![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Người Làm Công trong Vườn Nho |
|
|
|
Thư
Ga-la-ti 1:11-24 Bài
giảng Lễ Tấn Phong Mục Sư ngày
Cuối tháng Tư vừa qua, Giáo
Hội Công Giáo La-mã có một vị tân giáo hoàng,
đó là Hồng Y Joseph Ratinger, lấy tên là Giáo Hoàng
Benedict XVI. Những lời đầu tiên Giáo Hoàng
Benedict XVI nói với mọi người khi ông được
giới thiệu là những lời như sau: “Anh chị em
thân mến, sau một vị giáo hoàng lớn là John Paul
II, quí vị hồng y đã bầu tôi, một người làm
công đơn sơ, khiêm tốn trong vườn nho của Chúa.” “Một
người làm công đơn sơ, khiêm tốn trong vườn
nho của Chúa,” quí vị không phải là giáo hoàng,
nhưng tôi nghĩ đây là những lời thích hợp cho
chúng ta, “những người làm công đơn sơ, khiêm
tốn trong vườn nho của Chúa.”
Hội Thánh của Chúa, con dân của Chúa là vườn
nho của Chúa và Chúa đã vui lòng dùng chúng ta
trong vườn nho của Ngài.
Có nhiều điều chúng ta không đồng ý với
Giáo Hội Công Giáo La-mã, nhưng có một điều
của Giáo Hội Công Giáo mà tôi rất thích đó là
khi được phong chức, quí vị linh mục phải nằm
mọp người xuống đất, nằm sát cả người
xuống đất, bày tỏ thái độ thuận phục hoàn
toàn. Trông
thấy quang cảnh đó, chúng ta biết đây là một
điều rất quan trọng, một chức vụ vô cùng cao
quí. Người làm công trong vườn
nho của Chúa là một chức vụ vô cùng cao quí, vô
cùng thiêng liêng, không có gì có thể so sánh được.
Không phải vì chúng ta cao
quí nhưng vì chức vụ Chúa đã giao cho chúng ta.
Ước mong quí đầy tớ
của Chúa buổi sáng hôm nay cũng thấy rõ điều
đó để rồi chúng ta sống đúng với chức phận
mà Chúa đã gọi chúng ta. Một
trong những người làm công trong vườn nho gương
mẫu là sứ đồ Phao-lô.
Buổi sáng hôm nay chúng ta cùng
nhìn vào Phao-lô như một người làm công gương
mẫu để học, để xác định, để đánh dấu
cho ngày trọng đại nầy trong đời sống của quí
vị. Nhìn
vào cuộc đời của Phao-lô, đọc những lời
chứng của Phao-lô, chúng ta thấy người làm công
trong vườn nho có những đặc tính sau: I.
Được Chúa Gọi (15-16) Sứ
đồ Phao-lô đã viết lá thư nầy cho các con cái
Chúa trong vùng Ga-la-ti.
Ông viết thư
nầy không phải để bênh vực cho chức vụ sứ
đồ của ông, nhưng để bênh vực cho Phúc Âm,
cho Tin Lành, cho những điều ông rao giảng. Ông
cho thấy Phúc Âm ông rao giảng là thật, bởi vì
con người rao giảng là thật.
Ông nói trong câu 11-12: “Hỡi anh em, tôi nói
cho anh em rằng Tin Lành mà tôi đã truyền chẳng
phải đến từ loài người đâu vì tôi không
nhận và cũng không học Tin Lành đó với một người
nào nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ ra của Đức
Chúa Giê-xu Christ.” Chúng
ta thường nói “Văn là người.”
Đọc một quyển sách, nghe một câu chuyện
hay một người nói một điều gì, chúng ta biết
điều sâu xa thầm kín trong lòng người đó.
Chúa Giê-xu cũng nói: “Do sự đầy dẫy
trong lòng mà miệng mới nói ra” (Ma-thi-ơ Phao-lô
nói: “Hỡi
anh em, tôi nói cho anh em rằng Tin Lành tôi đã
truyền chẳng phải đến từ loài người đâu vì
tôi không nhận và không học Tin Lành đó với
một người nào nhưng đã nhận lấy bởi sự tỏ
ra của Đức Chúa Giê-xu Christ.” Phao-lô
nhận Tin Lành mà ông rao truyền bởi sự tỏ ra
của Đức Chúa Giê-xu Christ, bởi sự mạc khải
của Chúa. Ông
nói rõ hơn trong câu 15 và 16: “Khi Đức Chúa
Trời là Đấng đã để riêng tôi ra từ lúc còn
trong lòng mẹ và lấy ân điển gọi tôi vui lòng
bày tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao
truyền Con đó.” Điều này cho
thấy Tin Lành, Phúc Âm mà Phao-lô rao giảng là điều
ông nhận từ Chúa.
