![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Lược Khảo Các Biến Cố Tận Thế |
|
|
|
LTS.
Lược Khảo Các Biến Cố Tận Thế
do Hà Huy Việt biên
dịch dựa trên bản Anh Ngữ The Bible & Future Events
của Tiến Sĩ Leon
J. Wood (1918- 1977), nguyên giáo sư môn Cựu Ước Học và
khoa truởng Grand Rapids Baptist Seminary.
Ông là tác giả của nhiều sách
nghiên cứu về lịch sử tuyển dân cũng như các sách
giải nghĩa tiên tri. Thời Triệu Kinh Thánh không cho biết đích xác ngày giờ Chúa trở lại, mà hơn nữa còn khẳng định rằng thời điểm này hoàn toàn nằm ngoài tri thức con người. Tuy nhiên, trong Kinh Thánh những dấu hiệu về ngày đó hay còn gọi là “thời triệu”, lại được trình bày khá rõ ràng. Chúa Giê-xu quở trách phe Pha-ri-si đương thời đã không nhận ra những dấu chỉ thời kỳ Đấng Cứu Thế hiện ra. Trước hết là sự kiện Ngài sinh ra trong siêu nhiên lẫn khiêm hạ, rồi những phép lạ đầy quyền năng Ngài thi thố trong chức vụ... Những lời tiên tri trong Kinh Thánh về Đấng Cứu Thế đã ứng nghiệm cho đến từng chi tiết trong cả cuộc đời siêu phàm của Ngài trên đất, minh chứng Ngài chính là Đấng Cứu Thế, Đấng đến từ Đức Chúa Trời, là Con Một ra từ lòng Cha. Kế đến là những dấu hiệu trong thiên nhiên và trên thế giới… Những sự kiện này cũng được dùng làm nền tảng cho lời quở trách giáo hữu hôm nay không chú ý đến những dấu hiệu đó. Có những dấu hiệu tổng quát nhưng cũng có những dấu hiệu đi vào chi tiết. Trong Ma-thi-ơ 24: 6-12, Chúa nói về tình trạng bất ổn trong thiên nhiên cũng như trên thế giới: giặc giã, chiến tranh, đói kém, dịch lệ và động đất. Cơ-đốc nhân sẽ bị bách hại, bị bạn bè bội phản, sẽ có các tiên tri giả xuất hiện lừa dối nhiều người. Những dấu hiệu này khá tổng quát và đã được thấy suốt qua lịch sử từ khi Chúa Cứu Thế Giê-xu đến lần thứ nhất. Ngày nay bước vào thiên niên kỷ thứ ba, những dấu hiệu đó càng ngày càng nhiều và càng rõ ràng hơn, cho thấy ngày Chúa trở lại thật rất gần. Ngoài những dấu hiệu tổng quát chúng ta còn được báo trước về những dấu hiệu đặc biệt rõ ràng hơn, đó là tình trạng bội đạo ngay trong những giáo hội mang danh nghĩa Cơ-đốc giáo. Thánh Phao-lô khi viết cho Ti-mô-thê đã khẳng định: “Đức Thánh Linh phán tỏ tường rằng, trong đời sau rốt, có mấy kẻ sẽ bội đạo mà theo các thần lừa dối, và đạo lý của quỉ dữ...” (I Ti-mô-thê 4:1). Ông cũng cho biết tình trạng luân lý sa đọa cũng là những dấu hiệu trước mắt mọi người: “Trong ngày sau rốt sẽ có những thời kỳ khó khăn. Vì người ta đều tư kỷ, tham tiền, khoe khoang, xấc xược, hay nói xấu, nghịch cha mẹ, bội bạc, không tin kính, vô tình, khó hòa thuận, hay phao vu, không tiết độ, dữ tợn, thù người lành, lường thầy phản bạn, hay nóng giận, lên mình kiêu ngạo, ưa thích sự vui chơi hơn là yêu mến Đức Chúa Trời, bề ngoài giữ điều nhân đức, nhưng chối bỏ quyền phép của nhân đức đó...” Mức độ sa đọa về phương diện luân lý và đạo đức đang xuống dốc thật nhanh trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên, dấu hiệu rõ ràng hơn hết là tình trạng bội đạo ngày càng trầm trọng hơn và lan tràn nhanh chóng. Nhiều tà giáo