Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Nhận Định

 

 

   

 

     

 

 

 

 

Bình An Cho Người Được Ơn

Từ hơn hai nghìn năm nay, sứ điệp bình an thường được nhắc đến mỗi khi mùa Giáng Sinh trở lại.  Lời tụng ca của muôn vàn thiên sứ trong đêm Giáng Sinh lịch sử tiếp theo lời loan báo Chúa Cứu Thế ra đời vẫn mãi là nguồn cảm hứng cho tác giả của không biết bao nhiêu thi ca cũng như sứ điệp Giáng Sinh:

“Sáng danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới đất cho người được ơn!” (Bản Hiệu Đính)

 Không có lời tụng ca này, sứ điệp Giáng Sinh loan báo cho các mục đồng thiếu phần kết quan trọng. Tại đây có hai điều được khẳng định. Thứ nhất, trên thiên đàng Đức Chúa Trời đã được sáng danh qua biến cố Con Trời nhập thế và điều thứ hai là dưới thế hạ, bình an được bảo đảm cho “người được ơn.” 

“Người được ơn” là ai? Tất nhiên không phải là bất cứ ai, cũng không phải là tất cả mọi người, dù rằng tin lành vừa được công bố là niềm vui lớn cho mọi người.  Biết như  thế, chúng ta mong mình ở trong số những người “được ơn.”

Mong ước được sống bình an thường là ước mong tha thiết hơn hết đối với những ai từng trải qua những tháng ngày hoạn nạn trong lao tù, trong bệnh tật, trong những hoàn cảnh mất an ninh, bị đe dọa, áp bức.  Bình an trong tâm hồn cũng là mong ước sâu xa của những ai sống trong khổ đau, trong cô đơn, trong tuổi già, hay bị ám ảnh bởi lòng hận thù và cay đắng.  Bình an trong tâm hồn đến cuối cùng cũng sẽ là mong ước của những ai đang quay cuồng trong cuộc sống chỉ biết tìm kiếm lạc thú, tiền bạc, danh vọng, địa vị  trần gian, dù trong hiện tại, có thể họ chưa tỉnh ngộ cho nên chưa ý thức được mong ước đó.  Đứa con phóng đãng trong dụ ngôn của Chúa Giê-xu chỉ tỉnh ngộ sau khi đã phung phí hết tiền bạc trong cuộc sống trụy lạc, đã mất đi một phần cuộc đời, bị đọa đầy trong cảnh đói nghèo và đang phải sống cô đơn, tủi nhục ở miền đất lạ. 

Ra khỏi phạm vi cá nhân, bình an hay hòa bình thế giới  cũng là điều mọi người trông mong.  Năm 2001 người ta kỷ niệm lần thứ 100  Giải Nobel Hòa Bình.  Nhiều nhân vật  từng lãnh giải Nobel Hòa Bình trong những năm trước đó được mời trở lại Oslo, thủ đô Na-Uy, để tham dự ngày kỷ niệm quan trọng này.  Hầu hết là những nhân vật danh tiếng thế giới và là những người có ảnh hưởng lớn đối với việc tạo lập hòa bình trong những cộng đồng quốc gia và quốc tế.  Nhận giải Nobel Hòa Bình là một vinh dự rất lớn. 

Những người được tặng thưởng giải Nobel Hòa Bình xuất thân từ những bối cảnh và nghiệp vụ rất khác nhau - từ những chính trị gia, lãnh tụ tôn giáo cho đến những nhà hoạt động trong các tổ chức từ thiện.  Lần đầu tiên vào năm 1901 giải thưởng này được trao cho ông Jean Henry Dunant người Thụy Sĩ, là sáng lập viên Hội Hồng Thập Tự và ông Frederic Passy người sáng lập Hội Hòa Bình Pháp.  Kể từ đó đến nay, hàng năm giải này được trao tặng cho những người có những hoạt động xuất sắc đóng góp cho hòa bình thế giới. 

Năm 2001, giải Nobel Hòa Bình được trao tặng cho ông Kofi Anan, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc.  Ông cùng chia xẻ giải này với tổ chức quốc tế quan trọng nhất ông đại diện.  Ủy ban Nobel Na-uy  ca ngợi những nỗ lực của Liên Hiệp Quốc và công việc của nhà lãnh đạo tổ chức này, bảo rằng Liên Hiệp Quốc đã cố gắng liên tục không mệt mỏi trong việc hóa giải những tranh chấp quốc tế và bảo tồn nhân quyền.  Tại đây, điều chúng ta muốn nói là gì? Dù hàng năm vẫn thường có người nhận giải Nobel Hòa Bình, nhưng hòa bình thực sự trên toàn thế giới cho đến nay dường như vẫn là một điều không tưởng. 