Ông được Chúa biệt riêng
và kêu gọi. Như vậy, một
người hầu việc Chúa, một người làm công trong
vườn nho của Chúa là người được Chúa gọi.
Sự kêu gọi đó trước hết là: 1.
Bằng ân sủng Phao-lô
nói trong câu 15: “Lấy ân điển gọi tôi.” Chúa
gọi Phao-lô bằng ân sủng của Ngài. Ân
sủng là chữ lớn nhất trong đạo của Chúa.
Người không tin Chúa không
hiểu được ân sủng là gì bởi vì họ chưa kinh
nghiệm ơn của Chúa. Chúng ta được làm con
của Chúa và Phao-lô được làm người rao giảng
Phúc Âm, được làm người làm công trong vườn
nho của Chúa cũng là qua ân sủng của Ngài.
Ân sủng, như chúng ta đã
biết là “ơn dành cho người không xứng đáng,
không đáng được.”
Nói đến ơn có nghĩa là chúng
ta không có gì cả, tất cả đều là của Chúa,
đều đến từ Chúa. Phao-lô
kinh nghiệm điều nầy và ông đắm mình trong ân
sủng của Ngài.
Ông nhắc đi nhắc lại luôn
trong những lá thư ông gửi cho cá nhân và hội thánh.
Ông viết cho Ti-mô-thê: “Ta ngày trước vốn là
người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo. Nhưng
ta đã đội ơn thương xót vì ta đã làm những điều
đó đang lúc ta ngu muội chưa
tin. Ân điển của Chúa chúng ta đã dư dật trong
ta với đức tin cùng sự thương yêu trong Đức Chúa
Giê-xu Christ” (I Ti-mô-thê Là
người hầu việc Chúa, đừng bao giờ quên rằng
được hầu việc Chúa là do ơn của Ngài.
Chúng ta không có gì cả
nếu không bởi ơn của Chúa. Không phải chúng
ta xứng đáng hay là có một điều gì, nhưng bởi
ân sủng của Chúa mà Chúa đã gọi chúng ta.
Phao-lô nói, Ngài đã
“lấy ân điển gọi tôi, để riêng tôi ra từ lúc
còn trong lòng mẹ.” Tất cả chúng ta được
cứu nhờ ân sủng của Chúa: “Ấy là nhờ ân điển
bởi đức tin mà anh em được cứu.”
Chúng ta có thể đọc thêm là: “Ấy là
nhờ ân điển bởi đức tin mà tôi được gọi,
được Chúa cho làm người làm công trong vườn
nho của Ngài.” Bài hát Amazing
Grace tất cả chúng ta đều biết, đây là bài hát
chúng ta phải hát thường xuyên trong cuộc đời
chúng ta: “Ân sủng Chúa nghe sao mà dịu ngọt,
cứu kẻ khốn cùng gian ác như tôi, xưa lạc lầm
nay tìm ra lối thoát, vốn mù lòa nay thấy ánh sáng
trời.” Chúng
ta không là gì cả chỉ được ơn Chúa kêu gọi. 2.
Bằng sự bày tỏ Sự
kêu gọi của Chúa chẳng những là sự kêu gọi
bởi ân sủng của Ngài nhưng cũng là sự kêu
gọi bằng sự bày tỏ.
Phao-lô viết: “Khi Đức Chúa Trời là Đấng đã
để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ và
lấy ân điển gọi tôi vui lòng bày tỏ Con của
Ngài ra trong tôi.”
Chúa đã gọi Phao-lô bằng
ân điển của Ngài và tiếng gọi đó là “bày
tỏ Con của Ngài ra trong tôi.” Chúa
đã đến, đã kêu gọi Phao-lô như thế nào?
