![]() |
|
|
Hội Thánh Tin Lành Việt
Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ |
|
|
Lược Khảo Các Biến Cố Tận Thế |
|
|
|
LTS.
Lược Khảo Các Biến Cố Tận Thế
do Hà Huy Việt biên
dịch dựa trên bản Anh Ngữ The Bible & Future Events
của Tiến Sĩ Leon
J. Wood (1918- 1977), nguyên giáo sư môn Cựu Ước Học và
khoa truởng Grand Rapids Baptist Seminary.
Ông là tác giả của nhiều sách
nghiên cứu về lịch sử tuyển dân cũng như các sách
giải nghĩa tiên tri. Một
lý do khiến nhiều Cơ-đốc nhân không chú ý đến
việc nghiên cứu các lời tiên tri vì cho rằng các sách
hoặc các phân đoạn tiên tri quá khó giải thích.
Cách sử dụng biểu tượng trong
các phân đoạn này khiến cho những lời tiên tri trở
nên bí hiểm, và việc xác định ý nghĩa rõ ràng gần
như là điều bất khả thi.
Thật ra đây là quan niệm do thành kiến và hiểu
lầm. Những
lời tiên tri Chúa ban trong Kinh Thánh là để chúng ta có
thể hiểu được chứ không nhằm mục đích làm chúng
ta rối trí. Trong
bài giảng từ giã các môn đệ, Chúa Giê-xu đã đưa
ra một lời hứa đặc biệt liên quan đến việc hiểu
lời Kinh Thánh. Sứ
đồ Giăng ký thuật như sau: “Lúc nào Thần Chân Lý
đến thì Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi chân lý; vì
Ngài không nói tự mình nhưng nói mọi điều mình đã
nghe và tỏ bày cho các ngươi những sự
sẽ đến” (Giăng 1.
Nguyên Tắc 1: Hiểu
theo
nghĩa đen Nghiên
cứu văn tiên tri cần hiểu theo
nghĩa đen y như các phân đoạn Kinh thánh khác.
Đức Chúa Trời không viết các
lời tiên tri để dấu chúng ta sứ điệp Ngài muốn
truyền đạt. Chúa
không hề có ý định chỉ dành đặc quyền hiểu lời
tiên tri cho một số Cơ-đốc nhân có những chìa khóa
giải kinh đặc biệt, nhưng Đức Chúa Trời thực sự
muốn truyền đạt lời Ngài cho mọi người.
Điều này có nghĩa là cần nghiên cứu các phân
đoạn tiên tri y như các phân đoạn Kinh Thánh khác,
sử dụng các nguyên tắc giải kinh với ý thức thông
thường và theo nghĩa đen.
Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ
rằng Kinh Thánh được viết bằng nhiều lối văn khác
nhau, với những cách diễn đạt khác nhau, vì thế các
biểu tượng trong Kinh Thánh là điều chúng ta phải đối
diện. Thí
dụ như
trong các Thi Thiên, những hình ảnh biểu tượng
hoặc nhân cách hóa được sử dụng khá nhiều để
diễn đạt xúc động hoặc những kinh nghiệm thuộc
linh: “Người công bình sẽ mọc lên như cây kè,
lớn lên như cây hương nam trên Li-ban.
Những kẻ được trồng trong nhà Đức Giê-hô-va,
sẽ trổ bông trong hành lang của
Đức Chúa Trời chúng ta.
Dầu đến buổi già bạc, họ còn sanh bông trái,
được thạnh mậu và xanh tươi...” (Thi Thiên
92:12-14). Cây
kè và cây hương nam là những hình ảnh biểu tượng nói
đến tính chất tăng trưởng, phát triển mạnh mẽ,
vững chắc của người công chính.
Như vậy, những biểu tượng trên
không có gì là bí hiểm đến độ không thể hiểu
được. Những
hình ảnh đó cần hiểu theo nghĩa
biểu tượng nhưng những biểu tượng này (cây kè, cây
hương nam) thật ra lại là những điều cụ thể. Một
thí dụ khác trong sách Tiên tri Ê-sai 11:1 “Có một
chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó
sẽ ra trái.”
Ở đây “chồi” và “nhánh”
là những thành ngữ hình bóng, nhưng nhân vật mà
thành ngữ này chỉ thị rất thật, cho nên khi giải
kinh theo nghĩa đen thì Chúa Cứu Thế chính là “Chồi”
và “Nhánh” sẽ xuất hiện và Ngài sẽ thực
hiện những điều tiên báo trong
phân đoạn tiên tri đó. Trường
phái thần học phi thiên-hi niên (amillenial), chủ trương
không có một nghìn năm bình an, tuy vẫn chấp nhận
giải kinh theo nghĩa đen, nhưng không
áp dụng nguyên tắc giải kinh này cho các lời tiên
tri. Họ chủ trương
rằng phải giải nghĩa văn tiên tri theo
lối “thuộc linh hóa,” nghĩa là những phân đoạn tiên
tri là những biểu tượng chân lý về hội thánh.
