Hội Thánh Tin Lành Việt Nam - Giáo Hạt Việt Nam Hoa Kỳ

Phụ Nữ  Trong Kinh Thánh

 

 

   

 

     

 

 

 

   

A-GA

(Bài 1)

Qua trang Phụ Nữ Trong Kinh Thánh trong thời gian qua chúng tôi đã trình bày về một số các phụ nữ được Kinh Thánh nói đến.  Ước mong rằng những điều chúng tôi trình bày giúp quý vị biết về đời sống và đức tin một số phụ nữ trong Cựu Ước cũng như Tân Ước, hầu chúng ta có thể học theo gương sáng đồng thời tránh những lỗi lầm của họ. Như lời sứ đồ Phao-lô viết: Mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy (Rô-ma 15:4).

Hôm nay chúng tôi sẽ trình bày về một phụ nữ ngoại Do Thái được nhắc đến trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, đó là bà A-ga.  Tên bà A-ga được nhắc đến trong Sáng thế Ký chương 16, 21, 25 và trong thư Ga-la-ti chương 4.

Ý nghĩa tên A-ga

Tuy A-ga là một cô gái Ai cập, nhưng “A-ga” hay “Hagar” là tên Do Thái chứ không phải tên Ai-cập như một số người thường nghĩ.  Tên A-ga phát xuất từ một chữ có nghĩa là trốn hay bỏ chạy.  Người ta tin rằng nàng A-ga được chủ Áp-ra-ham đặt tên này cho thích hợp với hoàn cảnh của ông lúc đó, cũng thích hợp với hoàn cảnh của A-ga, vì “Hagar” hay “A-ga” có nghĩa là chạy trốn hay di dân. Đúng như tên gọi, A-ga là một thiếu nữ Ai-cập nhưng làm nô lệ cho một gia đình Do Thái, từ Ai cập về sống trong vùng Ca-na-an.

 

Nguồn gốc gia đình

Kinh Thánh không ghi một chi tiết nào về gia đình hay cha mẹ của A-ga vì thế chúng ta không biết nguồn gốc của bà.  Câu Kinh Thánh duy nhất nói về nguồn gốc của A-ga là Sáng thế ký 16:1 “Sa-rai, vợ của Áp-ram, … có một con đòi Ê-díp-tô, tên là A-ga.” Qua câu này, điều duy nhất chúng ta biết về A-ga là nàng là một thiếu nữ Ai-cập, làm nô lệ trong gia đình Áp-ra-ham.  Các nhà giải nghĩa Kinh Thánh đoán rằng có lẽ Áp-ra-ham đã mua nàng A-ga khi gia đình ông xuống Ai-cập tránh nạn đói, như ghi trong Sáng thế ký chương 12:10 “Bấy giờ, trong xứ bị cơn đói kém; sự đói kém ấy lớn nên Áp-ram xuống xứ Ê-díp-tô mà kiều ngụ.” Áp-ram mua A-ga để làm nàng hầu riêng cho Sa-rai, vợ ông. 

 

Quan hệ giữa A-ga và gia đình Áp-ra-ham

Nàng A-ga sở dĩ có một vị trí đặc biệt trong Kinh Thánh vì, do sự tính toán và sắp xếp của Sa-ra, nàng đã sinh cho Áp-ra-ham một con trai.  Đứa con đó tên Ích-ma-ên, là ông tổ của dân Ích-ma-ên, tức là người Ả-rập ngày nay.

Sáng thế ký chương 16 ghi về sự việc này như sau:  Vả, Sa-rai, vợ của Áp-ram vẫn không sinh con.  Nàng có một con đòi Ê-díp-tô, tên là A-ga.  Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng:  Nầy, Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ, vậy xin ông hãy lại ăn ở cùng con đòi tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con chăng.  Áp-ram bèn nghe theo lời của Sa-rai (c.1-2).  Dù lời đề nghị của bà Sa-rai phù hợp với phong tục của người trong vùng và đúng với luật nô lệ của Cựu Ước, đề nghị đó nói lên lòng thiếu đức tin và thiếu kiên trì của ông bà Áp-ra-ham. Chính vì thế, từ khi Áp-ra-ham nghe theo lời đề nghị của vợ, cuộc đời của A-ga cũng như đời sống gia đình Áp-ra-ham đã thay đổi, đầy dẫy xung đột, bất hòa và khó khăn.

Theo Sáng thế ký chương 12, khi Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, ra khỏi quê hương đi đến vùng đất Chúa hứa ban thì ông đã bảy mươi lăm tuổi mà vẫn chưa có con.  Một trong những lời Chúa hứa với ông lúc đó là Ngài sẽ làm cho con cháu ông nên một dân lớn.  Một ngày kia Áp-ra-ham hỏi Chúa sẽ cho ông điều gì, vì ông sẽ chết mà không có con nối dõi.  Chúa hứa Ngài sẽ cho ông có con, từ trong gan ruột của ông mà ra, và con cháu của ông sẽ đông như sao trên trời.  Áp-ra-ham tin lời hứa của Chúa và được kể là công bình. 