Trong phạm vi nhỏ hơn của mỗi quốc gia, của từng cộng đồng xã hội và của mỗi gia đình, chúng ta thấy bình an vẫn là một món hàng hiếm và đắt giá.  Có người đã từng nói nửa đùa nửa thật rằng sau gần ba mươi năm lập gia đình, anh phải sống trong cảnh “nội chiến từng ngày!” Điều gì  đã cướp mất bình an, hòa hảo trong tâm hồn và trong các mối tương giao? Tất cả những tranh chấp, rạn nứt, đổ vỡ phát xuất từ đâu?  Chỉ cần nhìn vào tính vị kỷ, tham dục, gian dối, kiêu ngạo… nói chung là tội lỗi trong đời sống mỗi người, chúng ta có thể nhận diện được thủ phạm không mấy khó khăn.  Từ đó có thể hiểu được vì sao nhiều người phải sống lâu dài trong căng thẳng, bất an.

Trong Kinh Thánh, bình an hay hòa bình được dùng để chỉ một tình trạng ổn định, nguyên vẹn, lành lặn, hài hòa trong tâm hồn mỗi người hay giữa các đối tượng. Tội lỗi đã làm tâm hồn và cuộc đời con người rách nát, dù con người đã và đang cố gắng vá víu bằng nhiều thứ: kinh tế, giáo dục, y học, khoa học kỹ thuật, tôn giáo, văn học, các thể chế chính trị, luật pháp… Trong lịch sử chưa có thời đại nào nền văn minh của con người phát triển như ngày nay, nhưng cũng chưa có thời kỳ nào con người phải đối phó với nhiều nan đề của tình trạng đạo đức suy đồi, với vô số tai ương và bất ổn như chúng ta từng chứng kiến. Tại sao có hiện tượng nghịch lý này?

Kinh Thánh đưa ra một câu trả lời khẳng định: Tội lỗi phá hủy các mối tương giao, làm con người đau khổ, cướp mất hạnh phúc và tiêu hủy bình an.   Đứa con phóng đãng trong Lu-ca 15 khi tỉnh ngộ đã nhận ra tội lỗi của mình rất chính xác.  Anh ta ý thức mình “đã phạm tội với Trời và với cha.”  Tất cả tội lỗi con người phạm đều có thể qui về hai đối tượng: Đức Chúa Trời và con người, nhưng tựu trung là phạm tội với Đức Chúa Trời, vì người cũng do chính Đức Chúa Trời sáng tạo.  Hiển nhiên, tội lỗi đã làm đổ vỡ mọi mối tương giao mà mối tương giao cơ bản là với Đấng Tạo Hóa.  Như vậy bình an chỉ có khi mối tương giao với Chúa được phục hồi, nghĩa là khi con người dừng bước ăn năn quay về với Đức Chúa Trời, như đứa con phóng đãng trở về nhà cha.  Nói cách khác, bình an là niềm hạnh phúc khởi đầu từ khi con người giải hòa với Đức Chúa Trời.

Trong đêm giáng sinh đầu tiên, thiên sứ loan báo cho các mục tử làng Bết-lê-hem tin Chúa Cứu Thế ra đời - một hài nhi quấn khăn nằm trong máng cỏ.  Chỉ riêng sự kiện Thượng Đế thành người đã là một biến cố vô cùng mầu nhiệm; còn hình thức Ngài nhập thế nói lên tính sáng tạo của tình thương: một hài nhi gói trong khăn như một quà tặng từ trời để con người khó cưỡng lại thôi thúc đưa cả hai tay tiếp nhận.  Tin mừng công bố cho mọi người, nhưng bình an chỉ được hứa ban cho những người “được ơn,” giống như các mục đồng đơn thành tin lời loan báo và quyết tâm đi tìm để chiêm bái hài nhi thánh.  Đây là một  hình ảnh “tiếp nhận” Chúa Giê-xu sống động hơn hết.

“Người được ơn” là người sẵn lòng tiếp nhận món quà cứu rỗi của Đức Chúa Trời như các mục đồng nghèo khó năm xưa.  Bài tụng ca của thiên sứ trong đêm Giáng Sinh đầu tiên, “Sáng danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới đất cho người được ơn” một phần đã hoàn tất trên trời còn phần sau đang mở ngỏ cho những người “được ơn.”

Hôm nay Đức Chúa Trời có thể tìm thấy những “người được ơn” ở đâu để có thể ban bình an cho họ? Họ không chỉ là những người Chúa chọn, nhưng còn là những người chọn Chúa và vai trò của Cơ-đốc nhân và Hội Thánh là cung ứng cho họ cơ hội chọn lựa này.

Thông Công