nổi lên, mạo xưng là Cơ -đốc giáo, nhưng chối bỏ thần tánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu, nghĩa là không tin Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể mà coi Ngài chỉ là một người, dù là một người xuất chúng. Có những tà giáo lại phủ nhận nhân tánh của Chúa Giê-xu, chủ trương Ngài là một thiên sứ, một thần linh thọ tạo. Có những phong trào mang danh Cơ-đốc giáo nhưng không chấp nhận thẩm quyền tuyệt đối và tính chất vô ngộ của Kinh Thánh nguyên bản. Phong trào bội đạo đó theo khuynh hướng thần học tự do, khởi phát từ chủ nghĩa duy lý bên Đức, lan sang Anh Quốc, đến Hoa-kỳ và cuối cùng tràn khắp thế giới. Nhiều trường thần học, nhiều giáo hội và rất nhiều cá nhân đã bị những đợt thủy triều của khuynh hướng thần học tự do này cuốn trôi. Chưa bao giờ trong lịch sử hội thánh lại có tình trạng sa đọa trầm trọng như vậy về phương diện thần học. Hoa-kỳ vốn là một đất nước xây dựng dựa trên các giá trị tinh thần và tâm linh của Cơ-đốc giáo nhưng đến nay đã trở thành vườn hoang để gai góc và cỏ dại của vô số tà giáo phủ nhận quyền tể trị của Đức Chúa Trời, phủ nhận thần tánh của Chúa Cứu Thế Giê-xu bén rễ và lan rộng. Nền chính trị của nước Mỹ ngày nay cũng đang bị các thế lực của sự tối tăm chi phối mạnh mẽ. Cơ-đốc giáo đang trở thành tôn giáo bị kỳ thị, chèn ép. Thế lực của sự tối tăm đã và đang nỗ lực loại bỏ các ảnh hưởng của Kinh Thánh và Cơ-đốc giáo khỏi đời sống chính trị cũng như xã hội và chúng đã từng bước thành công. Chúng đã loại bỏ việc cầu nguyện hay nhắc đến danh Chúa trong các buổi lễ tại các trường học còn có ảnh hưởng của Cơ-đốc giáo. Trong khi đó chúng vận động để những hành vi trái Kinh Thánh, trái với các nguyên tắc đạo đức Cơ-đốc trở thành hợp pháp như quyền phá thai, tính dục đồng giới. Có nhiều giáo hội Cơ-đốc tấn phong giáo phẩm cho những người chấp nhận hôn nhân đồng giới, thậm chí công khai thực hành tính dục đồng giới! Tình trạng sa đọa đó đã được Thánh Phao-lô mô tả trong Thư La-mã chương 1, và đây chính là một trong những dấu hiệu cho thấy ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu trở lại địa cầu thật đã gần kề. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ 20, còn có một dấu hiệu lớn nữa cũng là dấu hiệu không thể nhầm lẫn được về ngày tái lâm sắp đến của Chúa Giê-xu, đó là tình trạng nước Do-Thái kim thời, có người gọi là “đồng hồ của Đức Chúa Trời.” Nước Do Thái: Đồng Hồ Của Đức Chúa Trời
Dấu hiệu rõ ràng nhất về ngày trở lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu là tình trạng nước Do thái đương đại. Kinh Thánh dạy rằng đến những ngày cuối cùng rất đông người Do-thái sẽ trở về quê hương để tái lập quốc gia, như tiên tri Ê-sai đã viết: “Trong ngày đó, Chúa còn đặt tay một lần nữa đặng chuộc dân sót của Ngài, tức là kẻ sót lại bởi A-sy-ri, Ê-díp-tô, Pha-trô, Cút, Ê-lam, Si-nê-a, Ha-mát cùng các cù lao biển. Chúa sẽ dựng một cây cờ cho các nước, nhóm những người Y-sơ-ra-ên bị đuổi, thâu những người Giu-đa lưu lạc từ bốn góc đất.” (Ê-sai 11:11,12). Lần trở về đầu tiên nói đến trong những