Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Nhận Định

 

 

   

 

     

 

 

 

 

30 Năm Trên Đất Khách

       Nói về ảnh hưởng hay những đóng góp của tín hữu Tin Lành Việt Nam trên đất Mỹ trong 30 năm qua sẽ không đầy đủ, nếu không nói đến niềm tin của họ.  Về cơ bản, Tin Lành không phải là một tôn giáo theo nghĩa thông thường, nhưng đúng ra là những mối tương giao– tương giao với Chúa và với người, với thân hữu cũng như với những tín hữu khác trong cộng đồng Hội Thánh.  Hội Thánh là một cấu trúc mầu nhiệm được minh họa qua hình ảnh các tín hữu là chi thể của một thân mà Chúa Cứu Thế Giê-xu là đầu. 

Niềm tin vào các chân lý trong Kinh Thánh chi phối nếp sống của tín hữu Tin Lành, ảnh hưởng đến các quyết định, cách cư xử và thái độ ứng phó với hoàn cảnh.  Kinh Thánh vì vậy nắm giữ vai trò chính yếu trong nếp sống đạo.  Không kể một số biệt lệ lúc nào và ở đâu cũng có, một trong những ấn tượng của chúng ta với dân bản xứ là “người Mỹ chân thật, tốt bụng và sẵn lòng giúp đỡ”.  Đây là ảnh hưởng của các nguyên tắc Kinh Thánh trong xã hội Mỹ.  Tín hữu Tin Lành Việt Nam cũng chia xẻ ảnh hưởng này, tuy cách thể hiện có phần khác do khác bối cảnh văn hóa và xã hội, nhưng về căn bản, có thể nói đó là đặc trưng của tín hữu Tin Lành khắp nơi.

Tuy quan tâm đến nếp sống đạo, tránh lối sống buông thả không phù hợp với các nguyên tắc đạo đức trong Kinh Thánh, tránh những thói quen tổn hại cho sức khoẻ: hút thuốc, uống rượu, bài bạc… nhưng tín hữu Tin Lành khẳng định rằng không phải vì sống đạo đức mà họ được hưởng thiên đàng.  Nếp sống đạo không phải là điều kiện mà là kết quả của sự cứu rỗi.  Nói cách khác, tín hữu Tin Lành tin rằng do ân sủng, bởi đức tin họ được Chúa cứu rỗi, nghĩa là được Đức Chúa Trời kể là công chính, được Ngài chấp nhận, được biến đổi tâm hồn để có thể sống cuộc sống tốt lành.  Họ không tu trì hay làm lành để được siêu thoát,  nhưng  trái lại, vì đã được giải cứu khỏi án phạt trầm luân và xích xiềng tội lỗi, có sức sống thiêng liêng từ Chúa nên mới có được năng lực sống thiện lành và tuân giữ Lời Chúa.

Như đã nói, trọng tâm của Tin Lành là các mối tương giao: Tương giao với Chúa và với tha nhân.

Trước hết là tương giao với Chúa.  Đây là mối quan hệ đầu tiên phải có khi trở thành tín hữu.  “Biết Chúa” không chỉ là kiến thức về Chúa nhưng còn là kinh nghiệm tương giao với Chúa trong cuộc sống, khởi đầu bằng biến cố “tái sinh.”  Đây chính là thời điểm một người nhận được sự sống thiêng liêng từ Chúa và được vĩnh viễn nối kết với nguồn sống đó.  Hành trình của một tín hữu khởi đầu từ lòng tin đặt nơi Chúa như lòng tin của trẻ thơ.   Đó là lúc một người tin rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chịu chết trên thập hình chuộc tội cho mình.  Sứ điệp Phúc Âm ngắn nhất được Sứ đồ Phao-lô công bố cho viên cai ngục ở thành Phi-líp là “Hãy tin Chúa Giê-xu thì ông và gia đình ông sẽ được cứu rỗi” (Công Vụ Các Sứ Đồ 16: 31 cf. Rô-ma 10: 9-10).  Lần hồi niềm tin đó được củng cố vững chắc hơn khi biết Chúa nhiều hơn.