Tất cả chúng ta đều biết đang trên đường
đến thành Đa-mách để bắt bớ những người
tin Chúa, ông đã gặp Chúa và Chúa đã nói với
ông: “Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ! Sao ngươi
bắt bớ Ta!” Ông hỏi lại: “Lạy Chúa,
Chúa là ai mà tôi bắt bớ?” Chúa cho ông biết:
“Ta là Giê-xu mà ngươi đang bắt bớ!”
Phao-lô bắt bớ Hội Thánh
của Chúa nhưng Chúa cho thấy rằng ông đã đụng
đến chính Chúa. “Ta là Giê-xu!” Chúa
Giê-xu đã bày tỏ chính mình Ngài cho Phao-lô.
Phao-lô đã đối diện với chính
Con của Đức Chúa Trời trên đường đến Đa-mách.
Vì vậy, ông nói Chúa “vui lòng
bày tỏ Con của Ngài ra cho tôi.” Về sau
khi sứ đồ Phao-lô thuật lại kinh nghiệm đó
với vua Ạc-ríp-ba, ông nói: “Từ đó (từ ngày
tôi đối diện với Con Đức Chúa Trời) tôi
chẳng hề dám chống cự lại với sự hiện
thấy trên trời” (Công vụ 26:19). Phao-lô muốn nói
rằng: “Từ khi tôi đối diện với Con Đức Chúa
Trời, từ khi tôi đối diện với Chúa Giê-xu,
một lần không bao giờ quên, thay đổi cả cuộc
đời của tôi!” Chúa
chẳng những lấy ân điển gọi ông nhưng còn cho
ông được đối diện, được gặp chính Chúa và
cuộc gặp gỡ nầy đã ảnh hưởng, chi phối,
quyết định tất cả cuộc đời
Phao-lô, cuộc đời của một người làm công
trong vườn nho của Chúa. Hai
ngày vừa qua, được ngồi nghe lại mỗi đầy
tớ của Chúa thuật lại kinh nghiệm trong sự bày
tỏ, trong sự gặp gỡ, trong sự kêu gọi của Chúa
trên đời sống của mỗi quí vị.
Tạ ơn Chúa về điều đó
vô cùng. Xin
Chúa giúp cho chúng ta đừng bao giờ quên.
Luôn luôn nhớ sự gặp gỡ
đặc biệt Chúa đã dành cho chúng ta. Từ đó
cho đến nay và cho đến cuối cuộc đời, xin Chúa
giúp chúng ta có thể nói như Phao-lô đã nói
rằng: “Tôi không dám chống cự!”
Có thể có lúc chúng ta
muốn quay đi, có lúc bị cám dỗ, có lúc muốn làm
điều nầy điều nọ, muốn từ bỏ chức vụ.
Có những thách thức trong
cuộc đời của mình, nhưng hãy nhớ sự hiện
thấy, nhớ đến sự bày tỏ của Chúa dành cho chính
mình. “Từ đó tôi chẳng
dám chống cự với sự hiện thấy ở trên trời!”
Chúng ta không nhất thiết là
phải có ánh sáng từ trời, nghe tiếng Chúa phán
như Phao-lô, nhưng một lần Chúa đã đụng đến
cuộc đời chúng ta.
Chúng ta thấy Phao-lô đã giảng dạy nhiều
điều, Tân Ước có 27 sách, ông đã viết 13 sách
về những đề tài thần học cao siêu.
Nhưng tất cả những điều
đó đến từ đâu?
Tất cả những điều đó
đến từ cuộc đối diện với Chúa Giê-xu.
Và từ đó ông không còn ước
ao gì nữa. Ông
nói rằng: “Tôi đã coi hết thảy mọi sự như là
sự lỗ vì sự nhận biết Đức Chúa Giê-xu Christ
là quí hơn hết… Cho đến nỗi tôi được biết
Ngài” (Phi-líp 3:8,10). Phao-lô
chỉ muốn một điều là được tương giao, được
đối diện, được gần gũi, được nhận sự bày
tỏ đến từ nơi Chúa Giê-xu. Người
làm công trong vườn nho là người được Chúa
gọi bằng ân sủng của Ngài, được Chúa gọi
bằng sự bày tỏ của chính Ngài.
Sự bày tỏ đó cũng là: 3.
Để rao truyền “Bày
tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao
truyền Con đó ra trong người ngoại đạo” (c.
