúa.  Trong tài liệu về Hội Thánh Sống Mạnh, một trong những yếu tố giúp cho Hội Thánh tăng trưởng sống mạnh là Chúa Giê-xu phải là trọng tâm, Chúa Giê-xu phải là căn bản của tất cả mọi sinh hoạt trong hội thánh (the centrality of Christ in the church).  Phao-lô đã được kêu gọi rao giảng Phúc Âm, rao giảng về Chúa.  Quí vị và tôi chúng ta cũng được kêu gọi để làm việc đó. Như vậy, người làm công trong vườn nho là người được Chúa gọi. Chúa gọi bằng ân sủng, Chúa gọi bằng cách bày tỏ chính Con của Ngài.  Chúa gọi để chúng ta rao giảng Con Trời. Nhưng người làm công trong vườn nho chẳng những được Chúa gọi nhưng cũng là người:

 

II. Được Chúa Dạy (17-20)

Chúng ta thấy điều đó từ câu 16 đến câu 19: “Bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao truyền Con đó ra trong người ngoại đạo thì lập tức tôi chẳng bàn với thịt và máu.  Tôi cũng không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng những người đã làm sứ đồ trước tôi, song tôi đi qua xứ A-ra-bi, sau rồi trở về thành Đa-mách, kế đó mãn ba năm tôi lên thành Giê-ru-sa-lem.”

Sau khi được Chúa gọi ông Phao-lô làm gì?  Có hai điều ông không làm. Thứ nhất là ông không bàn với thịt và máu: “Lập tức tôi chẳng bàn với thịt và máu.”  Thứ hai, ông không hội kiến với các sứ đồ: “Tôi cũng không lên Giê-ru-sa-lem đến cùng các sứ đồ trước tôi.”  Hành động nầy của Phao-lô cho thấy rằng người làm công trong vườn nho là người cần học hỏi với Chúa chứ không dựa vào sự khôn ngoan riêng của mình hay nương tựa vào người khác. Quí vị biết cám dỗ lớn nhất của quí vị hôm nay là gì không?  Cám dỗ lớn nhất của chúng ta là coi đây là đủ rồi!  Đến đây là hết rồi.  Hai ngày gian nan qua rồi.  Tôi được thụ phong Mục Sư rồi.  Tất cả mọi chuyện xong rồi.  Mình có chức Mục Sư rồi, cố gắng ngồi nghe bài giảng nầy nữa là xong! Tôi còn nhớ khi thi xong tú tài, tôi vứt bỏ hết sách vở và sung sướng lắm, nhưng đó không phải là hành động của người làm công trong vườn nho của Chúa.  Nguyễn Bá Học ngày xưa nói: “Học cũng giống như đi thuyền trên dòng nước ngược, không tiến ắt lùi.” Một giờ phút chúng ta ngừng lại là lùi.  Tôi còn nhớ hồi đi học cũng có câu cách ngôn trên tường: “Biển học vô bờ, lấy chuyên cần làm bến, mây xanh có lối dùng chí cả làm thang!”

Chúng ta là người đã được Chúa kêu gọi đến những mục đích cao cả chúng ta không thể dừng lại.  Ngưng, không học nữa là chúng ta lùi.  Có nhiều chức vụ đã dừng lại không có gì tươi mới và đó là nguy cơ lớn nhất của người hầu việc Chúa. Được Chúa gọi rồi, đó chỉ là bước đầu tiên, bước sơ khởi. Chúng ta phải để cho Chúa dạy. Chúng ta phải tiếp tục học. Và học với Chúa là thể nào?

