![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Mục Đích Sống của Tín Đồ Cao Niên |
|
|
|
Kính lạy Thiên Chúa, dù khi con đã tóc bạc da mồi, xin Chúa đừng từ bỏ con. Con thành kính cầu xin Chúa ở với con, giúp con hoàn thành công tác. Con sẽ tiếp tục rao truyền đại quyền đại năng của Chúa cho các thế hệ tiếp nối. (Thi Thiên 71:18 - Tác giả diễn ý) 1. Một Lớp Người Đặc Biệt Hiện nay xã hội Hoa-kỳ coi các bậc lão niên như một lớp người cần giúp đỡ đặc biệt về nhiều phương diện. Chính phủ trợ cấp cho lão niên tật nguyền, đau yếu, cũng như cho các vị tuổi già lợi tức quá thấp, không còn kiếm được ra tiền. Năm 2004, Quốc Hội thông qua đạo luật cho người cao niên hưởng Medicare được phụ cấp trong các phí tổn mua thuốc cần toa bác sĩ. Các hãng chuyên chở công cộng địa phương cho lão niên hưởng giá vé đặc biệt, thường là bằng phân nửa giá vé tráng niên. Lão niên suy nhược tàn phế được cấp thẻ đậu xe ở chỗ đậu riêng, được cấp máy điện thoại đặc biệt, được tài trợ phần nào khi mua một số dụng cụ giúp di chuyển như các loại nạng, gậy chống đỡ, xe lăn tay. Hầu như mỗi thành phố đều có một trung tâm cộng đồng lão niên, với những chương trình sinh hoạt đặc biệt. Trong những ngày quá nóng nực, tại đô thị lớn có chương trình cứu tế xã hội dành riêng cho các người già cả, như xe đón lão niên cô độc vào trung tâm mát mẻ nghỉ ngơi, như cung cấp đầy đủ nước mát uống để khỏi bị tiêu hao nước trong thân thể; rồi đến mùa lạnh, lão niên được cấp thêm mền, lò sưởi, cũng có thể được hưỏng phụ cấp nhiên liệu. 2. Kính Trọng Tuổi Già Xã hội Việt Nam, từ thời xưa cho mãi đến gần đây, giữ vững truyền thống dân tộc, hết mực tôn trọng tuổi già, thực hành đúng các lời dạy quý báu của tổ tiên: “Kính lão đắc thọ”; “Yêu trẻ, trẻ đến nhà, kính già, già để tuổi.” Để nói lên việc trọng tuổi, vì tuổi cao tác lớn tượng trưng cho sự khôn ngoan, người bình dân Việt Nam thường nói: “Hơn một ngày, hay một chước,” cũng hay nhắc đến câu: “Ông lão bảy mươi còn phải hỏi ông bảy mươi mốt.” Trong hệ thống xã thôn Việt Nam thời xưa, nhiều làng mạc có tục lệ trọng tuổi, thay vì trọng khoa bảng hay chức tước. Theo hương ước của các làng này, dân chúng không trao chức tiên chỉ cho một vị cựu quan hay một ông cử nhân, tiến sĩ, mà đã trọng thể kính mời vị bô lão niên trưởng giữ chức tiên chỉ, là ngôi vị danh dự nhất làng. Khi làng có tế lễ, yến ẩm, hội hè đình đám, cũng như những khi họp hội đồng kỳ mục bàn việc làng, bao giờ vị tiên chỉ cũng được mời lên trên bục cao ngồi trên chiếu danh dự; kế đến là các chức sắc, các quan viên theo phẩm trật, rồi mới đến thường dân, theo tuổi tác, thứ bực, lần lượt ngồi ở các chiếu dưới. 3. Xã Hội Do-thái Xưa Cũng Trọng Tuổi Xã hội Do-thái thời xưa cũng trọng tuổi. Môi-se truyền lời Thiên Chúa dạy dân Ngài trong sách Lê-vi-ký 19:32: “Trước mặt người tóc bạc, ngươi hãy đứng dậy; hãy kính trọng người già cả, và kính sợ Thiên Chúa.” Cả bộ Kinh Thánh có một trăm tám mươi tám (188) lần chép về “trưởng lão” (elders). Chế độ phụ hệ Do-thái coi tuổi tác là một tiêu chuẩn để đánh giá tư cách và sự khôn ngoan. Vâng lệnh Thiên Chúa, Môi-se từ xứ Ma-đi-an trở về Ai-cập giải phóng dân Chúa khỏi vòng nô lệ; Môi-se hội họp các trưởng lão và cùng họ đến yết kiến vua Pha-ra-ôn (Xuất Ai-cập 3: 