câu Kinh Thánh trên là trở về từ Ba-by-luân vào năm 538-537 B.C., khi người Giu-đa trở về Palestine từ phía Đông. Nhưng lần trở về thứ hai là từ “bốn góc đất” hay từ bốn phương thế giới. Trong suốt lịch sử Do-thái chưa có lần trở về nào như vậy, cho mãi đến thế kỷ 20 mà nhiều người ngày nay chứng kiến. Người Do-thái đã đã thực sự từ hơn 100 quốc gia trên thế giới trở về tái lập đất nước tại Palestine. Tiên tri A-mốt cho biết sau khi đã trở về quê hương họ sẽ định cư, xây dựng và không bao giờ bị trục xuất khỏi đó nữa: “Ta sẽ đem phu tù của dân Y-sơ-ra-ên trở về, chúng nó sẽ lập lại các thành bị phá và ở đó...Ta sẽ lại trồng chúng nó trên đất chúng nó và chúng nó sẽ không hề bị nhổ khỏi đất mình mà ta đã ban cho. Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời ngươi phán vậy.” (A-mốt 9:14,15) Trong lần trở về đầu tiên người Do-thái từ Ba-by-luân ở phía Đông, hồi hương vào năm 538-537 TC. Nhưng đến cuối thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, người Do-thái đã thực sự tan lạc khắp thế giới cho đến nỗi sự kiện này đã tác thành câu tục ngữ, “lang thang như người Do Thái”. Trong gần 19 thế kỷ, nước Do-thái hoàn toàn bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Ai có thể tưởng tượng được một quốc gia không còn hiện hữu trong thời gian lâu như thế lại được tái lập, nhưng đây lại chính là điều chúng ta chứng kiến trong thế kỷ 20. Những chuyển biến chính trị hoàn thành lời Chúa hứa với Y-sơ-ra-ên đã khởi sự từ cuối thế kỷ 19. Phong trào Si-ôn, do Bác sĩ Theodore Herzl phát động cuối thế kỷ 19, là phong trào đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình trạng hiện tại của nước Do-thái ngày nay. Khởi sự từ năm 1897, phong trào Si-ôn đã tổ chức hàng loạt các cuộc hội nghị để tìm phương cách tạo lập một mảnh đất dung thân tại Palestine cho người Do-thái. Chúng ta cần biết rằng cho đến lúc đó, hầu hết người Do-thái đều bị trục xuất khỏi quê hương, tan lạc khắp thế giới. Đền thờ nguy nga do Hê-rốt xây mất 46 năm, mà các môn đệ Chúa Giê-xu từng trầm trồ, cũng đã bị triệt hạ đúng như lời Chúa tiên báo. Chúng ta ôn lại chi tiết đó được ký thuật trong Phúc- âm Mác 13:1-2 như sau: “Đức Chúa Giê-xu vừa ra khỏi đền thờ, có một môn đồ thưa cùng Ngài rằng: Thưa thầy hãy xem đá và những nhà này là dường nào! Đức Chúa Giê-xu đáp rằng: Ngươi thấy nhà lớn này ư? Rồi ra sẽ không còn một hòn đá sót lại trên một hòn khác nữa: Cả thảy đều đổ xuống.” Cuộc nổi dậy của người Do-thái tại Palestine năm 67 SC đã khiến hoàng đế La-mã lúc đó là Neron cử đại tướng Vespasian đem quân vây thành Giê-ru-sa-lem. Đang khi đại quân đóng tại Palestine thì Neron băng hà. Sau một thời gian ngắn khủng hoảng chính trị tại Rô-ma, tướng Vespasian được quân đội và Nghị Viện tín nhiệm tôn làm hoàng đế. Vespasian về Roma lên ngôi, để con là tướng Titus ở lại Palestine tiếp tục chiến dịch. Thành Giê-ru-sa-lem bị vây sau 143 ngày thì thất thủ. Hơn 600,000 người Do-thái bị sát hại với hàng nghìn người khác bị lưu đày. Quân lính La-mã đốt thành, đền thờ bị thiêu hủy, vàng bọc trong vách đền thờ chảy ra lọt xuống các khe đá, vì vậy chúng đã cạy từng tảng đá lên để tìm vàng. Hậu quả là đền thờ bị san bằng đến nỗi không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá nào, đúng như lời Chúa báo truớc. Kể từ đó, nước Do-thái hoàn toàn bị xóa sổ, người Do-thái tan lạc khắp thế giới. Tuy nhiên dù ở nước nào họ cũng tìm cách quần tụ lại với nhau, tạo thành những cộng đồng Do-thái khá bền chặt để bảo tồn tín ngưỡng và văn hóa. Sau gần 19 thế kỷ sống lưu lạc, không quê hương đất nước, phong trào Si-ôn là phong trào chủ trương tìm cách tạo lập một mảnh đất dung thân tại Palestine cho người Do-thái, đã khơi dậy trong lòng con cháu Áp-ra-ham một tia hy vọng mong manh. Tuy nhiên, tia hy vọng đó chỉ thực sự lóe lên khi đại tướng Allenby của Anh Quốc chiếm được Palestine theo kế hoạch chung của quân Đồng Minh trong thế chiến thứ nhất. Từ thế kỷ 11, trong thời gian có cuộc thánh chiến, Palestine đã ở dưới quyền kiểm soát của Thổ Nhĩ Kỳ. Cho đến thế kỷ 14 khi triều đại Ottoman khởi phát và bành trướng thì lần hồi hầu hết cả vùng bán đảo Balkan đều lọt vào tay quân Thổ. Từ cuối thế kỷ 16, đế quốc Ottoman khởi sự suy vi và đến đầu thế kỷ 19 thì đế quốc này được mệnh danh là “người bịnh của Âu Châu.” Dầu vậy, cho đến thế chiến thứ nhất, đế quốc Thổ vẫn còn là một trở ngại quan trọng cho việc tìm kiếm một lãnh thổ cho người Do-thái tại Palestine, vì Thổ-nhĩ-kỳ cương quyết chống đối nỗ lực này. Khi quân đội Anh chiếm được vùng Palestine thì tình hình đã đổi khác. Trong một văn kiện chính thức do huân tước Balfour thảo có phần như sau: “Chính phủ Hoàng Gia ủng hộ việc tạo lập một lãnh thổ tại Palestine cho người Do-thái và sẽ dùng mọi nỗ lựïïc thực hiện mục tiêu này. Cũng cần làm sáng tỏ rằng không một điều nào được thực hiện có phương hại đến các quyền lợi dân sự hoặc tôn giáo của các cộng đồng không Do-thái ở Palestine hay các quyền lợi và vị thế chính trị của người Do-thái ở bất cứ quốc gia nào khác.” Thái độ cảm thông với phong trào Siôn đã khích lệ người Do-thái trên khắp thế giới, và trong vòng hai thập niên sau đó dân số Do-thái tại Palestine đã gia tăng đáng kể. Năm 1882, trong tổng số 624,000 dân cư Palestine thì có 24,000 người Do-thái. Năm 1914, với mọi nỗ lực của phong trào Si-ôn, con số này đã lên đến 85,000. Năm 1927 tăng lên đến 150,000, năm 1936, 404,000 và đến khi Do-thái tái lập quốc gia, vào năm 1948 thì tổng số người Do-thái tại Palestine là 650,000. Tất nhiên sự gia tăng dân số Do-thái này đã gặp sức đề kháng mạnh mẽ của người Ả-rập là thành phần thấy ảnh hưởng của mình trong vùng ngày càng yếu đi dưới các sinh hoạt năng động của người Do-thái. Sức đề kháng giữa hai nhóm chủng tộc này cứ ngày càng gia tăng. Năm 1939, chính sách của Anh Quốc đối với người Do-thái thay đổi và định mức di dân cũng bị hạn chế nghiêm ngặt. Tình hình thay đổi này càng lúc càng rõ hơn, nhất là sau thế chiến thứ hai, khi hàng chục ngàn người Do-thái thoát những chiến dịch tàn sát của Đức Quốc xã, tìm đường vào Palestine. Hàng trăm tàu thuyền chở đầy người rời các hải cảng Âu-châu mong có