![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo
Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Phụ Nữ Trong Kinh Thánh |
|
|
|
Bà
Mi-ri-am Kính
thưa quý độc giả, trong trang Phụ Nữ hai số Thông
Công vừa qua, chúng tôi trình bày về bà Mi-ri-am,
một nhân vật trong Thánh Kinh Cựu Ước.
Mi-ri-am là chị của hai nhân vật nổi
tiếng trong lịch sử Do Thái:
thầy tế lễ A-rôn và tiên tri Môi-se.
Bà Mi-ri-am cũng là một nữ
tiên tri. Lúc
đầu bà đứng chung, nâng đỡ chức vụ của A-rôn
và Môi-se, nhưng sau đó vì ganh tị, bà chỉ trích
và phàn nàn về chức vụ Chúa giao cho Môi-se. Vì
lỗi lầm đó, bà Mi-ri-am bị Ðức Chúa Trời
quở trách, khiến bị bệnh phung.
Trang Phụ Nữ kỳ này sẽ
trình bày tiếp về những diễn biến xảy ra sau
đó. Vì
ganh tị Mi-ri-am bị Chúa sửa phạt Khi
Ðức Chúa Trời nghe những lời Mi-ri-am và A-rôn
chỉ trích Môi-se, Ngài gọi ba người đến hội
mạc.
Chúa ngự xuống trong trụ mây và phán:
‘Tôi tớ Môi-se ta không có như vậy, người
thật trung tín trong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng
người miệng đối miệng một cách rõ ràng, không
lời đố, và người thấy hình Ðức Giê-hô-va.
Vậy các ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi
tớ ta, là Môi-se sao?’
Như vậy, cơn thạnh nộ
của Ðức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng hai người;
Ngài ngự đi. Khi
trụ mây rút khỏi trên đền tạm thì kìa, Mi-ri-am
đã bị phung trắng như tuyết.
A-rôn xây lại phía Mi-ri-am,
thấy người đã có bệnh phung (Dân
số ký 12:7-10). Phung
là một bệnh đau đớn và khó chữa.
Theo lời Chúa truyền dạy con dân Ngài ngày xưa,
phung là bệnh ô uế, người bị phung phải
sống riêng rẽ, cách biệt với mọi người:
“Người đã bị vết phung rồi phải xé
quần áo, để đầu trần, che râu lại và la
rằng: Ô uế, ô uế! Trọn lúc nào
người có vít thì sẽ bị ô uế, phải ở một mình
ngoài trại quân” (Lê-vi ký Khi
Mi-ri-am và A-rôn nói xấu Môi-se, người của Ðức
Chúa Trời; Môi-se không có phản ứng nào, cũng không
đem thưa với Chúa nhưng Ngài đã nghe và biết
tất cả. Chúa
truyền cả ba người ra đến hội mạc, là chỗ
con dân Chúa tập họp để thờ phượng và nghe Chúa
phán dạy. Rồi
Ngài gọi A-rôn và Môi-se đến gần và bày tỏ
phản ứng của Ngài.
Trước hết, Chúa bênh vực
Môi-se và xác nhận rằng ông là người Ngài đã
chọn để truyền phán với dân chúng.
Chúa cho biết Môi-se được
đặc ân nói chuyện trực tiếp với Chúa và được
nhìn thấy hình dạng của Ngài.
Ðó là một đặc ân vô cùng
lớn lao, vì mọi người đều biết không ai nhìn
thấy Ðức Chúa Trời mà được sống.
Sau đó Chúa quở trách A-rôn và Mi-ri-am: “Các
ngươi không sợ mà nói hành kẻ tôi tớ ta là Môi-se
sao?” Và khi Chúa ngự đi thì Mi-ri-am
bị phung trắng cả người.
Hình
phạt Chúa dành cho Mi-ri-am cho thấy ganh tị và nói
xấu người hầu việc Chúa là
tội nghiêm trọng, không thể tránh
khỏi sự sửa phạt của Chúa.
Là con dân Chúa, chúng ta không nên xúc phạm
đến những người được Chúa chọn để hầu
việc Ngài, để khuyên bảo và hướng dẫn chúng
ta, nhất là nói những điều không có thật,
thiếu xây dựng và
tổn thương đến danh dự và chức
vụ của những người đó.
Ganh tị và nói xấu là điều
sứ đồ Phao-lô thường nhắc nhở tín hữu trong
Hội Thánh phải tránh.