Thứ nhất, học với Chúa là “không bàn với thịt và máu.” Thịt và máu là gì? Thịt và máu là nói đến con người bằng xương bằng thịt nầy, con người thân xác với tất cả trí tuệ, thông minh tài giỏi của chúng ta.  Khi Phi-e-rơ xưng nhận Chúa là Con Đức Chúa Trời hằng sống, Chúa Giê-xu đã nói với ông rằng: “Ấy chẳng phải là thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu,” nghĩa là không phải bởi sự khôn ngoan tài giỏi của ngươi đâu. Thịt và máu đây có thể là chính bản thân chúng ta, cũng có thể là người khác.  Phao-lô cho mọi người thấy rằng những gì ông giảng là thật, vì ông không học hỏi với người hay là với chính sự khôn ngoan của chính mình cho dù ông là một học giả.  Ông không bàn với thịt và máu, ông không cậy vào sức của mình, tài của mình: “Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng lực bèn là bởi Thần ta.”  Tác giả Châm Ngôn nói rằng: “Chớ khôn ngoan theo mắt mình… Phàm trong các việc làm của con khá nhận biết Ngài.” Chúng ta cần học, nhưng đừng dựa vào khôn ngoan, tài cán, vào sở trường, vào con người thể xác nầy. Đừng để cho con người thể xác nầy được vinh quang.

Khuynh hướng của nhiều người là “bàn với thịt và máu” trước, khi gặp khó khăn mới tìm đến Chúa.  Nhưng chúng ta thấy Phao-lô làm gì ? Sau khi Chúa gọi ông, điều ông làm là “lập tức!” Ngay lập tức. Ngay từ phút đầu!  Học với Chúa là như vậy. Không cậy vào sức của mình. Khi được Mục sư Giáo Hạt Trưởng mời để chia xẻ Lời Chúa buổi sáng hôm nay. Quí vị biết tôi cũng giảng nhiều lần, nhưng giờ phút nầy khi đứng giảng tôi vẫn còn run và tôi sợ cho chính tôi.  Lúc nào tôi đứng đây mà không run đó là tôi ở trong tình trạng nguy hiểm vô cùng. “Không bàn với thịt và máu,” đừng bao giờ dựa vào cái gì của mình. Học với Chúa là không cậy sức mình.

Thứ nhì, không đến cùng với những người đã làm sứ đồ trước. “Tôi không bàn với thịt và máu và tôi không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng những người đã làm sứ đồ trước tôi.” Đây không có nghĩa là không học với những người đi trước mình, nhưng điều nầy muốn nói đến thẩm quyền của chân lý, thẩm quyền của Phúc Âm không đến từ con người nhưng đến từ Chúa.  Ngày xưa có danh từ CÔCC (con ông cháu cha), dựa vào quyền thế của người nầy, người nọ. Đó là ở ngoài đời, nhưng trong Chúa, trong đời sống tâm linh nhiều người cũng làm như vậy. Dựa hơi, dựa vào người khác để hầu việc Chúa, để rao truyền Phúc Âm. Có những người chỉ dựa vào lý thuyết, vào sách vở của người nầy, người nọ, mà không tập trung vào Chúa, không đến với Chúa, học với Chúa trước hết. Sách vở tài liệu là điều cần thiết, nhưng trên hết chúng ta cần phải học với Chúa. Có những Mục Sư chỉ biết Rick Warren, Bill Hybels hay Nghê Thác Thanh và không biết gì khác nữa.  Đừng bao giờ dựa hơi, dựa vào người khác như vậy. Phao-lô nói rằng: “Tôi không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng những người đã làm sứ đồ trước tôi.” Học với Chúa nghĩa là không cậy vào sức của mình nhưng cũng không cậy vào sức của người, hãy đến với sự bày tỏ của Chúa, đến với chính Ngài.  Nhưng nếu không bàn với thịt và máu, nếu không cậy vào sức người thì làm gì? 

Điều thứ ba Phao-lô làm là qua xứ A-ra-bi: “Tôi không lên thành Giê-ru-sa-lem, tôi không bàn với thịt và máu, nhưng tôi qua xứ A-ra-bi.”  Đi qua xứ A-ra-bi là điều chúng ta cần phải làm để học với Chúa. Theo II Cô-rinh-tô 11:32, vua A-rê-ta là người cai trị xứ A-ra-bi lúc bấ giờ, do đó A-ra-bi có thể là vùng gần Đa-mách lúc bấy giờ và thường đó là vùng sa mạc. Chúng ta không biết Phao-lô đến đó làm gì nhưng đối chiếu với hai điều ông đã không làm ở trên (không bàn với thịt và máu, không lên Giê-ru-sa-lem nhưng đi qua xứ A-ra-bi) thì đây là thì giờ ẩn dật, tĩnh tâm học hỏi với Chúa. Có thể ông ở đó đến ba năm như ông nói trong câu 18 “kế đó mãn ba năm tôi lên thành Giê-ru-sa-lem.”  Đức Chúa Giê-xu ở với các môn đồ của Ngài ba năm dạy dỗ họ. Phao-lô không được ở ba năm với Chúa, có thể Chúa bắt ông học trong đồng vắng.

A-ra-bi là vùng sa mạc, thời kỳ sa mạc, giai đoạn yên lặng, học riêng với Chúa. Tất cả chúng ta cần đi vào sa mạc ở riêng với Chúa để học hỏi với Ngài. Tất cả chúng ta cần đi qua xứ A-ra-bi ở riêng với Chúa thường xuyên để học với Ngài. Môi-se học trong đồng vắng bốn mươi năm. Chúa Giê-xu trước khi thi hành chức vụ đã trong đồng vắng bốn mươi ngày, bốn mươi đêm. Chúng ta đều biết sự cần thiết của việc dành thì giờ ở riêng với Chúa, nhưng bỏ qua thì giờ ở riêng với Chúa cũng là cám dỗ lớn nhất của người hầu việc Chúa. Đây là cám dỗ lớn cho người hầu việc Chúa vì chúng ta bận rộn nhiều điều, không có thì giờ ở riêng với Chúa. Lời Chúa dạy qua Phao-lô cho chúng ta thấy rằng người làm công trong vườn nho của Chúa chẳng những là người được Chúa gọi nhưng cũng là người được Chúa dạy. Chúng ta không thể được Chúa dạy nếu chúng ta không ở riêng với Chúa, dành thì giờ cho Chúa dạy chúng ta.  Cũng có thể Chúa đang dẫn chúng ta qua một kinh nghiệm sa mạc, một nỗi cô đơn cùng cực không ai có thể thông cảm, chỉ học được với Chúa mà thôi. Đó là những kinh nghiệm cần thiết cho người làm công trong vườn nho của Đức Chúa Trời.

Người làm công trong vườn nho là người được Chúa gọi, được Chúa dạy và người làm công trong vườn nho cũng là người:

 

III.  Được Chúa Dùng (21-24)

“Sau lại tôi đi qua các miền thuộc xứ Si-ry và xứ Si-li-si, bấy giờ tôi còn là kẻ lạ mặt trong các Hội thánh tại xứ Giu-đê là các Hội ở trong Đấng Christ. Chỉn các Hội đó có nghe rằng người đã bắt bớ chúng ta ngày trước nay đang truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá. Vậy thì các Hội đó vì cớ tôi khen ngợi Đức Chúa Trời” (c. 21-24). Chúa dùng Phao-lô như thế nào? 

Trước hết, Chúa dùng Phao-lô như một nhân chứng sống. Chúng ta thấy điều đó trong câu 23: “Các Hội đó có nghe rằng người đã bắt bớ chúng ta ngày trước nay đương truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá.” Chúng ta thấy đây là cả một sự thay đổi hoàn toàn.  Trong câu 13, Phao-lô nói: “Anh em đã nghe lúc trước tôi theo giáo Giu-đa, cách cư xử của tôi là thể nào. Tôi bắt bớ và phá tán hội thánh của Đức Chúa Trời quá chừng” (destroy the church of God ).  Một con người hung bạo, ông thú nhận điều đó nhưng bây giờ mọi người thấy điều gì?  “Người đã bắt bớ chúng ta ngày trước nay đang truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá.” Trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương 9, chúng ta thấy từ một Sau-lơ hung hãn đi bắt bớ người theo Chúa trở thành một Sau-lơ “tới thành Giê-ru-sa-lem hiệp lại với các sứ đồ nhân danh Chúa mà nói cách dạn dĩ” (Công Vụ 9:28 -29).