16, 18). Thời Tân Ước, trong cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất, hai sứ đồ Phao-lô và Ba-na-ba đã giúp các hội thánh lựa chọn các trưởng lão (Công vụ 14: 23). Phao-lô nhắc Ti-mô-thê khuyên tín hữu phải kính trọng các vị trưởng lão khéo cai trị hội thánh (I Ti-mô-thê 5: 17). Sách Khải Huyền có mười hai (12) lần nói đến các trưởng lão; Khải Huyền 4: 4 chép về hai mươi bốn (24) trưởng lão mặc áo trắng, đầu đội mão triều thiên vàng, ngồi trên hai mươi bốn (24) ngôi xung quanh ngôi của Thiên Chúa. 4. Hội Thánh Trọng Tuổi Tác Trong hiện tại, các Hội Thánh Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới cần dành riêng thì giờ dạy con em giữ lấy nền nếp cũ, biết kính trọng bậc già cả, biết ăn ở hiếu thảo với cha mẹ già và tuân giữ lời Thiên Chúa dạy: “Hãy hiếu kính cha mẹ, hầu cho con được phước và sống lâu trên đất.” (Xuất Ai-cập 20: 12) Cộng đồng Việt Nam và Hội Thánh các địa phương cũng nên nghĩ đến nhũng chương trình thiết thực nhằm mục đích giúp các vị bô lão về các phương diện tâm linh, tình cảm, và thể xác trong những ngày khó khăn suy nhược tàn lụi, và nhất là giúp các vị được niềm an ủi vững chắc nơi Chúa Cứu Thế trong khi còn sống trên dương thế. Các chương trình này có thể đáp ứng một phần nào nhu cầu đa dạng của quý vị bô lão suy yếu đang trông chờ các lớp tuổi khác giúp đỡ. 5. Trách Nhiệm Của Lão Niên Cơ-đốc Sống Với Mục Đích Nhưng đối với các lão niên tương đối còn mạnh khỏe về tâm linh và thể xác, đang sống với mục đích cao cả: “Tôn Vinh Thiên Chúa và Làm Sáng Danh Chúa Trong Tuổi Già,” đang ngóng trông sự thêm sức mỗi ngày đến từ Thiên Chúa, theo đúng lời hứa trong Ê-sai 40: 29, 31, thì thái độ, bổn phận, và trách nhiệm lại hoàn toàn khác hẳn. Thật vậy, lão niên Cơ-đốc biết sống với mục đích quý báu nói trên sẽ không phải bận tâm cả ngày lo nghĩ đến sự suy nhược tất yếu của tuổi xế chiều. Các bậc lão niên Cơ-đốc có ý thức cao độ về thiên chức Thiên Chúa giao, đang giữ vững niềm tin nơi Thiên Chúa Toàn Năng sẽ không bao giờ cam phận ngồi thụ động trong héo hon chờ đợi ngày Chúa Cứu Thế đến rước vào nơi yên nghỉ! Với sức mạnh kiên cường Chúa ban cho trong tuổi già, họ sẽ “cất cánh bay cao như chim ưng, chạy mà không mệt mỏi, tiếp tục vững bước tiến lên mà không mệt nhọc” (Ê-sai 40: 29, 31, tác giả diễn ý.) Các lão niên Cơ-đốc sẽ hết sức cố gắng làm trọn bổn phận và trách nhiệm, vì biết rõ và đã trải qua từng bước một của tiến trình tăng trưởng trong cuộc đời. Thi Thiên 71: 18 nêu rõ bổn phận và trách nhiệm cao quý sau đây của lão niên Cơ-đốc: “Truyền cho các thế hệ nối tiếp được biết những công việc đại quyền đại năng của Thiên Chúa.” 6. Gương Sáng Của Các Lão Niên Đạo Cao Đức Trọng Thánh tổ Gia-cốp đã làm trọn bổn phận cao quý nói trên khi ông tập hợp cả mười hai (12) người con trai để chúc phước lần chót cho các con trước ngày được trở về với tổ phụ. Trong lời chúc phước, cũng là lời tiên tri, Gia-cốp nhắc lại lời Thiên Chúa hứa với các thánh tổ Áp-ra-ham và Y-sác. Trong Sáng Thế ký đoạn 48, Gia-cốp gần chết chúc phước cho hai con trai của Giô-sép: “Cầu xin Thượng Đế của Áp-ra-ham và Y-sác, tổ phụ con, Thượng Đế đã chăn dắt con từ khi ra đời đến nay, là Thiên sứ đã giải cứu con khỏi mọi tai họa, ban phúc lành cho hai đứa trẻ này, cho chúng nó nối danh con, danh Áp-ra-ham và Y-sác, tổ phụ con, cho dòng dõi chúng nó gia tăng đông đúc trên mặt đất” (Sáng 48: 15-16) Sáng Thế ký đoạn 49: 1-28 chép về việc Gia-cốp chúc phước cho mười hai con trai. Trong lời tiên tri, ông nhắc đến “Đấng Toàn Năng của Cha, là Đấng Chăn chiên Vĩ Đại, Vầng Đá của Y-sơ-ra-ên” (49: 24); ông nói trước về Đức Chúa Cứu Thế Giê-xu: “Cây quyền trượng chẳng xa lià Giu-đa. Gậy lập pháp cũng không rời tay tử túc. Cho đến chừng Đấng Si-lô hiện ra và được toàn dân vâng phục.” (49: 10) Sau đó, ông yêu cầu được chôn cùng tổ phụ nơi hang đá trong cánh đồng Mạc-bê-la mà tổ Áp-ra-ham đã mua của Ép-rôn, người Hê-tít, để làm nghiõa trang (Sáng 49: 29-33). Trách nhiệm lớn lao này, “truyền rao những công việc đại quyền đại năng của Thiên Chúa,” cũng được lão trượng Môi-se làm trọn vào năm ông được một trăm hai chục (120) tuổi, trước khi được Thiên Chúa rước về an nghỉ trong Ngài. Trong diễn văn từ biệt thứ nhất, Môi-se nhắc lại cho dân chúng những lời yêu thương xây dựng: “Trong sa mạc, trọn đường anh chị em đã đi, cho đến chốn này, Thiên Chúa đã bồng ẵm anh chị em như người cha thương yêu bồng ẵm con mình” (Phục Truyền 1:31). Để yên ủi, khích lệ, tác động tinh thần con dân Chúa, để cho họ vững lòng tiến bước lên chinh phục Đất Hứa, Môi-se, vị lãnh tụ tuổi cao tác lớn, đã nhắc đến tất cả những việc đại quyền đại năng, những phép lạ vô cùng lớn lao, những chiến công hiển hách, những công việc mầu nhiệm phi thường Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Ngài: Mười tai vạ và sự giải cứu khỏi Ai-cập; Dân Chúa vượt qua Biển Đỏ; Bánh ma-na từ trời; Nước mát trong sa mạc; Trụ mây và Trụ lửa; Chúa ban Mười Điều Răn; Việc xây dựng Đền Tạm; Chiến thắng quân thù, và các việc quyền năng Chúa làm trong bốn chục (40) năm dân sự đi vòng quanh sa mạc. Trách nhiệm “rao truyền công việc đại quyền đại năng của Thiên Chúa cho các thế hệ nối tiếp” cũng được lão trượng Giô-suê cẩn trọng thực thi trong khi “ông sắp sửa đi con đường thế gian phải đi,” tức là sắp được Thiên Chúa đón về cùng tổ phụ. Trong sách Giô-suê, đoạn thứ 24, lão trượng Giô-suê, lúc ấy đã một trăm mười (110) tuổi, tập hợp tất cả các chi tộc Do-thái cùng các trưởng lão, các nhà lãnh đạo tại Si-chem. Ông đã dạy cho cử tọa một bài học lich sử, ông đã thuật lại tóm lược tất cả những công việc lớn lao Thiên Chúa đã thực hiện để dẫn dắt dân Ngài ra khỏi Ai-cập đến Đất Hứa, sau đó ông khuyên dạy họ “hết lòng kính sợ Thiên Chúa và thành tâm trung tín phục vụ Ngài.” (Giô-suê 24: 14) Ngay trong giai đoạn đầu của thời Tân Ước, trách nhiệm lớn lao này cũng được hai bậc cao niên gánh vác, như đã ghi chép trong sách Phúc Âm Lu-ca 2: 25-38. Hai vị này là lão trượng Si-mê-ôn, “một người công bình đạo đức,” và cụ bà tiên tri An-ne, “đã tám mươi bốn (84) tuổi, chẳng hề ra khỏi đền thờ, ngày đêm hầu việc Thiên Chúa, kiêng ăn cầu nguyện.” Hai bậc lão niên đã được niềm vui lớn lao và vinh dự cao cả: tiếp rước Chúa Hài Đồng Giê-su tại đền thờ trước khi qua đời. Cụ Si-mê-ôn lớn tiếng chúc tụng Thiên Chúa đã cho ông thấy “ánh sáng khải thị cho các dân tộc, và vinh quang cho dân Y-sơ-ra-ên của Ngài.” (Lu-ca 2: 32). Thánh nữ lão thành An-ne, có thể được coi như vị giáo sĩ đầu tiên, đã “cảm tạ Thiên