Ông viết: “Chớ có một lời dữ nào ra
từ miệng anh em … Phải bỏ khỏi anh em những
sự cay đắng, buồn giận, tức mình, kêu rêu,
mắng nhiếc, cùng mọi điều hung ác” (Ê-phê-sô
4:29a & 31). “Ðừng
nói hành ai, chớ có một lời tục tĩu nào ra từ
miệng anh em” (Cô-lô-se 3:8b).
“Chớ nói xấu ai, chớ
tranh cạnh, hãy dong thứ, đối với mọi người
tỏ ra một cách mềm mại trọn vẹn” (Tít 3:2).
“Chớ làm điều chi vì lòng
tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường,
coi người khác như tôn trọng hơn mình” (Phi-líp
2:3). Môi-se
được Kinh Thánh xác nhận là người khiêm nhường,
khiêm hòa hơn mọi người.
Ông cũng được Ðức Chúa Trời
khen là “tôi tớ trung tín trong nhà của Ngài.”
Khi Môi-se bị Mi-ri-am và A-rôn
nói xấu, Chúa đã trực tiếp bênh vực ông.
Ðiều này cho thấy, những
người khiêm nhường, trung tín hầu việc Chúa
sẽ được Chúa bênh vực và ban phước.
Sứ đồ Gia-cơ viết: “Ðức Chúa Trời
chống cự kẻ kiêu ngạo nhưng ban ơn cho kẻ khiêm
nhường” (Gia-cơ 4:6b).
Vì Môi-se khiêm nhường, Chúa
đã bênh vực ông, quở trách A-rôn và trừng
phạt Mi-ri-am.
Khi bị nói hành và chỉ trích,
Môi-se đã không tìm cách giải thích hay biện minh
nhưng chính Chúa đã bênh vực và bảo vệ ông.
Khi chúng ta hầu việc Chúa
cách trung tín và khiêm nhường mà bị người khác
chỉ trích, ganh tị và nói xấu, chúng ta cần noi
gương Môi-se, đừng mất thì giờ tìm cách phân
trần, giải thích, vì chính Chúa sẽ bênh vực và
làm sáng tỏ mọi điều cho chúng ta. Vì
ganh tị, Mi-ri-am mất ơn Chúa
Là chị của A-rôn và Môi-se,
bà Mi-ri-am có một vị trí quan trọng bên cạnh
hai người em được Ðức Chúa Trời trọng dụng.
Môi-se và A-rôn cũng quý trọng Mi-ri-am, để
bà ở bên cạnh, làm những gì bà có thể làm để
giúp hai người trong trách nhiệm lãnh đạo con dân
Chúa. Mi-ri-am
cũng được Chúa dùng một cách đặc biệt.
Ngài cho bà ân tứ làm nữ
tiên tri. Bà
viết những bài hát ca ngợi Chúa và hướng dẫn
các phụ nữ trong việc thờ phượng Chúa.
Tuy nhiên, khi được Chúa ban cho ân tứ đặc
biệt, bà Mi-ri-am đã sinh lòng kiêu ngạo.
Bà so sánh chính mình với
vợ của Môi-se, hãnh diện về dòng dõi Do Thái
của mình và xem thường người đàn bà Ê-thi-ô-bi
mà Môi-se đã cưới.
Một tác giả nọ viết:
“Có lẽ Mi-ri-am tự tôn khi thấy bà cũng có
khả năng và ân tứ mà lại phải ở dưới sự lãnh
đạo của em là Môi-se.
Bà nghĩ Chúa cũng có thể
truyền phán với bà để bà truyền lại cho dân
chúng. Ý
nghĩ ganh tị và tự tôn đã ngấm ngầm trong lòng
Mi-ri-am từ lâu nhưng bà chưa có cơ hội hoặc lý
do để nói ra, đến khi Môi-se cưới người vợ
ngoại bang, Mi-ri-am lấy lý do đó để nói xấu Môi-se.”
Nhìn lại lời phàn nàn của Mi-ri-am, chúng
ta thấy bà nói hành Môi-se thật ra là vì ganh tị,
vì Chúa đặt Môi-se vào vị trí quan trọng hơn bà,
chứ không phải vì Môi-se cưới vợ ngoại Do Thái.
Lời nói hành Môi-se về người
vợ da đen chỉ là cớ để Mi-ri-am nói lên nỗi
bất bình và ganh tị trong lòng.