16).
Sở dĩ Chúa Giê-xu bày tỏ ra cho Phao-lô là
để ông bày tỏ Con của Ngài ra cho người ngoại
đạo. Đó là mục đích của sự
kêu gọi, của sự bày tỏ, của ân sủng Chúa.
Chúa kêu gọi chúng ta là để
chúng ta rao truyền chính Chúa. Vì vậy, khi
đến thành phố Cô-rinh-tô, một hội thánh giàu
sang, trí thức, Phao-lô nói: “Tôi đã đoán định
giữa anh em rằng tôi không biết điều gì khác
ngoại trừ Đức Chúa Giê-xu Christ và Đức Chúa
Giê-xu Christ bị đóng đinh trên cây thập tự”
(I Cô-rinh-tô 2:2). Ông đối diện
với Chúa và khi đã đối diện với Chúa rồi là
để giảng về Chúa, không phải giảng một điều
gì khác mặc dầu ông là người học thức cao siêu,
tài giỏi. Trong
Phúc Âm, khi Chúa kêu gọi một người và người
đó chần chừ, Chúa đã nói với người đó: “Hãy
để kẻ chết chôn kẻ chết, còn ngươi hãy đi
rao giảng nước Đức Chúa Trời” (Lu-ca 9:60). Chúa
kêu gọi chúng ta chỉ với một mục đích mà thôi,
đó là rao truyền chính Con Ngài.
Khi Phao-lô viết thư cho Hội Thánh Cô-lô-se,
ông nói rằng: “Ấy là NGÀI mà chúng tôi rao
giảng” (Cô-lô-se 1:28).
Tôi rao giảng chính Chúa,
rao giảng về Ngài. Tôi không
rao giảng gì khác hơn là chính Chúa Giê-xu. Chữ
“rao truyền” ở đây chính là chữ “giảng Phúc
Âm,” không phải chỉ giảng thôi mà giảng Phúc
Âm. Giảng Phúc Âm là gì?
Là giảng chính Chúa Giê-xu
và đó là sự kêu gọi của chúng ta.
Chúng ta có rất nhiều điều
để nói, nhiều thứ để giảng nhưng chúng ta
phải nhớ rằng chúng ta được kêu gọi để rao
giảng chính Chúa.
Trong tài liệu về Hội Thánh Sống Mạnh,
một trong những yếu tố giúp cho Hội Thánh tăng
trưởng sống mạnh là Chúa Giê-xu phải là trọng
tâm, Chúa Giê-xu phải là căn bản của tất cả
mọi sinh hoạt trong hội thánh (the centrality of
Christ in the church).
Phao-lô đã được kêu gọi
rao giảng Phúc Âm, rao giảng về Chúa.
Quí vị và tôi chúng ta cũng
được kêu gọi để làm việc đó. Như
vậy, người làm công trong vườn nho là người
được Chúa gọi. Chúa gọi
bằng ân sủng, Chúa gọi bằng cách bày tỏ chính
Con của Ngài.
Chúa gọi để chúng ta rao giảng Con Trời.
Nhưng người làm công trong vườn nho chẳng những
được Chúa gọi nhưng cũng là người: II.
Được Chúa Dạy (17-20) Chúng
ta thấy điều đó từ câu 16 đến câu 19: “Bày
tỏ Con của Ngài ra trong tôi hầu cho tôi rao
truyền Con đó ra trong người ngoại đạo thì
lập tức tôi chẳng bàn với thịt và máu.
Tôi cũng không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng
những người đã làm sứ đồ trước tôi, song tôi
đi qua xứ A-ra-bi, sau rồi trở về thành Đa-mách,
kế đó mãn ba năm tôi lên thành Giê-ru-sa-lem.” Sau
khi được Chúa gọi ông Phao-lô làm gì?
Có hai điều ông không làm.
Thứ nhất là ông không bàn với thịt và máu:
“Lập tức tôi chẳng bàn với thịt và máu.”
Thứ hai, ông không hội kiến với các sứ
đồ: “Tôi cũng không lên Giê-ru-sa-lem đến cùng
các sứ đồ trước tôi.”
Hành động nầy của Phao-lô cho thấy rằng
người làm công trong vườn nho là người cần
học hỏi với Chúa chứ không dựa vào sự khôn
ngoan riêng của mình hay nương tựa vào người khác.