Chúa và nói về hài nhi Giê-xu cho mọi người đang trông đợi sự giải cứu Giê-ru-sa-lem.” (Lu-ca 2: 38). Cụ sứ đồ Giăng, trong thời gian bị đầy ra đảo Bát-mô, được mặc khải đặc biệt, đã thấy các từng trời mở ra và được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa. Lấy tư cách “người anh em cùng chia sẻ hoạn nạn” (Khải Huyền 1: 9) đồng chịu khổ với các tín hữu đang chịu những sự bắt bớ khốc liệt của các hoàng đế La-mã, cụ Giăng đã viết sách Khải Huyền để yên ủi tín hữu đang bị bách hại, hầu cho họ vững lòng kiên trì giữ vững đức tin và hết lòng trông đợi Chúa. 7. Một Số Việc Các Lão Niên Có Thể Làm Trong tuổi già, bậc làm ông, bà, cha, mẹ nên tìm dịp nhắc lại cho con cái, dâu, rể, cháu chắt nội ngoại tất cả những ơn phước lành Chúa đã ban cho chính các cụ cùng cả đại gia tộc. Trong mùa lễ Vượt Qua (Passover), các gia trưởng Do-thái thường nhắc lại cho con cháu mọi chi tiết của việc giữ lễ trọng thể này. Từ miếng bánh không men, thịt chiên con, rau đắng, các gia vị, nước uống, mỗi món ăn là một dịp để gia trưởng tạ ơn Thiên Chúa và nhắc lại cho con cháu “những công việc đại quyền đại năng Thiên Chúa đã làm để giải phóng dân Ngài khỏi vòng nô lệ ở xứ Ai-cập.” Về phần chúng ta, ngày 30 tháng tư, cũng như ngày kỷ niệm vượt biên/băng qua biển/đi đường bộ qua ngả Cam-bốt, và mùa Tết Nguyên Đán, trong những ngày đầu Xuân, đều là những dịp quý báu cho các gia trưởng Việt Nam nhắc lại cho con cháu biết các phước lành Thiên Chúa ban trên đường ra khỏi quê hương đau khổ đi tìm tự do. Các lão trượng trong mỗi hội thánh địa phương nên họp đều đặn, cùng cầu nguyện, học Kinh Thánh, yên ủi và giúp lẫn nhau xây dựng đời sống tin kính hằng ngày. Quý vị mục sư già tuy hồi hưu, vẫn có thể chia sẻ kinh nghiệm hầu việc Chúa, và dành riêng thì giờ giúp các bạn đồng nghiệp trẻ đương đầu với những thách thức của chức vụ. Quý vị cựu công chức, giáo sư, các cựu tướng lãnh và chính khách lão thành, tuy đã hưu hạ, những khi được mời, vẫn giúp ý kiến về việc “tế thế an dân,” việc trị nước. Cựu Tổng Thống Carter, nay đã 83 tuổi, thỉnh thoảng vẫn đi chu du các nước, làm công việc giám sát bầu cử, hoặc giúp các phe đối nghịch thương thuyết, tìm giải pháp hòa bình. Trong nước, từ năm 1984, hai ông bà Carter mỗi năm thường dành ít nhất trọn một tuần lễ đi công tác với tổ chức Habitat For Humanity. Hợp tác với tổ chức thiện nguyện này, bước đi theo gương Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm thợ mộc tại Na-xa-rét, hai ông bà Carter cầm búa đóng đinh, xẻ gỗ, dựng vách tường, lợp mái nhà, giúp xây nhà cửa cho người nghèo. Về phần các cụ ông cụ bà, nếu còn ở chung nhà với con cháu, chắc chắn quý cụ vui lòng đảm nhận trông nom săn sóc cháu chắt, ân cần thương yêu dạy bảo, giúp phần khải đạo và cố vấn cho con cháu nên người. Các cụ được phước dư dật như cụ Gióp trong tuổi già, “được thấy cháu chắt đến đời thứ tư,” (Gióp 42: 16) thong dong dắt cháu chắt đi chơi dạo mát, yêu quý bồng ẵm cháu chắt, vui hưởng thanh nhàn, như mấy câu thơ: Mẹ con cháu chắt bốn đời chung Ăn ở vui sao một chữ đồng Cháu đứng hầu bà, cười khúc khích Cụ ngồi bế cháu, vỗ bồng bông. (Xin lỗi, tôi quên tên tác giả) Các việc làm cụ thể nói trên chỉ nói lên được một phần sự nối tiếp liên tục rất cần thiết giữa các thế