Thí dụ như các phân đoạn tiên tri về Chúa
Cứu Thế cai trị trên Y-sơ-ra-ên
thì đều được giải nghĩa là Chúa cai trị trên Hội
Thánh Ngài. Tất
cả những chỗ nói về việc Chúa cai trị đều diễn
giải là Chúa cai trị một cách thiêng liêng trong tâm
hồn con dân Chúa trong Hội Thánh thay vì cai trị
trên nước Y-sơ-ra-ên
tại Palestine theo như truyền thống các vua thời
Cựu-ước. Lý do
chính trường phái Phi Thiên Hi-Niên giải kinh theo
lối thuộc linh hóa là vì họ cho rằng sự kiện Chúa
Giê-xu sẽ cai trị trên trần gian theo nghĩa đen là vô
lý. Đáp
lại lối suy nghĩ này, chúng ta cần nhận định rằng,
nếu tất cả những lời tiên tri trong Kinh Thánh về
sự kiện Chúa đến lần đầu, nghĩa là biến cố giáng
sinh, sự thương khó và phục sinh đều đã được
hiểu theo nghĩa đen thì tại sao lại phải hiểu những
lời tiên tri về sự tái lâm của Chúa Cứu Thế theo
nghĩa thuộc linh? Một
thí dụ khác có thể thấy trong Lu-ca 1: 30-33, qua đó
thiên sứ Gáp-ri-ên tiên báo rằng Ma-ri sẽ chịu thai và
sanh một trai, đặt tên là Giê-xu và rằng Con Trai đó
trở nên tôn quí và được gọi là Con của Đấng
Rất Cao. Thiên
sứ cũng nói thêm rằng
“Chúa là Đức Chúa Trời, sẽ ban
cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài
sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng.”
Toàn thể lời tiên tri này là một khối, một
đơn vị duy nhất và cần phải hiểu toàn thể theo
một nguyên tắc giải kinh chung.
Nếu sự ra đời của Chúa Giê-xu được hiểu theo
nghĩa đen thì sự trị vì của Ngài cũng phải hiểu
theo nghĩa đen. Tuy nhiên, những người theo
phái phi thiên-hi niên lại hiểu lời tiên tri về sự
giáng sinh Chúa Giê-xu theo nghĩa đen, còn nửa sau về
sự cai trị của Ngài lại hiểu theo nghĩa thuộc linh,
và như vậy đã vi phạm tính cách nhất quán trong nguyên
tắc giải kinh. 2.
Nguyên tắc 2: Cần ý thức về khoảng thời
gian cách quãng (time interval) trong các lời tiên tri. Một
số các đoạn văn tiên tri chỉ về nhiều biến cố tương
lai trong cùng một phân đoạn.
Những biến cố này có thể
xảy ra trong những thời gian khác nhau, nghĩa là có
thể có những khoảng thời gian khá xa phân cách giữa
các biến cố đó mà người nghiên cứu cần ý thức.
Trong những phân đoạn tiên tri đó, nhà
tiên tri đã trước tác trong cái nhìn rất xa viễn
ảnh tương lai, giống như chúng ta nhìn những đỉnh núi
trùng điệp, kéo dài đến cuối chân trời mà không để
ý đến những vùng thung lũng bao la phân cách giữa các
đỉnh núi ấy. Trường
hợp điển hình là những lời tiên tri liên quan đến
các biến cố xảy ra giữa lần đến thứ nhất và
thứ hai của Chúa Cứu Thế Giê-xu.
Một trong những thí dụ tiêu biểu áp dụng nguyên
tắc giải kinh này là trong Ê-sai 61: 1,2
mà Chúa Giê-xu đã đọc trong nhà hội tại làng
Na-xa-rét, được ký thuật trong Lu-ca 4: 16-21. Phần
chính của phân đoạn tiên tri này tiên báo một số phương
diện trong lần đến thứ nhất của Đấng Cứu Thế,
bao gồm cả sự kiện Ngài “được xức dầu để
giảng Tin Mừng cho kẻ khiêm nhường...rịt những kẻ
vỡ lòng...rao cho kẻ cầm tù được tự do...và rao năm
ban ơn của Đức Chúa Trời.” Tuy nhiên, phần sau
của sứ điệp tiên tri này, về phương diện văn
phạm, hoàn toàn tương ứng với phần đầu, nói đến
ngày Chúa Cứu Thế tái lâm để “rao ngày báo thù
của Đức Chúa Trời, đặng yên ủi mọi kẻ
buồn rầu...” Như
vậy, chỉ trong một phân đoạn tiên tri, chúng ta thấy
Chúa đề cập đến hai biến cố cách nhau, ít ra là
gần hai nghìn năm, đó là lần đến thứ nhất mở đầu
kỷ nguyên Cơ-đốc và lần đến thứ hai, tức là ngày
Chúa tái lâm mà chúng ta đang trông đợi.