Quí vị biết cám dỗ lớn nhất
của quí vị hôm nay là gì không?
Cám dỗ lớn nhất của chúng ta là coi đây
là đủ rồi! Đến
đây là hết rồi.
Hai ngày gian nan qua
rồi. Tôi
được thụ phong Mục Sư rồi.
Tất cả mọi chuyện xong
rồi. Mình
có chức Mục Sư rồi, cố gắng ngồi nghe bài
giảng nầy nữa là xong! Tôi còn nhớ khi thi xong tú
tài, tôi vứt bỏ hết sách vở và sung sướng
lắm, nhưng đó không phải là hành động của người
làm công trong vườn nho của Chúa.
Nguyễn Bá Học ngày xưa nói: “Học cũng
giống như đi thuyền trên dòng nước ngược, không
tiến ắt lùi.” Một giờ phút
chúng ta ngừng lại là lùi.
Tôi còn nhớ hồi đi học cũng có câu cách
ngôn trên tường: “Biển học vô bờ, lấy chuyên
cần làm bến, mây xanh có lối dùng chí cả làm
thang!” Chúng
ta là người đã được Chúa kêu gọi đến
những mục đích cao cả chúng ta không thể dừng
lại.
Ngưng, không học nữa là chúng
ta lùi. Có
nhiều chức vụ đã dừng lại không có gì tươi
mới và đó là nguy cơ lớn nhất của người
hầu việc Chúa. Được Chúa
gọi rồi, đó chỉ là bước đầu tiên, bước sơ
khởi. Chúng ta phải để
cho Chúa dạy. Chúng ta phải
tiếp tục học. Và học
với Chúa là thể nào? Thứ
nhất, học với Chúa là “không bàn với thịt và
máu.”
Thịt và máu là gì? Thịt và
máu là nói đến con người bằng xương bằng
thịt nầy, con người thân xác với tất cả trí
tuệ, thông minh tài giỏi của chúng ta.
Khi Phi-e-rơ xưng nhận Chúa là Con Đức Chúa
Trời hằng sống, Chúa Giê-xu đã nói với ông
rằng: “Ấy chẳng phải là thịt và huyết tỏ
cho ngươi biết điều nầy đâu,” nghĩa là không
phải bởi sự khôn ngoan tài giỏi của ngươi đâu.
Thịt và máu đây có thể là chính
bản thân chúng ta, cũng có thể là người khác.
Phao-lô cho mọi người
thấy rằng những gì ông giảng là thật, vì ông
không học hỏi với người hay là với chính sự
khôn ngoan của chính mình cho dù ông là một học
giả. Ông
không bàn với thịt và máu, ông không cậy vào
sức của mình, tài của mình: “Ấy chẳng phải
là bởi quyền thế, cũng chẳng phải bởi năng
lực bèn là bởi Thần ta.”
Tác giả Châm Ngôn nói rằng: “Chớ khôn
ngoan theo mắt mình… Phàm
trong các việc làm của con khá nhận biết Ngài.”
Chúng ta cần học, nhưng đừng
dựa vào khôn ngoan, tài cán, vào sở trường, vào
con người thể xác nầy. Đừng để cho con
người thể xác nầy được vinh quang. Khuynh
hướng của nhiều người là “bàn với thịt và
máu” trước, khi gặp khó khăn mới tìm đến Chúa.
Nhưng chúng ta thấy Phao-lô làm gì
? Sau khi Chúa gọi ông, điều
ông làm là “lập tức!” Ngay
lập tức. Ngay từ phút đầu!
Học với Chúa là như vậy.
Không cậy vào sức của mình.
Khi được Mục sư Giáo Hạt Trưởng
mời để chia xẻ Lời Chúa buổi sáng hôm nay.
Quí vị biết tôi cũng giảng
nhiều lần, nhưng giờ phút nầy khi đứng giảng
tôi vẫn còn run và tôi sợ cho chính tôi.
Lúc nào tôi đứng đây mà không run đó là
tôi ở trong tình trạng nguy hiểm vô cùng. “Không
bàn với thịt và máu,” đừng bao giờ dựa vào
cái gì của mình. Học với
Chúa là không cậy sức mình. Thứ
nhì, không đến cùng với những người đã làm
sứ đồ trước.