hệ già, trẻ, trong đại gia tộc, trong hội thánh, cũng như trong cộng đồng dân tộc. Hiện nay người Việt Nam tha hương sống ở nhiều nơi trên thế giới. Một mặt chúng ta cố gắng hội nhập với xã hội mới bằng cách học hỏi và hấp thụ những điều tốt đẹp nhất trong các bộ môn khoa học, kỹ thuật, văn hóa, cũng như phong tục, tập quán của quốc gia tiếp nhận ta làm công dân, mặt khác cũng cần phải cố gắng bảo tồn và phát huy những tinh hoa cao quý nhất của nguồn gốc cũ, là gia tài quý báu tổ phụ để lại. Nói chung con em chúng ta đều cố gắng học hành, tiến bộ rất đáng khen trong việc học tại các trường trên khắp thế giới, và thành công vẻ vang trong việc hội nhập với mọi sinh hoạt trong xã hội mới. Nhưng, ngoại trừ một thiểu số, chuyên cần đi học tiếng Việt Nam tại một số trung tâm Việt ngữ, còn đọc thông viết thạo tiếng Việt, còn tự hào với gốc nguồn Việt Nam, đa số thanh thiếu niên con em chúng ta hiện nay hình như không mấy quan tâm đến ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, hầu như đã không còn nói sõi tiếng Việt Nam, không đọc được sách báo Việt, không biết sử Việt, và không hiểu được văn chương Việt Nam. Vì vậy, trong cộng đồng Việt Nam tại mỗi địa phương, xin quý vị tráng niên và lão niên lưu tâm: (1) kêu gọi khuyến khích các thế hệ nối tiếp cố gắng bảo vệ gia tài văn hóa đạo đức Việt Nam; (2) nếu có thể được, cùng nhau góp công góp của tổ chức những lớp dạy Việt ngữ và phổ biến những vấn đề quan trọng của văn chương văn hóa Việt Nam. (3) Nói riêng, trong cộng đồng tín hữu Cơ-đốc, tại các lớp giáo lý nơi thánh đường và Thần Học Viện, cũng nên mời các bậc lão niên góp phần thuyết trình các vần đề đạo đức căn bản của văn hóa Việt Nam, không những về phương diện lý thuyết, mà cả trong phạm vi thực hành nữa. (4) Tóm lại, cần tạo nên một sự thông cảm, một sự nối kết thân yêu giữa các thế hệ: trong khi lớp trẻ biết tỏ lòng nể vì, tôn trọng, kính yêu, săn sóc, và biết ơn các bậc tiền bối, thì các bậc cao niên hết lòng thương yêu, săn sóc, làm gương tốt, và cố gắng truyền lại tinh hoa của những truyền thống cao đẹp của người xưa để lại. Sau cùng, trên hết mọi sự, các lão niên Cơ-đốc luôn luôn cố gắng mỗi ngày “hết lòng truyền lại cho các thế hệ sau các công việc đại quyền đại năng của Thiên Chúa, nhất là nói lên cho giới trẻ biết Hồng Ân Cứu Rỗi, Tình Yêu Cứu Độ của Đức Chúa Cứu Thế Giê-xu.” Kính lạy Thiên Chúa, xin cho lão niên chúng con sống theo mục đích cao cả, đúng như lời cầu nguyện của Thi Thiên 71: 18, trong những ngày còn lại của tuổi xế chiều. Xin giải chúng con thoát khỏi những mặc cảm buồn tủi cùng những than thân trách phận vì suy nhược mòn mỏi. Xin cho chúng con luôn cảm tạ sự hy sinh cao cả của Đức Chúa Cứu Thế Giê-xu, để chúng con vui sống trong tình yêu của Chúa. Xin cho chúng con trông thấy rõ những lớp người trẻ tuổi đang cần tình yêu và sự tha thứ của Chúa. Xin cho chúng con hết lòng vui mừng rao truyền mọi công việc đại quyền đại năng của Thiên Chúa cho mọi người thuộc các lớp tuổi nhỏ hơn chúng con, để họ biết đến và tiếp nhận ơn cứu rỗi nhiệm mầu trong dòng huyết tha tội của Đức Chúa Cứu Thế Giê-xu, hầu cho tất cả được cùng hiệp lại với chúng con mà dâng lời ca tụng tôn vinh Thiên Chúa trong cõi đời đời. A-men. Mục Sư Vũ Đức Chang |
|
|
|