![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Một
Lần Hội Ngộ
|
|
|
|
Sau
Hội Ðồng Giáo Hạt lần thứ 30
vào
đầu tháng 7, 2005 nhiều người
đồng ý rằng đây là một Hội Ðồng đầy
ấn tượng mà thời điểm là một trong những yếu
tố then chốt. Ðối
với con người, thời gian
hàm chứa nhiều bí mật, nhưng trong mọi
hoạch định của Ðức Chúa Trời, thời gian tràn đầy
ánh sáng. Vào
thời điểm đó, qua Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ với
Mục sư Nguyễn Anh Tài là Giáo Hạt Trưởng, Ðức Chúa
Trời đã qui tụ về khuôn viên đại học Azusa
Pacific University ở miền Nam California những người
tin kính Chúa từ khắp nước Mỹ, Canada, Úc Châu, Âu
Châu và Việt Nam. Vào
thời điểm đó Ðức Chúa Trời đã cho có một
cuộc hội ngộ đặc biệt
trong đó có Ban Thường Vụ Tổng Liên
Hội, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vừa được bầu lên
trong nhiệm kỳ mới, Hội
Trưởng Tổng Hội C&MA, Mục Sư Gary Benedict vừa
đắc cử, và cũng đặc biệt không kém đó là 43
cựu giáo sĩ tại Việt Nam đã nhận lời mời về
tham dự khiến cho cuộc hội ngộ này mang một ý nghĩa
lịch sử đặc biệt. Với
chủ đề Dòng Sông Phước Hạnh dựa trên Thi Thiên
46:4 hình dung con sông Tin Lành phát nguyên từ ngôi Ðức
Chúa Trời
do các giáo sĩ khơi dòng chảy về Việt
Nam gần một thế kỷ trước, rồi trong biến cố
1975, dòng sông ấy đã theo những bước chân di tản
chảy tràn ra khắp năm châu.
Ba mươi năm trước không ai có thể mường
tuợng được khung cảnh hôm nay, nhưng
chúng ta tin rằng tất cả vốn đã nằm
trong chương trình kỳ diệu của Chúa. Ý
nghĩa lịch sử của cuộc hội ngộ này không chỉ
giới hạn trong mấy ngày hội đồng, nhưng còn hàm
chứa trong cuộc đời của tất cả những người
tham dự.
Nhìn những mái tóc bạc và những nếp nhăn trên
gương mặt các cựu giáo sĩ Việt Nam ngồi dự Hội
Ðồng, hồi tưởng lại ít nhất là ba, bốn mươi năm
trước – chúng ta thấy lúc đó họ ở tuổi trung niên
hay còn là những thanh niên, thiếu nữ đầy nhiệt tâm,
yêu mến Chúa, sẵn sàng rời bỏ một đất nước
sung túc, thanh bình ra đi đem tin mừng đến cho quê hương
Việt Nam đầy khói lửa chiến tranh.
Họ đã hy sinh cả thời thanh
xuân trên quê hương chúng ta.
Nơi đó có người đã sinh ra và
cũng có những người đã nằm xuống.
Họ đã rất vất vả học ngôn ngữ chúng ta và
sau bao nhiêu năm
xa rời cánh đồng truyền giáo họ vẫn
chưa quên. Họ
được gặp lại những đồng lao
Việt Khi
nhận được thư Giáo Hạt mời dự Hội Ðồng và
Kỷ Niệm 30 năm thành lập Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ,
nhiều giáo sĩ đã mau chóng nhận lời ngay.
Dù Giáo Hạt hứa sẽ đài thọ mọi chi phí di
chuyển, ăn ở, nhưng có người sau khi mua vé máy bay
bằng thẻ tín dụng đã phải xin bồi hoàn ngay vì
họ không có ngân khoản phụ trội đó trong trương
mục ngân hàng! Hơn
ba mươi năm qua, sau khi rời Việt Nam về Mỹ, nhiều
giáo sĩ chưa có cơ hội gặp lại bạn đồng lao cho
nên đây là cơ hội, mà đối với một vài người có
thể là cơ hội cuối cùng được gặp nhau trên đất.
Trong chương trình Ðêm Truyền Giáo, ca đoàn giáo
sĩ 43 người hầu hết trên tuổi cổ lai hi lên trước
Hội Ðồng hát bài thánh ca mà ca trưởng, Mục Sư
T.G. Mangham, cựu Hội Trưởng Giáo Sĩ tại Việt Nam
bảo rằng họ thường hát trong các Hội đồng Giáo
Sĩ, và đã hát trước khi rời Sài-gòn năm 1975. Cùng
có mặt trong cuộc hội ngộ lịch sử này là các tôi
tớ Chúa từ Việt Nam, trong đó có Mục sư Hội Trưởng
Thái Phước Trường cùng toàn thể Ban Thường Vụ
Tổng Liên Hội và khá đông các tôi tớ Chúa khác.