“Tôi không bàn với thịt và máu
và tôi không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng
những người đã làm sứ đồ trước tôi.”
Đây không có nghĩa là không học với những người
đi trước mình, nhưng điều nầy muốn nói đến
thẩm quyền của chân lý, thẩm quyền của Phúc
Âm không đến từ con người nhưng đến từ Chúa.
Ngày xưa có danh từ CÔCC
(con ông cháu cha), dựa vào quyền thế của người
nầy, người nọ. Đó là
ở ngoài đời, nhưng trong Chúa, trong đời sống tâm
linh nhiều người cũng làm như vậy. Dựa
hơi, dựa vào người khác để hầu việc Chúa, để
rao truyền Phúc Âm. Có những người chỉ
dựa vào lý thuyết, vào sách vở của người
nầy, người nọ, mà không tập trung vào Chúa, không
đến với Chúa, học với Chúa trước hết. Sách
vở tài liệu là điều cần thiết, nhưng trên
hết chúng ta cần phải học với Chúa. Có
những Mục Sư chỉ biết Rick Warren, Bill Hybels hay
Nghê Thác Thanh và không biết gì khác nữa.
Đừng bao giờ dựa hơi,
dựa vào người khác như vậy. Phao-lô nói
rằng: “Tôi không lên thành Giê-ru-sa-lem đến cùng
những người đã làm sứ đồ trước tôi.” Học
với Chúa nghĩa là không cậy vào sức của mình
nhưng cũng không cậy vào sức của người, hãy đến
với sự bày tỏ của Chúa, đến với chính Ngài.
Nhưng nếu không bàn với
thịt và máu, nếu không cậy vào sức người thì
làm gì? Điều
thứ ba Phao-lô làm là qua xứ A-ra-bi: “Tôi không
lên thành Giê-ru-sa-lem, tôi không bàn với thịt và
máu, nhưng tôi qua xứ A-ra-bi.”
Đi qua xứ A-ra-bi là điều
chúng ta cần phải làm để học với Chúa.
Theo II Cô-rinh-tô 11:32, vua A-rê-ta là người cai
trị xứ A-ra-bi lúc bấ giờ, do đó A-ra-bi có
thể là vùng gần Đa-mách lúc bấy giờ và thường
đó là vùng sa mạc. Chúng ta không
biết Phao-lô đến đó làm gì nhưng đối chiếu
với hai điều ông đã không làm ở trên (không bàn
với thịt và máu, không lên Giê-ru-sa-lem nhưng đi
qua xứ A-ra-bi) thì đây là thì giờ ẩn dật, tĩnh
tâm học hỏi với Chúa. Có
thể ông ở đó đến ba năm như ông nói trong câu
18 “kế đó mãn ba năm tôi lên thành Giê-ru-sa-lem.”
Đức Chúa Giê-xu ở với các
môn đồ của Ngài ba năm dạy dỗ họ. Phao-lô
không được ở ba năm với Chúa, có thể Chúa
bắt ông học trong đồng vắng. A-ra-bi
là vùng sa mạc, thời kỳ
sa mạc, giai đoạn yên lặng, học riêng với Chúa.
Tất cả chúng ta cần đi vào sa
mạc ở riêng với Chúa để học hỏi với Ngài. Tất
cả chúng ta cần đi qua xứ A-ra-bi ở riêng với
Chúa thường xuyên để học với Ngài. Môi-se
học trong đồng vắng bốn mươi năm. Chúa
Giê-xu trước khi thi hành chức vụ đã trong đồng
vắng bốn mươi ngày, bốn mươi đêm. Chúng
ta đều biết sự cần thiết của việc dành thì
giờ ở riêng với Chúa, nhưng bỏ qua thì giờ ở
riêng với Chúa cũng là cám dỗ lớn nhất của người
hầu việc Chúa. Đây là cám
dỗ lớn cho người hầu việc Chúa vì chúng ta
bận rộn nhiều điều, không có thì giờ ở riêng
với Chúa. Lời Chúa dạy
qua Phao-lô cho chúng ta thấy rằng người làm công
trong vườn nho của Chúa chẳng những là người
được Chúa gọi nhưng cũng là người được Chúa
dạy. Chúng ta không thể
được Chúa dạy nếu chúng ta không ở riêng với
Chúa, dành thì giờ cho Chúa dạy chúng ta.