Một con người hung bạo bây giờ đi giảng đạo Chúa, cả một sự thay đổi hoàn toàn. Người bắt bớ Hội Thánh, người phá hại Hội Thánh bây giờ là người giảng Tin Lành.  Người ta nói về Phao-lô là người “truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá.”  Chữ “truyền” ở đây là “giảng Tin Lành” và chữ “đạo” là “đức tin.” Bản NIV dịch là “preach the faith.”  Ông giảng niềm tin của ông, đức tin của ông, con người của ông.  Một con người được Chúa kêu gọi, được Chúa dạy và bây giờ trở thành một con người sống, một nhân chứng sống cho niềm tin của mình.  Chúa đã dùng Phao-lô như một nhân chứng sống, không phải Phao-lô chỉ đứng giảng nhưng thấy người đó, anh chàng đó, một người xấu xa tội lỗi phá hội thánh của Chúa bây giờ là người xây dựng hội thánh của Chúa, một nhân chứng sống hoàn toàn. Vì vậy, một người được Chúa dùng là người Chúa dùng như một nhân chứng sống cho Chúa.

Các đầy tớ của Chúa hầu việc Chúa lâu năm ở Việt Nam nhớ rằng ở Việt Nam ngày trước có một tờ báo cho các Mục Sư, Truyền Đạo gọi là “Giảng và Sống.” Giảng không đủ, phải sống. Đời sống của chúng ta như thế nào?  Nó phải đi đôi với sự giảng dạy của chúng ta. Chúng ta cần giảng và sống nhưng cũng cần sống và giảng. Những gì chúng ta giảng phải đi đôi với đời sống chúng ta. Đài Phát Thanh Nguồn Sống do Mục sư Tiến sĩ Bowman thành lập. Cách đây mười năm trong buổi lễ kỷ niệm năm mươi năm ngày thành lập Đài, người giới thiệu Tiến sĩ Bowman một câu mà tôi không bao giờ quên. Ông nói: “There is no two Dr. Bowmans” (Không có hai tiến sĩ Bowman). Người đó muốn nói điều gì? Ông muốn nói là ông tiến sĩ Bowman đứng ra giảng dạy, làm việc như thế nào thì ông tiến sĩ Bowman ở nhà, ở chợ, ở bất cứ một chỗ nào chúng ta gặp cũng là ông Bowman đó chứ không phải ông Bowman nào khác. Chúng ta không phải đi ra ngoài, đứng trước mặt mọi người, cách ăn nói khác và khi về với vợ con, với gia đình, với bạn bè, với những người dưới mình là một con người khác. Chỉ có một người, giảng và sống chỉ là một người mà thôi. Ông Phao-lô đã giảng và sống và cuộc đời của ông là một nhân chứng tất cả mọi người đều thấy.

Một trong những điều kiện để làm giám mục, mục sư Phao-lô nói trong I Ti-mô-thê đoạn 3 câu 7 là: “Người giám mục phải được người ngoại làm chứng tốt cho kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma quỉ.” Đời sống của chúng ta vô cùng quan trọng, chúng ta có hầu việc Chúa như một nhân chứng sống hay không. Người chung quanh, người ngoài, người gần gũi với chúng ta nhất nói như thế nào về chúng ta? Họ nói về  Phao-lô như thế nào? Đây là người phá Hội Thánh bây giờ là người xây dựng Hội Thánh. Chúng ta cần hầu việc Chúa như một nhân chứng sống với đức tin và với đời sống của mình.

Chúa dùng chúng ta chẳng những như một nhân chứng sống nhưng Chúa cũng dùng ông Phao-lô và cũng dùng chúng ta để Chúa được ca ngợi. Chúng ta thấy điều nầy trong câu 24: “Vậy thì, các Hội đó vì cớ tôi khen ngợi Đức Chúa Trời.” Qua tôi Chúa được vinh quang! Quí vị có thường đi đọc các mộ bia trong các nghĩa địa không? Mỗi mộ bia có những câu, những chữ nói về đời sống của người đã nằm xuống. Những năm trước có một hãng làm pizza tên là Tombstone , họ đặt câu hỏi: “Bạn muốn viết câu gì trên mộ bia của mình?”  Quí vị muốn được viết câu gì trên mộ bia của mình?  Quí vị hãy tưởng tượng trên mộ bia có câu như sau: “Vì cớ người nầy, Đức Chúa Trời được khen ngợi!” Vì cớ tôi Đức Chúa Trời được vinh quang. Ước gì câu nầy có thể để trên mộ của chúng ta.