Sáng 15:1-6 ghi lại chi tiết này như sau:  Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi Áp-ram, ngươi chớ sợ chi, ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn. Áp-ram thưa rằng: Lạy Chúa Giê-hô-va, Chúa sẽ cho tôi chi? Tôi sẽ chết không con, kẻ nối nghiệp nhà tôi là Ê-li-ê-se, người Đa-mách. Áp-ram lại nói rằng: Nầy, Chúa làm cho tôi tuyệt tự, một kẻ tôi tớ sanh đẻ tại nhà tôi sẽ làm người kế nghiệp tôi. Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Áp-ram rằng: Kẻ đó chẳng phải là kẻ kế nghiệp ngươi đâu, nhưng ai ở trong gan ruột ngươi ra, sẽ là người kế nghiệp ngươi. Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy. Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người” (Sáng thế ký 15:1-6)

Tuy nhiên, từ đó vợ chồng ông Áp-ra-ham chờ đợi mãi mà không thấy lời hứa của Chúa được thành.  Mười năm đã qua, kể từ ngày Đức Chúa Trời gọi Áp-ra-ham theo Ngài.  Bây giờ Áp-ra-ham đã 85 còn Sa-ra khoảng 76.  Bà Sa-ra thấy mình đã quá già, không thể sinh con được nữa, vì thế bà nghĩ đứa con mà Chúa hứa có lẽ sẽ do một người khác sinh ra.  Theo sự suy tính của Sa-ra cũng như theo phong tục và luật lệ thời đó, người có thể sinh con thế cho Sa-ra, để Áp-ra-ham có con nối dõi, là nàng hầu A-ga.  Theo luật về nô lệ thời đó, người chủ có quyền bắt nô lệ sinh con thế cho mình, và con của nô lệ sinh ra trong nhà chủ được kể là con của chủ (Xuất Ê-díp-tô ký 21:3-4). 

Kinh Thánh ghi: “Sau khi Áp-ram đã trú ngụ mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ người, bắt A-ga là con đòi Ê-díp-tô mình, đưa cho chồng làm hầu.  Người đi lại cùng con đòi thì nàng thọ thai” (Sáng 16:3-4). 

 

Quan hệ giữa A-ga và Sa-ra

Khi thấy A-ga có thai có lẽ Sa-ra vui mừng vì mưu tính của bà đã thành công.  Đứa con mà A-ga sinh ra sẽ là con của bà, và đó sẽ là con kế tự của Áp-ra-ham vì từ ruột gan Áp-ra-ham mà ra.  Nhưng sự việc không đơn giản như bà Sa-ra nghĩ.  Kinh Thánh cho biết, khi A-ga thấy mình có thai thì thay đổi thái độ đối với chủ là Sa-ra.  A-ga bắt đầu tỏ vẻ khinh thường Sa-ra và lên mặt kiêu ngạo vì nàng nghĩ mình hơn Sa-ra, nàng sẽ sinh con cho chủ.  Sa-ra bị tổn thương và trở thành cay đắng, thù ghét A-ga.  Cuối cùng, bà phàn nàn và đổ lỗi cho chồng chỉ vì ông đã làm theo lời đề nghị của bà. 

Thật ra, tất cả mưu đồ này là một lỗi lầm lớn trước mặt Đức Chúa Trời mà vợ chồng Áp-ra-ham phải chấp nhận hậu quả.  Sa-ra vì thiếu kiên nhẫn, không chờ đợi lời hứa của Chúa được thành, nên đã đi trước chương trình và thời điểm của Ngài.  Bà đã thiếu suy nghĩ chín chắn khi sắp đặt cho nàng hầu Ai-cập, là một nô lệ ngoại bang, sinh ra đứa con kế tự mà Chúa hứa ban cho ông bà.  Còn Áp-ra-ham, là người được Chúa phán hứa trực tiếp, đáng lẽ phải ngăn cản ý định của vợ, nhưng trái lại, ông nghe theo lời vợ và khiến gia đình gặp nan đề.  Tội nghiệp A-ga, là nô lệ nên phải vâng lời chủ và trở thành nạn nhân trong mưu đồ này.  Sáng thế ký 16:4-5 ghi:  “Khi con đòi thấy mình thọ thai thì khinh bỉ bà chủ mình.  Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng:  Điều sỉ nhục mà tôi bị đây đổ lại trên ông.  Tôi đã phú con đòi tôi vào lòng ông mà từ khi nó thấy mình thọ thai thì lại khinh tôi.  Cầu Đức Giê-hô-va xét đoán giữa tôi với ông.”  Tất cả sự việc này là ý của Sa-ra nhưng khi A-ga tỏ vẻ khinh miệt Sa-ra, bà đổ lỗi cho chồng và cầu xin Chúa xét lẽ công bình cho bà. 