Cũng có thể Chúa đang dẫn chúng ta qua một
kinh nghiệm sa mạc, một
nỗi cô đơn cùng cực không ai có thể thông cảm,
chỉ học được với Chúa mà thôi. Đó
là những kinh nghiệm cần thiết cho người làm công
trong vườn nho của Đức Chúa Trời. Người
làm công trong vườn nho là người được Chúa
gọi, được Chúa dạy và người làm công trong vườn
nho cũng là người: III.
Được Chúa Dùng (21-24) “Sau
lại tôi đi qua các miền thuộc xứ Si-ry và xứ
Si-li-si, bấy giờ tôi còn là kẻ lạ mặt trong các
Hội thánh tại xứ Giu-đê là các Hội ở trong Đấng
Christ.
Chỉn các Hội đó có nghe rằng
người đã bắt bớ chúng ta ngày trước nay đang
truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá.
Vậy thì các Hội đó vì cớ tôi
khen ngợi Đức Chúa Trời” (c. 21-24). Chúa
dùng Phao-lô như thế nào?
Trước
hết, Chúa dùng Phao-lô như một nhân chứng sống.
Chúng ta thấy điều đó trong câu 23: “Các Hội
đó có nghe rằng người đã bắt bớ chúng ta ngày
trước nay đương truyền đạo mà lúc bấy giờ
người cố sức phá.” Chúng ta
thấy đây là cả một sự thay đổi hoàn toàn.
Trong câu 13, Phao-lô nói: “Anh em đã nghe lúc
trước tôi theo giáo Giu-đa,
cách cư xử của tôi là thể nào. Tôi bắt bớ và
phá tán hội thánh của Đức Chúa Trời quá
chừng” (destroy the Một
con người hung bạo bây giờ đi giảng đạo Chúa,
cả một sự thay đổi hoàn toàn. Người
bắt bớ Hội Thánh, người phá hại Hội Thánh bây
giờ là người giảng Tin Lành.
Người ta nói về Phao-lô là
người “truyền đạo mà lúc bấy giờ người
cố sức phá.”
Chữ “truyền” ở đây là “giảng Tin Lành”
và chữ “đạo” là “đức tin.” Bản NIV
dịch là “preach the faith.”
Ông giảng niềm tin của ông, đức tin của
ông, con người của ông.
Một con người được Chúa kêu gọi, được
Chúa dạy và bây giờ trở thành một con người
sống, một nhân chứng sống cho niềm tin của mình.
Chúa đã dùng Phao-lô như một nhân chứng
sống, không phải Phao-lô chỉ đứng giảng nhưng
thấy người đó, anh chàng đó, một người xấu
xa tội lỗi phá hội thánh của Chúa bây giờ là
người xây dựng hội thánh của Chúa, một nhân
chứng sống hoàn toàn. Vì vậy,
một người được Chúa dùng là người Chúa dùng
như một nhân chứng sống cho Chúa. Các
đầy tớ của Chúa hầu việc Chúa lâu năm ở
Việt Một
trong những điều kiện để làm giám mục, mục sư
Phao-lô nói trong I Ti-mô-thê đoạn 3 câu 7 là:
“Người giám mục phải được người ngoại làm
chứng tốt cho kẻo bị sỉ nhục và mắc bẫy ma
quỉ.” Đời sống của chúng ta vô cùng quan
trọng, chúng ta có hầu việc Chúa như một nhân
chứng sống hay không. Người chung
quanh, người ngoài, người gần gũi với chúng ta
nhất nói như thế nào về chúng ta? Họ nói về
Phao-lô như thế nào? Đây
là người phá Hội Thánh bây giờ là người xây
dựng Hội Thánh. Chúng ta cần hầu việc Chúa
như một nhân chứng sống với đức tin và với
đời sống của mình. Chúa
dùng chúng ta chẳng những như một nhân chứng
sống nhưng Chúa cũng dùng ông Phao-lô và cũng dùng
chúng ta để Chúa được ca ngợi.