Một trong những thảm cảnh lớn nhất trong thời đại chúng ta trên đất nước nầy là danh Chúa bị phỉ báng, bị chế nhạo và bị chê cười vì những người trong hàng giáo phẩm. Không phải là người tin Chúa nhưng người ở trong hàng giáo phẩm, những người lãnh đạo tinh thần.  Chẳng những trong các giáo hội bạn vì những người lãnh đạo tinh thần đã làm những điều chúng ta không tưởng tượng nổi, nhưng cũng là điều xảy ra thường xuyên với những người được phong chức, những người được tiếp nhận thánh chức như quí vị hôm nay. Mỗi ngày trên đất Mỹ nầy có hằng trăm người ở trong hàng giáo phẩm, những người lãnh đạo tinh thần sa ngã, gục ngã, danh Chúa bị chê cười. Vì cớ tôi mà danh Chúa bị phỉ báng! Đối với Phao-lô, các Hội đó vì cớ tôi khen ngợi Đức Chúa Trời.

Là người làm công trong vườn nho của Chúa, Chúa phải được ca ngợi.  Qua chức vụ Mục Sư của quí vị, qua chức vụ của tôi người ta thấy điều gì? Người ta thấy tôi hay là thấy Chúa? Danh của Chúa có được ca ngợi vì chức vụ của tôi không?  Nếu Chúa đã gọi chúng ta, Chúa đã dạy chúng ta, qua chúng ta chỉ một điều cần xảy ra và phải xảy ra đó là danh Chúa được vinh quang. Vì cớ tôi mà người ta khen ngợi Đức Chúa Trời.

Ba mươi hai năm trước, tôi đứng chỗ của quí vị mà quí vị đứng hôm nay. Hôm ấy vị mục sư giảng gì, hôm nay tôi không còn nhớ và tôi cũng không mong quí vị nhớ bài giảng của tôi.  Nhưng điều tôi không thể quên được là tôi thưa với Chúa như thế này: “Lạy Chúa, tại sao lại là con? Tại sao Chúa lại chọn con vào chức vụ nầy? Con không xứng đáng và con không có sức nữa!” Từ đó cho đến nay, cũng có lúc tôi nản lòng, muốn bỏ chức vụ, nhưng có một điều luôn luôn đến với tôi. Tôi nghe tiếng Chúa nói: “Ta đã để riêng con từ lúc còn trong lòng mẹ.  Ta đã lấy ân điển gọi con, Ta đã bày tỏ chính mình ta cho con! Ta muốn con rao truyền Ta cho người khác biết.  Con có muốn Ta được vinh quang không?” Tôi vẫn còn học với Chúa và tôi cầu xin Chúa giúp tôi tiếp tục bước đi với Ngài cho đến cùng. Đối với người làm công trong vườn nho, Chúa chỉ cần một điều và một điều mà thôi và quí vị biết điều đó là gì.  Cuối cùng, chúng ta chỉ mong được nghe Chúa phán: “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm.  Hãy đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi!” Trung tín cho đến cùng, đó là điều cần hơn hết!

Hôm nay là một ngày quan trọng trong đời sống của quí vị, quan trọng không phải vì quí vị nhận chức vụ mục sư nhưng đây là ngày quí vị tiếp nhận ân sủng của Chúa, ngày quí vị đáp ứng lại tiếng gọi của Chúa. Đây là ngày quí vị học với Chúa và để cho Ngài sử dụng. Tôi chúc mừng quí vị không phải là vì chức vụ mục sư, nhưng tôi chúc mừng quí vị là những người làm công trong vườn nho của Chúa chúng ta: “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (II Ti-mô-thê 2:15).  Như người làm công không chỗ trách được, người làm công trong vườn nho của Đức Chúa Trời.  Xin Chúa ban phước cho quí vị.

Mục Sư Nguyễn Thỉ