Mi-ri-am kéo A-rôn về phe với mình không
những vì A-rôn gần với bà hơn Môi-se, nhưng cũng
vì biết A-rôn là người không có lập trường,
nhờ đó ý của bà sẽ có thêm người hỗ trợ.
Sự
kiện Ðức Chúa Trời phạt Mi-ri-am mà không phạt
A-rôn cho thấy Chúa biết lòng ganh tị và lời nói
hành phát xuất từ Mi-ri-am chớ không phải từ A-rôn.
Kinh Thánh ghi:
“Mi-ri-am và A-rôn nói hành Môi-se về việc
người nữ Ê-thi-ô-bi mà người đã lấy” (Dân
số ký 12:1), vì có lẽ Mi-ri-am là người xướng
lên lời chỉ trích này.
Khi đối diện với Chúa có lẽ bà Mi-ri-am
rất là run sợ. Run
sợ trước vinh quang của Chúa, trước lời quở
trách của Ngài và khiếp sợ trong đau đớn khi
bệnh phung bao phủ cả thân thể bà.
Kinh Thánh ghi: “Khi trụ mây rút khỏi trên
đền tạm thì kìa, Mi-ri-am đã bị phung trắng như
tuyết. A-rôn xây lại phía Mi-ri-am,
thấy người đã có bệnh phung” (Dân số ký Có
lẽ chúng ta không hiểu tại sao Chúa trừng phạt
Mi-ri-am quá nặng và quá nhanh như thế trong khi bà
mới nói chứ chưa hành động, và cũng chưa ai
nghe nhữõng lời chỉ trích của bà.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào hoàn cảnh con dân Chúa và
trọng trách của Môi-se lúc đó, chúng ta sẽ
hiểu tại sao Chúa phải phản ứng mạnh.
Lãnh tụ Môi-se lúc đó đang dẫn dắt cả
triệu người Do Thái đi trong sa
mạc, trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, khí hậu
khắc nghiệt. Ðã
thế dân chúng lại phàn nàn và chống đối Môi-se
thường xuyên.
Mi-ri-am và A-rôn thuộc hàng
ngũ lãnh đạo, đúng ra phải hỗ trợ Môi-se hết
lòng nhưng hai người lại than phiền và nói xấu
Môi-se. Nếu
Chúa không chận ngay lời phàn nàn của Mi-ri-am và
A-rôn thì hậu quả sẽ rất to lớn, có thể đưa
đến chống đối và hỗn loạn trong dân chúng.
Hơn
nữa, Mi-ri-am và A-rôn là người ở gần Môi-se hơn
cả, họ biết Chúa đã chọn và gọi Môi-se,
biết những khó khăn và thách thức ông phải
chịu đựng để hoàn thành sứ mạng Chúa giao.
Biết tất cả những điều
đó mà họ không nâng đỡ Môi-se lại muốn làm
cho công tác Chúa giao cho ông trở thành khó khăn,
nặng nề hơn.
Chính vì những lý do đó mà Chúa đã bày
tỏ phản ứng cách mạnh mẽ và nhanh chóng.
Nếu chúng ta là những nhân sự trong hội thánh,
biết rõ những gánh nặng và nỗi khó nhọc của
người hầu việc Chúa mà chúng ta không hỗ trợ,
nâng đỡ, lại còn nói xấu, nói hành để gây khó
khăn hơn, Chúa chắc sẽ sửa phạt chúng ta để
việc làm và lời nói của chúng ta không gây ảnh
hưởng tai hại cho hội thánh của Ngài.
Sứ đồ Gia-cơ cảnh cáo
rằng “những người làm thầy sẽ phải chịu xét
đoán càng nghiêm hơn” (Gia-cơ 3:1), đây là điều
đã xảy ra cho Mi-ri-am.
Khi nghe lời phàn nàn của
Mi-ri-am, Ðức Chúa Trời đã phản ứng cách mạnh
mẽ vì Ngài nhìn thấy tấm lòng và ý tưởng không
đẹp của bà đối với tôi tớ trung thành của
Ngài. Chúa
đã bênh vực Môi-se, gọi ông là tôi tớ trung tín
của Ngài và phạt Mi-ri-am với một hình phạt
khiến bà phải xấu hổ với mọi người. Kinh
Thánh cho biết, khi A-rôn thấy chị của ông bị
phung trắng cả người thì thương xót và sợ hãi,
ông kêu cứu với Môi-se và nói: “Ôi, lạy chúa
tôi, xin chớ để trên chúng tôi tội mà chúng tôi
đã dại phạm và đã mắc lấy. Xin chớ để nàng
như một đứa con sảo thịt đã hư hết phân
nửa khi lọt ra khỏi lòng mẹ.”