cách nào tiến vào Đất Hứa, nhưng hầu hết những di dân Do-thái này đều thất vọng. Tình trạng căng thẳng, kình chống nhau trong xứ ngày càng tệ hại khi quân đội Anh nỗ lực duy trì chính sách hạn chế, còn người Do-thái thì lại kiên trì tìm đủ cách để qua mặt. Cuối cùng, Liên Hiệp Quốc đã định sẽ giải quyết vấn đề bằng kế hoạch chia đất. Những vùng có dân Do-thái tập trung đông nhất ở Palestine sẽ được chỉ định thuộc người Do-thái trong khi những vùng còn lại là của Jordan. Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Liên Hiệp Quốc đã bỏ phiếu quyết định kế hoạch này. Kết quả có 33 phiếu thuận, 10 phiếu chống với 10 phiếu vắng mặt. Người Do-thái hết sức vui mừng, nhưng người Ả-rập thì vô cùng bất mãn, vì họ không muốn cho người Do-thái có một thẻo đất nào tại đây. Vì vậy, hậu quả là khối Ả-rập đã tức khắc hình thành một kế hoạch chiến đấu chống Do-thái qui mô chưa từng có. Suốt sáu tháng sau đó là những cuộc tấn công và trả đũa liên tiếp, thiệt hại nhân mạng cũng như vật chất thật nặng nề. Cuối cùng, Anh Quốc quyết định rút lui khỏi cuộc tranh chấp đẫm máu này vào ngày 14 tháng 5, 1948, cũng là ngày Do-thái tuyên bố độc lập theo kết quả bỏ phiếu nửa năm trước của Liên Hiệp Quốc. Sau sự kiện Do-thái tuyên bố độc lập, chiến cuộc ngày càng gia tăng cường độ. Người Ả-rập quyết tâm “tống khứ bọn Do-thái xuống Địa Trung Hải” như lời họ từng tuyên bố. Khi quân đội Anh rút khỏi Palestine thì mọi người đều tin rằng quyết tâm trên chắc chắn sẽ được thực hiện. Nhưng trong thực tế, điều này đã không xảy ra. Dù quân đội của khối Ả-rập từ Ai-cập, Jordan, Syria, Li-băng và Iraq rầm rộ tiến vào Palestine, nhưng dúm người Do-thái bướng bỉnh kia đã chiến đấu như điên cuồng cho giấc mơ hàng bao thế kỷ, và kết quả là họ đã chống nổi các đợt tấn công và dần dần chiến thắng ở nhiều mặt trận. Không bao lâu, tình thế đổi khác, sau nhiều đợt ngưng bắn rồi lại bị phía Ả-rập vi phạm, người Do-thái không những giữ được đất đai mà còn chiếm thêm nhiều phần đất thuộc phía Ả-rập. Kết quả là sau khi ngưng chiến, với lằn ranh phân chia lãnh thổ mới, biên giới Do-thái đã mở rộng hơn rất nhiều và cho đến cuộc chiến tranh sáu ngày vào năm 1967, thì Do-thái lại đã chiếm thêm được hơn 12,000 km vuông thuộc lãnh thổ Ả-rập mà quan trọng nhất là cổ thành Giê-ru-sa-lem, bức tường than khóc và kiểm soát được cả khu vực đền thờ. Điều này đã khiến cho viễn ảnh xây lại đền thờ Giê-ru-sa-lem gần thêm một bước nữa. Nước Do-thái ngày nay là một thực tại chính trị trên thế giới. Không ai có thể tưởng tuợng nổi một quốc gia đã bị xóa sổ gần 1900 năm, không lãnh thổ, không chính quyền, dân tộc thì tan lạc khắp thế giới chịu bao nhiêu đau đớn, bách hại và riêng trong thời thế chiến thứ hai, 6 triệu người Do-thái đã thiệt mạng trong các lò sát sinh của Đức Quốc Xã. Vậy mà hơn 50 năm qua, tuyển dân của Đức Chúa Trời đã tái lập quốc gia như lời tiên tri Ê-sai, trước sự ngạc nhiên của toàn thế giới. Đây chính là một dấu hiệu không thể nhầm lẫn được về ngày tái lâm cận kề của Chúa Cứu Thế. (còn tiếp) Hà Huy Việt biên dịch |
|
|
|