Chúng ta thấy điều nầy trong câu 24: “Vậy thì,
các Hội đó vì cớ tôi khen ngợi Đức Chúa
Trời.” Qua tôi Chúa được vinh quang! Quí vị có
thường đi đọc các mộ bia
trong các nghĩa địa không? Mỗi mộ bia
có những câu, những chữ nói về đời sống
của người đã nằm xuống. Những năm trước có
một hãng làm pizza tên là Một
trong những thảm cảnh lớn nhất trong thời đại
chúng ta trên đất nước nầy là danh Chúa bị
phỉ báng, bị chế nhạo và bị chê cười vì
những người trong hàng giáo phẩm.
Không phải là người tin Chúa nhưng
người ở trong hàng giáo phẩm, những người lãnh
đạo tinh thần.
Chẳng những trong các giáo
hội bạn vì những người lãnh đạo tinh thần đã
làm những điều chúng ta không tưởng tượng
nổi, nhưng cũng là điều xảy ra thường xuyên
với những người được phong chức, những người
được tiếp nhận thánh chức như quí vị hôm
nay. Mỗi ngày trên đất Mỹ nầy có hằng
trăm người ở trong hàng giáo phẩm, những người
lãnh đạo tinh thần sa ngã,
gục ngã, danh Chúa bị chê cười. Vì cớ tôi mà
danh Chúa bị phỉ báng! Đối
với Phao-lô, các Hội đó vì cớ tôi khen ngợi Đức
Chúa Trời. Là
người làm công trong vườn nho của Chúa, Chúa
phải được ca ngợi.
Qua chức vụ Mục Sư của
quí vị, qua chức vụ của tôi người ta thấy điều
gì? Người ta thấy tôi hay là thấy Chúa? Danh
của Chúa có được ca ngợi vì chức vụ của tôi
không? Nếu
Chúa đã gọi chúng ta, Chúa đã dạy chúng ta, qua
chúng ta chỉ một điều cần xảy ra và phải
xảy ra đó là danh Chúa được vinh quang. Vì
cớ tôi mà người ta khen ngợi Đức Chúa Trời. Ba
mươi hai năm trước, tôi đứng chỗ của quí vị
mà quí vị đứng hôm nay.
Hôm ấy vị mục sư giảng gì, hôm
nay tôi không còn nhớ và tôi cũng không mong quí
vị nhớ bài giảng của tôi.
Nhưng điều tôi không thể quên được là tôi
thưa với Chúa như thế này: “Lạy Chúa, tại sao
lại là con? Tại sao Chúa lại chọn con vào chức
vụ nầy? Con không xứng đáng và con không có
sức nữa!” Từ đó cho đến
nay, cũng có lúc tôi nản lòng, muốn bỏ chức
vụ, nhưng có một điều luôn luôn đến với tôi.
Tôi nghe tiếng Chúa nói: “Ta đã để riêng con
từ lúc còn trong lòng mẹ.
Ta đã lấy ân điển gọi con, Ta đã bày
tỏ chính mình ta cho con! Ta muốn con rao truyền Ta
cho người khác biết.
Con có muốn Ta được vinh quang không?” Tôi
vẫn còn học với Chúa và tôi cầu xin Chúa giúp
tôi tiếp tục bước đi với Ngài cho đến cùng.
Đối với người làm công trong vườn
nho, Chúa chỉ cần một điều và một điều mà
thôi và quí vị biết điều đó là gì.
Cuối cùng, chúng ta chỉ mong được nghe Chúa
phán: “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia,
được lắm. Hãy
đến hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi!”
Trung tín cho đến cùng, đó là điều cần hơn
hết! Hôm
nay là một ngày quan trọng trong đời sống của
quí vị, quan trọng không phải vì quí vị nhận
chức vụ mục sư nhưng đây là ngày quí vị
tiếp nhận ân sủng của Chúa, ngày quí vị đáp
ứng lại tiếng gọi của Chúa.
Đây là ngày quí vị học với Chúa
và để cho Ngài sử dụng. Tôi chúc mừng quí
vị không phải là vì chức vụ mục sư, nhưng tôi
chúc mừng quí vị là những người làm công trong
vườn nho của Chúa chúng ta: “Hãy chuyên tâm cho
được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm
công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng
giảng dạy lời của lẽ thật” (II Ti-mô-thê
2:15). Như
người làm công không chỗ trách được, người làm
công trong vườn nho của Đức Chúa Trời.
Xin Chúa ban phước cho quí vị. Mục
Sư Nguyễn Thỉ |
|
|
|