Môi-se thật là người khiêm
hòa và nhân từ.
Dù chị của ông đã nói
xấu và làm tổn thương ông nhưng ông vẫn yêu thương
chị. Khi
A-rôn năn nỉ, Môi-se đã hết lòng kêu cầu với
Chúa. Kinh
Thánh ghi rằng, “Môi-se bèn kêu van cùng Ðức Giê-hô-va
rằng: Ôi, Ðức Chúa Trời, tôi cầu khẩn Ngài
chữa cho nàng” (Dân số ký 12:13).
Lời cầu xin tha thiết của
Môi-se nói lên lòng thương yêu chân thành của ông
đối với Mi-ri-am.
Ðức Chúa Trời đã đoái nghe và nhậm lời
Môi-se cầu xin nhưng Chúa đáp cùng Môi-se rằng:
Nếu cha nàng nhổ trên mặt nàng, nàng há không
mang hổ trong bảy ngày sao?
Nàng phải cầm riêng ngoài
trại quân trong bảy ngày, rồi sau sẽ được
nhận vào lại” (Dân số ký 12:14).
Ðức
Chúa Trời tha thứ cho Mi-ri-am nhưng bà phải chấp
nhận hậu quả lỗi lầm của mình, bà phải
chịu bệnh phung trong một tuần lễ và phải cách
ly với mọi người trong suốt thời gian đó.
Ðây cũng là hình phạt Chúa dùng để cảnh
cáo con dân Ngài. Sau
này, khi từ biệt dân chúng và nhắc lại những
luật lệ của Chúa, Môi-se đã nhắc lại việc
Mi-ri-am bị phung như sau: “Hãy coi chừng tai vạ
bệnh phung, để gìn giữ làm theo mọi điều mà
thầy tế lễ về dòng Lê-vi sẽ giảng dạy các
ngươi; các ngươi phải coi chừng mà làm y như ta
đã dặn biểu những thầy tế lễ.
Hãy nhớ lại điều Giê-hô-va
Ðức Chúa Trời ngươi đã làm cho Mi-ri-am dọc
đường, khi các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô” (Phục
truyền 24:8, 9).
Dân số ký chương 12 cho
biết, “Mi-ri-am bị cầm riêng ngoài trại quân
trong bảy ngày, dân sự không ra đi cho đến
chừng nào Mi-ri-am được nhận vào lại” (c. 15).
Trong thời gian bị bệnh,
Mi-ri-am phải ở bên ngoài trại của dân chúng, cách
ly mọi người.
Chúng ta không rõ điều gì
xảy ra cho Mi-ri-am trong thời gian này nhưng có lẽ
bà đã có thì giờ để suy nghĩ về hành động
sai quấy của mình và ăn năn hối lỗi.
Trong tuần lễ Mi-ri-am bị phạt, đoàn người
Do Thái phải ngưng cuộc hành trình, chờ khi Mi-ri-am
được sạch phung và được hội nhập lại với
cộng đồng, con dân Chúa mới tiếp
tục đi. Có
lẽ Mi-ri-am đã buồn và ân hận nhiều khi thấy vì
bà mà hành trình của con dân Chúa bị chậm lại
một tuần lễ. Từ
đó trở đi, Kinh Thánh không nhắc đến công
việc hay vai trò của Mi-ri-am trong hành trình của
con dân Chúa, cũng không thấy nói đến ơn nói tiên
tri hay việc bà hướng dẫn các phụ nữ ca hát
thờ phượng Chúa.
Có lẽ bà đã bị Chúa cất đi những đặc
ân và chức vụ đó, vì dù hành trình vào đất
hứa của con dân Chúa còn dài, chúng ta không
thấy bà Mi-ri-am được nhắc đến, ngoại trừ lúc
bà qua đời. Dân
số ký 20:1 ghi về cái chết của Mi-ri-am cách
vắn tắt như sau: “Tháng Giêng, cả hội dân Y-sơ-ra-ên
tới đồng vắng Xin và dừng lại tại Ca-đe.
Mi-ri-am qua đời và được
chôn tại đó.”
Kinh Thánh không cho biết dân
chúng đã làm tang lễ cho Mi-ri-am như thế nào và
có thương khóc bà nhiều ngày hay không.