Kinh Thánh là phương tiện giúp tín hữu biết Chúa mỗi ngày rõ hơn và mối tương giao với Chúa theo thời gian trở nên sống động và sâu đậm hơn.  Mối tương giao này chính là nguồn năng lực thiêng liêng của tín hữu mà người đứng ngoài niềm tin không thể lý giải được, nhưng tất nhiên có thể quan sát đời sống tín hữu và nhận ra không mấy khó khăn. 

Lòng tin của tín hữu Tin Lành không đóng khung như tín lý nhưng sinh động và tăng trưởng theo thời gian.  Lòng tin đó được xác định bằng các chân lý Kinh Thánh, hay cô đọng hơn, qua bản tín điều các sứ đồ.  Tuy nhiên, tín điều hay giáo lý không phải là đối tượng của lòng tin mà chỉ là phương tiện phát biểu lòng tin đặt vào đối tượng là Chúa.  Như vậy, lòng tin đặt nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu thể hiện qua mối tương giao mà nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc chu đáo, sẽ ngày càng sâu đậm hơn, đem lại đổi thay cho cả tâm hồn và nếp sống tín hữu.  Chính mối tương giao sống động này giúp tín hữu có năng lực sống Phúc Âm.  Chúng ta có thể dùng hình ảnh một người cha gương mẫu trong gia đình để minh họa cho điều vừa trình bày.  Khi con cái hàng ngày được trò chuyện, gần gũi cha, ảnh hưởng tốt của cha thật hiển nhiên trong cách sống của con cái.  Nhưng nếu vì hoàn cảnh những đứa con đó không còn được gần cha nữa thì dù vẫn nhớ những lời cha khuyên dạy (tương ứng với tín điều), nhưng những lời đó dường như không mạnh đủ để giúp các con tuân giữ như khi có sự hiện diện của cha.

Khi nói về mối tương giao của tín hữu với Chúa, cần nói thêm rằng đây là mối tương quan cá nhân, cho nên có thể rất khác nhau về chiều sâu, về phạm vi.  Vì thế, mức độ trưởng thành cũng thay đổi khá nhiều tùy từng cá nhân, đưa đến điều không thể tránh được là có những người cả đời “theo đạo” mà đời sống tin kính vẫn ở mức ấu trĩ!

Mối tương giao thứ hai là với tha nhân, điển hình là với các tín hữu trong hội thánh.  Hội thánh trong nghĩa đơn giản và thực tiễn nhất là tập thể các tín hữu tại một địa phương, thường xuyên hội họp với nhau để thờ phượng Chúa và để công bố tin mừng cứu rỗi cho những người chưa biết Chúa.  Trong nghĩa thiêng liêng,  hội thánh được coi là “nhiệm thể của Chúa Cứu Thế,” các tín hữu là các chi thể và Chúa Giê-xu là đầu.

Tín hữu Tin Lành thường gắn bó với hội thánh.  Ngoài việc đi nhóm họp thờ phượng Chúa hàng tuần, họ còn có những sinh hoạt tiêu biểu khác qua các buổi thông công cầu nguyện và học Kinh Thánh định kỳ dành cho các lứa tuổi khác nhau:  thanh thiếu niên, tráng niên, lão niên… Gắn bó với hội thánh địa phương giúp hầu hết các tín hữu quen biết, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và cầu nguyện cho nhau, xây dựng nên một cộng đồng bền chặt.  Đây cũng là một trong những yếu tố giúp các tín hữu Tin Lành có thể duy trì nếp sống đạo trong một xã hội băng hoại. 

Hội thánh là định chế được Chúa thiết lập trên trần gian, được vận hành do quyền năng Đức Thánh Linh, là Đấng ban các “ân tứ thiêng liêng” cho mọi thành viên để qua đó, họ có thể góp phần trong việc xây dựng, phát triển hội thánh.  Vì vậy, gắn bó với hội thánh địa phương, tín hữu Tin Lành nhận được ân ích qua sự đóng góp “tài năng, ân tứ  thiêng liêng” của các thành viên khác, mà đối lại, chính mình cũng góp phần trong đó.

Cho đến nay, sau ba mươi năm, hàng trăm hội thánh Tin Lành người Việt  thuộc các hệ phái đã được thành lập và duy trì trên khắp thế giới.  Ngoài những đóng góp vào việc xây dựng cộng đồng họ đang sống bằng lao tâm, lao lực như bao nhiêu người khác, tín hữu Tin Lành còn có những đóng góp độc đáo về phương diện tâm linh đó là chia xẻ tin mừng cứu rỗi cho đồng hương.  Trong niềm tin và trong lý tưởng của tín hữu, đây là đóng góp quan trọng nhất để tuân hành Đại Mạng Lệnh của Chúa Cứu Thế Giê-xu, “đi khắp thế gian rao giảng tin lành cho mọi người.”