Nếu chỉ gặp gỡ qua mấy câu chào hỏi chúng
ta khó có thể hình dung được những gian lao
chồng chất trên đời sống và chức vụ của các tôi
tớ Chúa trong suốt ba, bốn thập niên qua.
Các tôi tớ Chúa từ Việt Nam là bằng chứng
sống về lòng thành tín của Ðức Chúa Trời, Ðấng
đã bảo tồn họ và gia đình, giúp họ kiên trì
trong chức vụ dù trải qua những tháng năm đằng đẵng
trong lửa thử nghiệm.
Nhiều tôi tớ Chúa không nghĩ rằng sẽ có ngày
được đặt chân lên đất tự do, tham dự một Hội
Ðồng mà trong lòng không phải nao nao lo sợ.
Nếu chưa từng sống thì không
ai có thể hiểu được những bức xúc mà người
hầu việc Chúa ở Việt Nam phải chịu đựng suốt
30 năm qua. Ðó
không chỉ là những cấm đoán hành chánh phi lý và
sai lầm, nhưng còn là những thống khổ tinh thần khi
bị chính quyền coi hay cố tình coi là thành phần
nguy hiểm trong xã hội, và tất nhiên, hậu quả của
cái nhìn đó là những hệ lụy tiêu cực đầy bất
lợi cho những người muốn sống nhân đức cho Chúa,
cho Hội Thánh và tha nhân. Những
thành phần trên, cùng với hàng nghìn tín hữu và đại
biểu 89 hội thánh Tin Lành người Việt trên nước
Mỹ, đã được Ðức Chúa Trời qui tụ về đây,
trong cuộc hội ngộ lịch sử này để ôn lại
những việc diệu kỳ Ðức Chúa Trời đã làm cho
Hội Thánh và quê hương Việt Nam, cho Giáo Hạt Việt
Nam, để có thể thấy Dòng Sông Phước Hạnh đã và
đang âm thầm chuyển động như thế nào.
Những sứ điệp Lời Chúa được rao giảng
trong các giờ tĩnh nguyện sáng sớm, trong các buổi
thờ phượng, hội họp, trong hội đồng các Ðoàn, cùng
những lời chứng thuật
lại những kinh nghiệm đi với Chúa đã bồi
bổ sức lực tâm linh cho những tâm hồn trông đợi.
Một trong những lời chứng đã “bắt sống”
tôi do Mục sư Donald Wiggins, Phó Hội Trưởng Hội Thánh
Nội Ðịa thuật lại trong bài giảng Lễ Khai Mạc
Hội Ðồng. Mới
19 tuổi, khi còn là sinh
viên của trường
Kinh Thánh Crown College, vào một ngày khoảng đầu năm
1968, vừa bước vào giảng đường ông thấy khung
cảnh im lặng và trang nghiêm một cách khác thường. Ông
Viện Trưởng và các giáo sư đều có mặt.
Sau khoảnh khắc ngỡ ngàng đó, các sinh viên
được thông báo là 5 giáo sĩ của Tổng Hội vừa
bị giết tại Ban Mê Thuột trong cuộc tấn công Tết
Mậu Thân. Từ
ngày ấy ông đã hiểu rằng đó là giá để làm giáo
sĩ, và vâng lời Chúa là việc khó vô cùng!
Trong
chương trình Lễ Kỷ Niệm 30 năm cũng có một tiết
mục khơi lại ký ức về dòng sông phước hạnh khi
hình ảnh một số các giáo sĩ, các Mục Sư Việt Nam
được chiếu lên, những người đã qua đi và những
người còn ở lại đã “hội ngộ” trong một
khoảnh khắc thiêng liêng khi tất cả các ngăn cách
của không gian và thời gian được xoá bỏ.
Mọi người trong hội trường
Felix hòa nhập trong một tâm trạng hồi tưởng vừa
vui mừng vừa cảm động thật khó tả. Ngoài
ra trong dịp Hội Ðồng này còn bao nhiêu cuộc
“hội ngộ” nho nhỏ khác giữa những người tin kính
Chúa, trong các phòng nhóm, tại hội trường, tiền
sảnh, trong phòng ăn, trên bãi đậu xe…và điều tôi
tin chắc là “khi những người kính sợ Chúa nói cùng
nhau thì Chúa để ý nghe…” (Ma-la-chi 3: 16) Nguyên
Ðình
|
|
|
|