Chúng ta cũng không rõ Mi-ri-am
hưởng thọ được bao nhiêu tuổi.
Chỉ có một phụ nữ duy
nhất trong Kinh Thánh được ghi số tuổi thọ, là
Sa-ra, vợ của Áp-ra-ham.
Cuộc
đời của Mi-ri-am đã kết thúc một cách đau
buồn.
Bà là người chứng kiến
sự giải cứu lạ lùng Chúa dành cho Môi-se khi ông
là một em bé.
Bà cũng biết rõ Môi-se được Chúa chuẩn
bị trong cung điện Ai cập suốt bốn mươi năm, và
Mi-ri-am cũng có mặt khi Ðức Chúa Trời dùng bao
nhiêu phép lạ để giải cứu và dẫn dắt con dân
Ngài, tại Ai cập cũng như trong đồng vắng.
Bây giờ, đến giai đoạn
cuối cùng, khi con dân Chúa sắp được vào đất
hứa Ca-na-an thì Mi-ri-am qua đời.
Thật ra, không chỉ một mình
Mi-ri-am nhưng cả A-rôn lẫn Môi-se đều không được
vào đất hứa.
Mi-ri-am chết khi đoàn người
Do Thái đến Ca-đe, trong đồng vắng Xin.
Sau đó, khi dân chúng đi
từ Ca-đe đến núi Hô-rơ thì A-rôn qua đời.
Ðức Chúa Trời cho biết A-rôn không được
vào đất hứa vì ông đã không vâng theo
mạng lệnh của Chúa tại Mê-ri-ba (Xuất Chúng
ta học được điều gì qua những chi tiết Kinh Thánh
ghi về bà Mi-ri-am?
Cuộc đời bà Mi-ri-am bắt đầu với những
điều tốt đẹp: bà
là một cô bé khôn ngoan, trưởng thành.
Tuy lúc Môi-se sinh ra Mi-ri-am chỉ mới
khoảng 7, 8 tuổi (như một số nhà nghiên cứu
Kinh Thánh cho biết), nhưng cô được mẹ tin cậy,
giao cho trông chừng em bên bờ sông.
Mi-ri-am được Chúa dùng
trong hoàn cảnh đặc biệt đó, và nàng đã làm
trọn trách nhiệm mẹ giao cho một cách tốt đẹp.
Sau đó, trong thời gian dài đầy gian nan mà
Môi-se và A-rôn lãnh đạo con dân Chúa trong đồng
vắng, Mi-ri-am đã có mặt để nâng đỡ và chia
xẻ gánh nặng với hai người em.
Bà cũng được Chúa ban cho những ân tứ đặc
biệt để hầu việc Ngài: Bà được làm nữ tiên
tri, viết những bài hát ca ngợi Chúa và hướng
dẫn các phụ nữ trong việc thờ phượng Chúa.
Nhưng tiếc thay, đến cuối
cuộc đời, vì lòng tự tôn và ganh tị, Mi-ri-am
đã thất bại.
Mi-ri-am được Chúa ban ơn và
sử dụng, nhưng bà không bằng lòng với chỗ đứng
của mình, bà muôán được tôn trọng hơn, có
nhiều thẩm quyền hơn; bà muốn Chúa người khác
có. Mi-ri-am
đã ganh tị với người em khiêm nhường mà Chúa
đã chọn và kêu gọi.
Vì ganh tị và nói hành Môi-se,
người của Ðức Chúa Trời, bà đã bị Chúa
loại bỏ. Bà
bị bệnh phung là bệnh tượng trưng cho ô uế và
sự rủa sả của Ðức Chúa Trời. Ðiều
xảy ra cho Mi-ri-am cho thấy rằng, khi chúng ta không
chấp nhận và không bằng lòng với những ân tứ
Chúa ban cho mình là chúng ta có thể đi đến chỗ
nguy hiểm, làm hỏng những ơn phước và ân tứ
Chúa ban cho chúng ta.
Ganh tị với những ân tứ, ơn phước hay
chức vụ Chúa ban cho người khác cũng là khởi đầu
của thất bại. Lời
Chúa cảnh cáo thật mạnh mẽ:
“Kiêu ngạo đi trước, bại hoại theo
sau, và tính tự cao đi trước sự sa ngã” (Châm
Ngôn Minh
Nguyên (còn
tiếp) |
|
|
|