Chỉ trong vòng mấy tháng sau biến cố tháng 4/1975, nhiều tín hữu Tin Lành di tản đã qui tụ lại thành lập Hội Thánh.  Có những Hội Thánh đã được thành lập rất sớm từ tháng 6/1975 và cho đến nay, trong Giáo Hạt Việt Nam thuộc Tổng Hội C&MA (The Christian and Missionary Alliance) đã có trên 87 hội thánh trong 23 tiểu bang, đang cùng với hàng trăm Hội Thánh trong các giáo phái Tin Lành khác, nỗ lực chia xẻ tin mừng của Chúa Cứu Thế Giê-xu trên đất khách.

Cũng từ biến cố tháng Tư năm 1975, một nhóm mục sư và tín hữu Tin Lành di tản đã họp lại thực hiện chương trình phát thanh về quê hương lấy tên là “Chương Trình Phát Thanh Nguồn Sống” trong hệ thống phát thanh của Đài Viễn Đông, mỗi ngày phát thanh 3 tiếng rưỡi, trong đó có 30  phút đọc Kinh Thánh cho thính giả ghi chép.  Nhiều người còn nhớ đây là chương trình đem tình yêu, chân lý và hy vọng cho đồng bào ở quê nhà trong những ngày biến động.  Để có thể thấy được sức mạnh an ủi của chương trình phát thanh này, cần phải  hồi tưởng lại bối cảnh thời điểm đó: nước mất nhà tan, gia đình ly tán, mọi người sống trong hoang mang sợ hãi.  Hiện tại thiếu thốn, đói nghèo, tương tai mịt mù vô định, hàng ngày phải sống với vô số khẩu hiệu và với những lời hứa hão huyền, người dân Việt Nam thực sự rơi vào khủng hoảng, khủng hoảng chính trị, khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng lòng tin.  Hàng trăm nghìn người liều chết tìm đường bỏ nước ra đi, trong đó một số lớn không bao giờ đến được bến bờ.  Những người còn ở lại sống trong một  đất nước tự cô lập với thế giới bên ngoài.  Đây chính là thời gian chương trình phát thanh Nguồn Sống có cơ hội đóng góp âm thầm nhưng hữu hiệu nhất:  đều đặn mỗi ngày qua làn sóng điện, đem tình yêu của Chúa Giê-xu cho những tâm hồn đau thương, tan vỡ, đem chân lý thay cho những lời hô hào trống rỗng và đem hy vọng cho cuộc sống không ngày mai.  Có thể nói trong những tháng năm cả nước sống trong căng thẳng, lo lắng, hoang mang, chương trình phát thanh Nguồn Sống đã trở thành khung cửa đưa ánh sáng thiêng liêng từ trời vào những cuộc đời tăm tối, tù hãm, đưa tiếng nói Phúc Âm mỗi buổi sớm, tối đến an ủi những gia đình may mắn còn giữ được “radio”.  Nhiều người đã âm thầm tin Chúa, âm thầm phó thác cuộc đời cho Chúa trong những tháng ngày bi thảm.  Suốt ba mươi năm qua, và cho đến hôm nay chương trình phát thanh Nguồn Sống vẫn tiếp tục sứ mạng đem tình yêu, chân lý và hy vọng cho những tâm hồn khô hạn, và đó là một phần đóng góp quan trọng cho quê hương của người Tin Lành di tản, dù rằng ảnh hưởng và kết quả của nỗ lực kiên trì đó cho đến nay không ai có thể biết hết được.

Là tín hữu Tin Lành, bạn đang đứng ở đâu trong những đóng góp cho Hội Thánh, cho các cơ quan truyền thông Tin Lành, cho những nỗ lực phổ biến tin mừng cho cộng đồng bạn đang sống và cho quê hương?  Xin bạn dâng lên Chúa một lời cầu nguyện cho những nỗ lực trên và sau đó lắng đọng tâm hồn, lắng nghe Chúa nói gì với lòng bạn.

Thông Công