Chính Chúa Giê-xu đã đọc phân
đoạn Kinh Thánh này và tuyên bố rằng lời Kinh Thánh
đó đã được ứng nghiệm.
Như vậy, khi nghiên cứu các phần tiên tri tương
tự, chúng ta cần để ý đến những khoảng thời gian
phân cách giữa hai hay nhiều biến cố đề cập trong
đó. Nhận định được như vậy sẽ
giúp chúng ta thấy ý nghĩa tiên tri sáng tỏ hơn rất
nhiều và cũng giúp chúng ta tránh được những lầm
lẫn về phương diện giải kinh. 3.
Nguyên tắc 3: Nhận ra tính cách trùng lấp
(double reference) của lời tiên tri. Ngoài
trường hợp một phân đoạn tiên tri có đến hai
thời điểm thành nghiệm khác nhau, như trình bày trong
nguyên tắc trên, đôi khi chúng ta còn thấy cùng một
lời tiên tri có thể chỉ về hai biến cố khác nhau,
nghĩa là biến cố trước ứng nghiệm một phần và
biến cố sau thành nghiệm một phần khác của lời tiên
tri. Khoảng
cách giữa hai biến cố này có thể khá xa hàng chục
hoặc hàng trăm năm. Trường hợp này liên quan đến
một qui luật giải kinh được gọi là qui
luật về tính cách trùng lấp của lời tiên tri. Chúng
ta có thể thấy một thí dụ tiêu biểu trong Ê-sai
7:14-16 như sau: “Vậy nên chính Chúa sẽ ban một điềm
cho các ngươi: nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai,
sanh ra một trai và đặt tên là Em-ma-nu-ên.
Con trẻ ấy sẽ ăn mỡ sữa và mật cho đến
chừng nào biết bỏ điều dữ và chọn điều lành.
Vả, trước khi con trẻ biết
bỏ điều dữ và chọn điều lành thì nước của hai
vua mà ngươi đương ghét sẽ bị bỏ hoang.”
Đây là lời Chúa
báo trước cho A-cha rằng Ngài sẽ giải
cứu Giê-ru-sa-lem khỏi tay vua Y-sơ-ra-ên và vua Sy-ri.
Dấu hiệu là một hài nhi
sẽ ra đời và trước khi nó biết phân biệt thiện ác
thì sự giải phóng đã hoàn tất.
Lời tiên báo này đã thành nghiệm trong đời vua
A-cha khi con trai của Ê-sai là Ma-he-sa-la-hát-bát ra đời
(Ê-sai 8:1-4 s/s II Vua 16:5). Tuy
nhiên lời tiên tri đó mới chỉ ứng nghiệm một
phần, vì còn những chi tiết quan trọng khác nữa, đó
là con trẻ được tiên báo trong Ê-sai Câu
Hỏi Ôn Cho chương 1
(TC
181, 182, 183, 184) 1.
Cơ-đốc nhân cần có thái độ nào đối với việc
nghiên cứu các lời tiên tri? 2.
Sau khi nghiên cứu các lời tiên tri đã ứng nghiệm,
việc tìm hiểu các lời tiên tri chưa ứng nghiệm có
đem lại ích lợi nào không? 3.
Liệt kê tên ba thành phố cổ đã sụp đổ dựa vào các
lời tiên tri trong Cựu Ước. 4.
Trình bày vắn tắt năm điều lợi ích khi nghiên cứu
các lời tiên tri. 5.
Cơ-đốc nhân cần có thái độ nào đối với các
thời triệu về ngày tận thế? 6.
Xin nêu lên một số các dấu hiệu tổng quát về ngày
tận thế được Chúa Giê-xu tiên báo 7.
Tình trạng bội đạo hiện tại là dấu hiệu rõ ràng
về ngày tận thế ở phương diện nào? 8.
Đâu là dấu hiệu rõ nhất về tính cách cận kề,
cấp bách của ngày Chúa Cứu Thế trở lại? 9.
Phong trào Si-ôn hiện đại khởi sự từ khi nào? 10.
Chiến dịch của Đại tướng Allenby trong thế chiến
thứ nhất có ý nghĩa gì đối với phong trào Si-ôn? 11.
Sau chiến thắng tại 12.
Quyết định của Liên Hiệp Quốc đối với vùng 13.
Y-sơ-ra-ên đã chiếm thêm được bao nhiêu đất đai
nữa sau chiến thắng năm 1948? Và sau
chiến thắng năm 1967? 14.
Tại sao người khảo học các lời tiên tri trong Kinh Thánh
tin rằng mình có thể hiểu được các lời tiên tri đó? 15.
Thế nào là giải nghĩa tiên tri theo
nghĩa đen? 16.
Thế nào là giải nghĩa tiên tri theo
lối “thuộc linh hóa”? 17.
Nguyên tắc giải nghĩa Ê-sai 61:1,2
là nguyên tắc gì? 18.
Xin giải thích tính cách trùng lấp trong lời tiên tri. (Còn
tiếp) Hà
Huy Việt biên dịch |
|
|
|