Một tác giả nọ viết về bà Sa-ra như sau:  “Lòng thiếu đức tin của Sa-ra đã ‘lây’ sang Áp-ra-ham và ông đã nghe lời vợ.  Bây giờ, gặp điều không vừa ý, bà kêu cầu đến Chúa.  Đáng lẽ Sa-ra phải nghĩ đến Chúa và cầu hỏi Ngài trước khi quyết định.  Bà Sa-ra là người kính sợ Chúa, nhưng vì thiếu lòng tin bà đã vấp ngã.  Khi sự việc không được như mình mong muốn, bà Sa-ra đã đổ lỗi cho chồng, ganh ghét A-ga và hành hạ nàng đến nỗi nàng phải đi trốn.  Trước lời than phiền của Sa-ra, Áp-ra-ham nói:  “Nầy con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử thế nào mặc ý ngươi cho vừa dạ.”  Lỗi lầm của Sa-ra đã sinh ra những kết quả cay đắng cho chính bà.  Không những thế, khi Sa-ra đưa nàng hầu ngoại bang đến cho chồng, bà đã làm một lầm lỗi lớn lao, đó là bà đã giúp tạo nên một nhóm dân thù nghịch với con cháu thật của Áp-ra-ham.  Mối thù giữa người Do Thái và người Ả-rập, tức là giữa con cháu Y-sác và con cháu Ích-ma-ên đã kéo dài qua bao nhiêu thời đại, bao nhiêu thế kỷ.  Mối thù đó vẫn còn cho đến ngày hôm nay, và biết bao nhiêu mạng sống đã bị tiêu diệt chỉ vì mối thù nghịch giữa hai dòng giống này”

Về nàng A-ga, chúng ta ghi nhận những điều sau:  Khi A-ga được nâng từ địa vị nô lệ đến địa vị làm vợ thứ, nhất là khi thấy mình có thai, là điều hơn hẳn bà chủ, A-ga đã kiêu ngạo và khinh thường Sa-ra.  Đây là lỗi lầm của A-ga, nàng không biết thân phận của mình nhưng lại lên mình kiêu ngạo.  Thái độ hợm hĩnh và kiêu ngạo của A-ga là nỗi nhục nhã, đau đớn cho Sa-ra.  Vua A-gu-rơ ngày xưa viết về nan đề này như sau:  “Có ba vật làm cho trái đất rúng động, và bốn điều nó chẳng chịu nổi được:  Là tôi tớ khi được tức vị vua, kẻ ngu muội khi được no nê đồ ăn; người đàn bà đáng ghét khi lấy chồng, và con đòi khi kế nghiệp bà chủ” (Châm Ngôn 30:21-23). 

Khi biết mình sẽ sinh con cho Áp-ra-ham có lẽ A-ga nghĩ rằng nàng sẽ kế nghiệp bà chủ nên đã lên mình kiêu ngạo.  Sa-ra không chịu được thái độ đó nên phàn nàn với Áp-ra-ham và xin ông phân xử.  Một lần nữa, Áp-ra-ham không làm chủ gia đình, không quyết định theo khôn ngoan của mình nhưng chỉ chiều theo ý vợ.  Ông nói thật tàn nhẫn:  “Nầy, con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử thế nào mặc ý ngươi, cho vừa dạ.”  Được phép của Áp-ra-ham, “Sa-rai hành hạ A-ga thì nàng trốn đi khỏi mặt người” (Sáng thế ký 16:6).  Sự kiện Sa-ra ganh ghét và hành hạ A-ga không những tàn ác nhưng cũng thật là vô lý và bất nhân.  Tất cả mọi việc đều do mưu tính của Sa-ra mà ra, nhưng khi bị A-ga xem thường, bà đã buồn tủi, tức giận, ganh tị và từ đó đưa đến ganh ghét. 

Khi một người vì một lý do gì, có ác cảm hay ganh tị với một người khác, thì người kia làm gì cũng thấy dễ ghét và không chấp nhận được.  A-ga hãnh diện khi thấy mình có thể sinh cho ông bà chủ một đứa con nối dõi, nhưng sự hãnh diện của A-ga nhắc cho Sa-ra nhớ đến thất bại của chính bà, và vì thế bà không muốn nhìn mặt A-ga nữa.  Có lẽ Sa-ra đã hành hạ A-ga bằng cách bắt nàng làm việc nặng nhọc và mắng chửi nặng lời.  A-ga biết mình ở trong vị thế thấp kém, không ai bênh vực, nên đã phải chạy trốn trong đồng vắng, dù lúc đó nàng đang có thai, cần được chăm sóc (còn tiếp).

Minh Nguyên